ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ðẶNG THANH TUẤN
NGUYÊN TẮC BẢO ðẢM QUYỀN ðƯỢC BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ,
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI BỊ OAN TRONG LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ðỀ LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành : Luật Hình Sự
Mã số
: 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
QUYỀN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ,
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI BỊ OAN ......................................................................6
1.1. Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường
thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan ......................... 6
1.1.1. Khái niệm oan, sai trong luật tố tụng hình sự Việt Nam .......... 6
1.1.2. Căn cứ pháp lý xác định một công dân bị oan........................ 14
1.1.3. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường
thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan .... 19
2.2.2. Những tồn tại, vướng mắc cơ bản trong việc thực hiện
Nghị quyết 388 và nguyên nhân ............................................ 56
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc .......................... 71
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ, QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI BỊ OAN ...................76
3.1. Một số định hướng nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc
bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền
lợi của người bị oan ....................................................................................... 76
3.1.1. Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan ........................... 76
3.1.2. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực bồi thường cho
những người bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền
trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra .................................. 77
3.1.3. Tổ chức tốt việc rà soát xác định các trường hợp được bồi
thường, thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, việc công khai xin
lỗi, việc thương lượng và chi trả tiền cho đương sự. ............. 79
3.1.4. Công khai các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm
quyền tố tụng đã có hiệu lực pháp luật .................................. 80
3.2. Một số kiến nghị cụ thể trong việc xây dựng các văn bản
hướng dẫn Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước liên quan tới
lĩnh vực bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của
người bị oan ................................................................................................... 81
3.2.1. Về căn cứ xác định một người bị oan ..................................... 81
3.2.2. Về việc xác định thiệt hại và mức bồi thường ........................ 85
3.2.3. Về việc khôi phục danh dự cho người bị oan ......................... 87
3.2.4. Về thủ tục thương lượng ......................................................... 88
- Công an nhân dân:
CAND
- Cấu thành tội phạm:
CTTP
- Nghị quyết:
NQ
- Pháp luật Việt Nam:
PLVN
- Tòa án nhân dân:
TAND
- Tòa án nhân dân tối cao:
TANDTC
- Tố tụng dân sự:
TTDS
- Tố tụng hình sự:
ra dư luận xấu trong xã hội. Với mục tiêu bảo đảm quyền con người, quyền tự
do thân thể, quyền tự do dân chủ và các quyền cơ bản khác của công dân, Bộ
luật Tố tụng hình sự 2003 Việt Nam đã quy định tại Điều 29 “Người bị oan
do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền
được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. Cơ quan có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và
phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách
nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” tạo
cơ sở pháp lý rõ ràng cho nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt
hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan do người có thẩm quyền
trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn về
cả lý luận và thực tiễn, đảm bảo cho việc xác định trách nhiệm của nhà nước
trong mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và công dân, một trong những nội
dung quan trọng của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công
dân vi phạm pháp luật thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, Nhà nước có
quyền truy cứu, xử lý và ngược lại Nhà nước vi phạm mà cụ thể ở đây là
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được nhà nước trao quyền đã vi phạm
pháp luật, xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì trước hết
nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người có thẩm quyền tố tụng gây ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng và
1
hiệu quả của công tác khởi tố điều tra, xét xử và thi hành án hình sự. Việc cụ
thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh
dự, quyền lợi của người bị oan trong hệ thống pháp luật nước ta sẽ tăng cường
dân chủ hóa trong hoạt động tố tụng hình sự, góp phần bảo vệ quyền con
người và bảo đảm nguyên tắc mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật về
quyền và nghĩa vụ, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội, góp phần xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó việc nghiên
Khi nghiên cứu đề tài: “Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường
thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, tác giả tập trung
vào việc giải quyết các vấn đề sau:
- Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi
thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan do người có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra và chỉ ra các cơ sở pháp lý
của nguyên tắc này trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành.
- Phân tích và đánh giá thực trạng của nguyên tắc bảo đảm quyền được
bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan do người
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, trên cơ sở nghiên cứu
các quy định pháp luật trong NQ 388 và Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước và một số tình huống điển hình.
- Chỉ ra những hạn chế, thiếu sót và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi
danh dự, quyền lợi của người bị oan
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu nội dung, ý nghĩa và
cơ sở pháp lý của nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và
3
phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan do người có thẩm quyền trong
hoạt động tố tụng hình sự gây ra và tình hình thực hiện nguyên tắc này trong
thời gian qua trên cơ sở các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước, Nghị quyết 388 và các văn bản hướng dẫn thi hành hai văn bản nêu trên.
5. Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, cho nên trong luận văn
này, tác giả vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Bên cạnh
những phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp duy vật biện
thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan. Do đó, luận văn sẽ là
tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp trong việc xây dựng và ban hành các
văn bản hướng dân thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2010.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nguyên tắc bảo đảm quyền được
bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan
Chương 2: Thực trạng nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt
hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc bảo
đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của
người bị oan
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN
ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ,
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI BỊ OAN
1.1. Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt
hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan
1.1.1. Khái niệm oan, sai trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Theo Đại từ điển Tiếng việt (Nguyễn Như Ý (chủ biên), NXB Văn hoá
thông tin, Hà Nội, năm 1998, trang 1269.) oan có nghĩa là “bị quy tội không
đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý”. Trên cơ sở này, khái
niệm “oan” trong tố tụng hình sự (TTHS) gồm những nội dung sau: Thứ nhất,
công dân bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố
tụng (CQTHTT) ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trả tự do vì hết thời hạn
tạm giam, tạm giữ mà không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi
CQTHTT và người tiến hành tố tụng không được phép đồng nhất hai khái
niệm này với nhau, vì họ là những chủ thể tiêu biểu mang trong mình yếu tố
văn hoá pháp lý của một quốc gia [29].
Pháp luật các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và ở một chừng mực
nhất định quy định các nội dung “oan” trong TTHS. Tại Trung Quốc, các
trường hợp sau được coi là oan: (I) Người bị tình nghi phạm tội bị bắt giữ
nhưng chưa có dấu hiệu thực tế hoặc chưa có những chứng cứ thực tế là phạm
tội; (II) Người chưa thực sự phạm tội nhưng đã bị giam giữ; (III) Người đã
chấp hành hình phạt mà Toà án đã tuyên nhưng sau đó được xét xử lại theo
trình tự kiểm tra, giám sát xét xử là vô tội. Theo Bộ luật Hình sự Cộng hoà
Liên bang Nga, thì các trường hợp sau được coi là oan: (I) Một người rõ ràng
là không có tội nhưng đã bị người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình
7
sự; (II) Một người bị tình nghi phạm tội hoặc bị tố cáo là đã thực hiện hành vi
phạm tội bị Kiểm sát viên hoặc người tiến hành điều tra sơ bộ truy cứu trách
nhiệm hình sự trái pháp luật; (III) Một người bị bắt giữ trái pháp luật. Nhìn
chung, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không đưa ra một
khái niệm chung về “oan” trong TTHS, chỉ nêu các trường hợp cụ thể được
coi là oan. Theo tác giả đây là một cách tiếp cận hợp lý, vì việc thừa nhận
trường hợp nào được coi là oan liên quan đến cả vấn đề bồi thường thiệt hại,
nên tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi nước, ở
mỗi thời kỳ nhất định mà pháp luật quy định cụ thể các trường hợp được coi
là oan, từ đó đưa ra một cơ chế minh oan mang tính khả thi.
Xuất phát từ nhận thức trên, căn cứ vào đặc điểm của từng thời kỳ,
pháp luật Việt Nam có những văn bản quy định khác nhau về các trường hợp
bị oan, cụ thể:
Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11, Điều 1 đưa ra năm trường
hợp được bồi thường thiệt hại, bao gồm: (I) người bị tạm giữ có quyết định
phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Người phạm tội được
miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá”. Ngoài quy định này, Bộ
luật hình sự còn có một số quy định khác về miễn trách nhiệm hình sự “người
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm về tội định
phạm” (Điều 19); “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách
nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng,
gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ
quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục” (khoản 2 Điều 69).
Hai là, người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với quy định của BLHS
năm 1985, nhưng nay theo quy định của BLHS năm 1999 thì không phải chịu
trách nhiệm hình sự.
9
Ba là, những người thuộc trường hợp quy định tại Điều 1 của Nghị
quyết 388 mà cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác
sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm, thì
không được bồi thường thiệt hại.
Bốn là, những người thuộc các trường hợp quy định tại Điều 1 của
Nghị quyết này mà bị tổn hại về sức khoẻ, tính mạng, tài sản do lỗi của chính
mình hoặc do sự kiện bất khả kháng thì không được bồi thường thiệt hại đó.
Để hướng dẫn thi hành Nghị quyết 388, tiểu mục 1 Thông tư 04 đã bổ
sung thêm 3 trường hợp được bồi thường, đó là: (I) Người bị khởi tố, truy tố,
xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau
đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng
hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của
những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì
được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành
hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải
định pháp y là tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi
phạm tội người đó không có năng lực trách nhiệm hình sự; (iv) Người bị khởi
tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, hoặc tòa án quyết định
tổng hợp hình phạt của nhiêu bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp
hành hình phạt tù, hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có
bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình
sự xác định người đó bị oan về một hoặc một số tội mà không thuộc trường
hợp quy định tại tiểu mục 1.4; 1.5; 1.6 mục 1 phần này thì không được bồi
thường; (v) Đối với những người bị oan đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền áp dụng các quy định của pháp luật tại thời điểm giải quyết bồi thường
để bồi thường thiệt hại từ trước ngày Nghị quyết 388 có hiệu lực, thì không áp
dụng Nghị quyết này để giải quyết bồi thường lại.
11
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Nghị quyết số 388 và các văn bản
hướng dẫn, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010 đã mở rộng
thêm các trường hợp được bồi thường và thu hẹp các trường hợp không được
bồi thường so với các văn bản đó, cụ thể:
Điều 26 đưa ra bảy trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố
tụng hình sự, bao gồm: (I) người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì
người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; (II) người bị tạm giam,
người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù
chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có
bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình
sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; (III) người bị khởi tố,
truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù
có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt
động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
che giấu tội phạm; (III) người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong
cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án,
đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử
hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm
một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các
khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này; (iv) người bị khởi tố, truy tố trong vụ
án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được
đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi
phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm; (v) người bị khởi tố, truy tố,
xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy
tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà
theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau
ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
13
Như vậy, so với Nghị quyết số 388 và các văn bản hướng dẫn, Luật
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010 đã bổ sung thêm 2 trường
hợp được bồi thường, đó là: (I) Người đã thi hành án tử hình mà có bản án,
quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác
định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; (II) Người bị thi hành án
không phải là hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực
hiện hành vi phạm tội
Ngoài ra Luật còn thu hẹp đối tượng không được bồi thường bằng việc
bỏ các quy định không cần thiết, cụ thể là các quy định sau: (I) người bị xử lý
về hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày
27 tháng 6 năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung theo các luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12
giải thích của Toà án nhân dân tối cao về việc Toà án nhân dân thực hiện Luật
Nhà nước bồi thường thiệt hại thì căn cứ xác định oan chính là phán quyết của
Toà án tuyên bị cáo vô tội. Theo quy định của pháp luật Nhật Bản thì căn cứ
pháp lý xác định một người bị oan là quyết định của Toà án tuyên vô tội theo
thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm hoặc thủ tục kháng án đặc biệt. Tại Thuỵ Điển,
căn cứ pháp lý xác định một người bị oan là quyết định của cơ quan có thẩm
quyền xác định một người bị tạm giữ, tạm giam oan quá 24 giờ hoặc quyết
định của Toà án tuyên vô tội.
Khác với pháp luật của một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam
thừa nhận một người bị oan trong mọi giai đoạn TTHS. Đây là điểm ưu việt
của pháp luật nước ta, có như vậy thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
oan mới được bảo vệ một cách triệt để [30, trang 4]. Căn cứ pháp lý để xác
định một người bị oan được quy định cụ thể tại Điều 6 khoản 2 Luật trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010, đó là: “Có bản án, quyết định của
15
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định
người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26
của Luật này”; Đây là điểm mới của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước năm 2010 so với Nghị quyết 388 và các văn bản hướng dẫn vì các văn
bản này không quy định trực tiếp căn cứ pháp lý xác định một người bị oan,
theo đó căn cứ pháp lý xác định một người bị oan là một trong các quyết định
sau: Quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra; Quyết định đình chỉ vụ
án của Viện kiểm sát nhân dân; Bản án, Quyết định của Toà án tuyên bị cáo,
người bị kết án không có tội theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm hoặc quyết định của Toà án giảm nhẹ hình phạt một cách đáng kể
hay áp dụng điều khoản về tội danh nhẹ hơn.
Quyết định đình chỉ điều tra: Đình chỉ điều tra là việc cơ quan điều
tra chấm dứt toàn bộ hoạt động điều tra đối với vụ án cũng như đối với bị can
ở giai đoạn truy tố. Theo quy định của Điều 169 của BLTTHS thì Viện kiểm
sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại
khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và
khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự. Vẫn theo phân tích ở phần trên, thì
quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát được ban hành vì lý do hành vi
không cấu thành tội phạm mới được coi là quyết định mang tính minh oan.
Khoản 1, Điều 107 quy định Viện kiểm sát có quyền ra quyết định đình chỉ vụ
án nếu không có sự việc phạm tội - tức là không có hành vi nguy hiểm cho xã
hội được thực hiện. Trong thực tiễn và khoa học pháp lý thì “không có sự việc
phạm tội” và “người bị buộc tội không thực hiện hành vi phạm tội” là hai khái
niệm hoàn toàn khác nhau, vì có trường hợp kẻ phạm tội đã “được” CQTHTT
bỏ lọt và thay vào đó là người không thực hiện hành vi phạm tội lại bị truy
cứu TNHS. Và như vậy, trong trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân sẽ xử
lý như thế nào đối với người không có hành vi phạm tội? Đình chỉ vụ án thì
17
không thể được vì đã có sự việc phạm tội, có lẽ hợp lý nhất là Viện kiểm sát
tự mình hoặc yêu cầu cơ quan điều tra huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị
can và coi quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn là quyết định mang tính
minh oan.
Bản án của Toà án xác định bị cáo, người bị kết án không có tội: Bị
cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. Người bị kết án là người
đã bị xét xử và đã bị Toà án có thẩm quyền tuyên bản án có hiệu lực pháp
luật. Chỉ Toà án mới có quyền phán quyết một người có tội hay không có tội.
Việc xét xử của Toà án có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thông
thường, một vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm là bắt buộc còn xét xử
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì tuỳ thuộc vào các kháng cáo, kháng
nghị theo thẩm quyền luật định. Theo Khoản 3, Điều 244 của BLTTHS 2003
thì nếu có đủ chứng cứ xác định bị cáo không phạm tội thì Toà án phải ghi rõ
danh nhẹ hơn cũng phải được coi là quyết định mang tính minh oan. Tuy
nhiên, trong thực tiễn để xác định được tội danh nhẹ hơn, nặng hơn thì ta phải
dựa vào năm căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây: (I) Căn cứ vào loại hình phạt
đối với mỗi tội phạm để xem xét về tội phạm đưa ra phân biệt có cùng hay
khác loại. (II) Nếu các tội có cùng loại hình phạt thì xem xét mức tối đa của
khung hình phạt nặng nhất. (III) Nếu các tội phạm có cùng loại hình phạt, có
mức tối đa bằng nhau thì phải xét mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất.
(iv) Nếu các tội phạm đều có hình phạt chính nặng nhất như nhau thì phải
xem xét hình phạt chính khác nhẹ hơn. (v) Nếu hình phạt chính và mức hình
phạt như nhau, thì phải xem xét quy định về hình phạt bổ sung.
1.1.3. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt
hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan
Tố tụng hình sự thực chất là mối quan hệ quyền lực, trong đó bên có
quyền lực áp dụng các biện pháp cưỡng chế là Nhà nước mà đại diện là các
19
cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bên còn lại
là người bị tình nghi, người bị giam giữ, bị can, bị cáo. Trong quá trình giải
quyết vụ án, người bị tình nghi, người bị giam giữ, bị can, bị cáo có thể bị áp
dụng các biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng tới các quyền công dân, đặc biệt là
các quyền cơ bản được quy định trong Hiến pháp như: quyền tự do thân thể,
quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm,
quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín, điện
báo và hoàn toàn khó có khả năng bình đẳng với bên buộc tội trong việc
chứng minh, thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ. Họ không dễ dàng gì
trong việc sử dụng quyền tiếp cận công lý như thuê luật sư bào chữa, tìm hiểu
các quy định của pháp luật, thủ tục tố tụng, v.v...; vì những lý do về vật chất
và hiểu biết pháp luật, v.v... Trong mối quan hệ đó, khả năng lạm dụng quyền
lực là hiện thực và đối tượng gánh chịu không ai khác ngoài họ. Đó là một