Dạy học tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử từ hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo : Luận văn ThS. Lí luận và phương pháp dạy học ( bộ môn Ngữ văn) : 60 14 10 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THỦY ANH

DẠY HỌC BÀI THƠ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ”
CỦA HÀN MẶC TỬ TỪ HƢỚNG TIẾP CẬN
LỊCH SỬ PHÁT SINH VÀ TÂM LÍ HỌC SÁNG TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2013
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THỦY ANH

DẠY HỌC BÀI THƠ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ”
CỦA HÀN MẶC TỬ TỪ HƢỚNG TIẾP CẬN
LỊCH SỬ PHÁT SINH VÀ TÂM LÍ HỌC SÁNG TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 601410

Cán bộ hƣớng dẫn: PGS.TS Trần Khánh Thành



8

1.1.

Hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo trong
nghiên cứu văn học

8

1.2.

Thực trạng dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” trong nhà trường
phổ thông hiện nay

16

Chƣơng 2. Những yếu tố lịch sử phát sinh và tâm lí sáng tạo cần khai
thác trong dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”

22

2.1.

Những yếu tố ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của Hàn Mặc
Tử trong bài thơ

22

2.2.


3.2.

Chọn địa điểm thực nghiệm, lớp thực nghiệm, lớp đối chứng

89

3.3.

Tổng hợp và phân tích kết quả thực nghiệm

89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

92

TÀI LIỆU THAM KHẢO

95

4


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong bối cảnh của thời đại công nghệ với sự phát triển như vũ bão của văn
hóa nghe nhìn hiện nay đã ảnh hưởng ít nhiều đến văn hóa đọc của giới trẻ. Văn
học trong nhà trường cũng không là một ngoại lệ. Vì vậy để mỗi tác phẩm văn
chương trong nhà trường luôn sống động với các chức năng vốn có của văn học, là

Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử từ hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng
tạo”, chúng tôi mong muốn triển khai một cách cụ thể hơn một hướng khám phá
còn tương đối mới cho tác phẩm, để học sinh có cái nhìn sâu sắc và trọn vẹn hơn
bài thơ đẹp đến nao lòng này.
2. Lịch sử vấn đề
Di sản Hàn Mặc Tử trở thành nguồn tìm hiểu và nghiên cứu chưa bao giờ
vơi cạn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu quy mô về thi nghiệp, thi pháp thơ Hàn
Mặc Tử, mối quan hệ qua lại giữa cuộc đời và sự nghiệp của nguồn thơ đau thương
lạ lùng này đến những bài tìm hiểu về từng tác phẩm thơ Hàn Mặc Tử của những
tác giả cùng thời đến hiện nay.
Nghiên cứu về Hàn Mặc Tử, cần phải nhắc đến những tên tuổi như Võ Long
Tê, Lê Tuyên, Nguyễn Xuân Hoàng, Đặng Tiến, Thế Phong, Thái Văn Kiểm, Huy
Trâm, Châu Hải Kỳ, Lê Đình Bảng, Nguyễn Mộng Giác, Hoài Thanh, Hoài Chân
(viết về Hàn Mặc Tử và phong trào Thơ mới), Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Phan Cự
Đệ, Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Phan, Bùi Xuân Bào, Phạm Đán Bình, Phạm Xuân
Sanh, ...
Quãng những năm 1950 có các bài viết của Bửu Đình Ái Mỹ (Kỉ niệm Hàn
Mặc Tử), Nguyễn Thị Như Lễ (Những điểm sai lầm về Hàn Mặc Tử). Trong những
tư liệu hồi ức về Hàn Mặc Tử, quan trọng phải kể đến Đôi nét về Hàn Mặc Tử của
Quách Tấn. Bài viết này của Quách Tấn cùng với Hàn Mặc Tử, thân thế và thi văn
của Trần Thanh Mại là hai nguồn tư liệu quan trọng bậc nhất về Hàn Mặc Tử mà
không một ai nghiên cứu về thi nhân không phải truy cầu, sử dụng. Sau này có
thêm hồi kí của Nguyễn Bá Tín cũng rất quan trọng (Hàn Mặc Tử anh tôi, Hàn
Mặc Tử trong riêng tư). Đến những năm 70 có Hàn Mặc Tử hay là sự hiện hữu của
thơ của Huỳnh Phan Anh trong sách Đi tìm tác phẩm văn chương, NXB Đồng
Tháp, 1972; Hàn Mặc Tử đau thương và sáng tạo của Nguyễn Kim Chương trong
Văn học, số 196, 1974.
Gần đây các công trình tiêu biểu về Hàn Mặc Tử có Hàn Mặc Tử, Đau
thương của Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1995; Hàn Mặc Tử
hôm qua và hôm nay do Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên soạn năm 1995; Thơ

trong nhà trường, có thể kể đến một số bài viết của Chu Văn Sơn trong cuốn Ba
đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 1997; Thơ Điên của Hàn Mặc Tử - thi học của cái “tột cùng”, Tạp chí văn
học, số 11, 2000, tr.39. Tác giả Lã Nguyên bình bài thơ trên tạp chí Văn hóa và
Đời sống tháng 5 năm 1991. Tác giả Đoàn Minh Tâm viết Đây thôn Vĩ Dạ – một
giấc mơ về cuộc đời Hàn Mặc Tử. Lý Toàn Thắng với bài Âm điệu trong thơ Hàn
7


Mặc Tử viết ở Quy Nhơn và hoàn thành ở Hà Nội vào tháng 8, năm 2006 đăng trên
Khoa học và Ngôn ngữ, 2009. Trần Trung với Đây thôn Vĩ Dạ - một bài thơ quen
và lạ viết ở Hà Nội vào tháng 7 năm 2009. Nguyễn Ái Học: Từ cấu trúc kép của
Đây thôn Vĩ Dạ trong cuốn Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn, xuất
bản năm 2010…
Bài bình giảng bài thơ được in trong sách Những bài giảng văn chọn lọc Phổ
thông trung học của giáo sư Lê Trí Viễn – Trần Thị Thìn, NXB Giáo dục 1995,
sách Giảng văn chọn lọc – văn học Việt Nam do tác giả Trần Đình Sử chủ biên.
Nhiều bài viết tìm hiểu về diễn biến tâm trạng của nhà thơ Hàn Mặc Tử và
mối tình Hàn Mặc Tử trong bài thơ, đơn cử như: Hàn Mặc Tử và bài thơ thôn Vĩ
của tác giả Đặng Viễn viết ở Orlean vào tháng 2 năm 2012, Sự thật về mối tình
Hàn Mặc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu và phát triển. Nhiều bài viết và lời bình về bài thơ xuất hiện trên báo
chí: Về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Đây thôn Vĩ Dạ - một tiếng thở
dài đáng quý trên báo Giáo viên nhân dân lần lượt số đặc biệt năm 1989, số đặc
biệt năm 1990; bài Góp thêm ý kiến về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ trên báo Tuổi trẻ
chủ nhật số 1, tháng 1 năm 1990…
Gần đây có bài viết của Nguyễn Cẩm Xuyên: Hiểu về hình ảnh lá trúc che
ngang mặt chữ điền, năm 2009; Lê Tiến Dũng: Hàn Mặc Tử và bài thơ Đây thôn
Vĩ Dạ đăng trên Tạp chí ĐH Sài Gòn, Bình luận văn học, 2012; Nguyễn Thị Xuân
Yến với Đây thôn Vĩ Dạ - nỗi niềm của con người xa Huế đăng trên Tạp chí Khoa

Tuy nhiên, nghiên cứu từ hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng
tạo đối với việc dạy học tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử cho học sinh
Trung học phổ thông còn là một mạch nguồn khá mới mẻ, cần được quan tâm khai
thác sâu hơn và toàn diện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết về bài thơ
Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử hoặc các tài liệu có liên quan đi đến tổng hợp rồi
tìm ra cách khai thác bài thơ này theo hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí
học sáng tạo nhằm đưa ra phương án dạy học phù hợp, có hiệu quả, góp phần vào
việc đổi mới trong dạy học Ngữ văn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

9


Tìm hiểu về nhà thơ Hàn Mặc Tử và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ với những yếu
tố phục vụ cho việc dạy học tác phẩm này từ hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và
tâm lí học sáng tạo.
Thông qua việc khảo sát thực tiễn hoạt động dạy học và thực nghiệm sư
phạm, xác định tính khả thi của những biện pháp dạy học tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ
theo hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đưa ra được những đề xuất, khuyến nghị
tích cực, khả thi.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy và học trong giờ học văn bản Đây thôn Vĩ Dạ bằng hình thức
tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo của giáo viên và học sinh lớp 11
trong nhà trường Trung học phổ thông.
Phạm vi nghiên cứu là giáo viên dạy Ngữ văn 11 và học sinh lớp 11 Trung
học phổ thông; giờ học văn bản Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

một cách cô lập mà bao giờ cũng tồn tại trong một mối quan hệ phổ biến của nó”
nên khi nghiên cứu một tác phẩm văn học, một trào lưu, một khuynh hướng văn
học người ta phải đặt nó trong rất nhiều mối tương quan cũng như dưới nhiều góc
nhìn. Nghiên cứu văn học có nhiều cấp độ khác nhau, nhiều bình diện khác nhau
với những yêu cầu khác nhau để tránh nghiên cứu một cách phiến diện, đồng thời
đánh giá đúng giá trị của đối tượng nghiên cứu. Theo đó, nhiều phương pháp,
khuynh hướng nghiên cứu khác nhau ra đời. Viện sĩ Khrapsenco nói “Sự đa dạng
của các loại hình và hình thức văn học, tính phức tạp của những mối liên hệ giữa
văn học với đời sống xã hội tạo ra khả năng và tất yếu phải có những người nghiên
cứu khác nhau, tuy có sự thống nhất nhất định, do chi phối của phương pháp luận
macxit” [22. tr. 661]. Trong hệ thống đó khuynh hướng nghiên cứu lịch sử phát
sinh ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ vai trò cơ bản.
Nghiên cứu tác phẩm văn học theo quan điểm lịch sử phát sinh là khi nghiên
cứu một nền văn học, các trào lưu văn học, tác gia, tác phẩm văn học người ta xuất
phát từ cội nguồn phát sinh của nó, từ đời sống xã hội để lí giải sự hình thành và
phát triển các hiện tượng văn học đó. Khuynh hướng này chủ trương giải thích sự
phát triển của văn học, sự đấu tranh của các trào lưu, sự kế thừa có đổi mới của
từng giai đoạn văn học từ những cội nguồn lịch sử xã hội, từ hiện thực khách quan.
Bởi nhà văn muốn phản ánh hiện thực khách quan vào tác phẩm thì nhất thiết phải
có hiện thực khách quan. Từ hiện thực khách quan thông qua hệ thống nhân vật và
phương diện chủ quan của nhà văn thì hiện thực đó mới đi vào tác phẩm, mới tiềm
ẩn trong đó những nội dung chủ quan mà nhà văn muốn hướng đến.
Nghiên cứu tác phẩm văn học theo khuynh hướng này ngày càng được hoàn
thiện dần và nó có nhiều đóng góp đối với nghiên cứu khoa học nhưng không tránh
khỏi những hạn chế nhất định. Nó không lí giải được toàn bộ những vấn đề khác
12


của xã hội bên trong tác phẩm. Cuối thế kỉ XIX, nhà phê bình macxit đầu tiên của
Nga là Plêkhanôp cho rằng, nghiên cứu phê bình văn học “là nhằm chuyển tư

thời đại họ đang sống. Nên nếu xét văn học trong mối quan hệ tương đương với xã
hội là còn phiến diện. Có thể tìm thấy ánh sáng phương pháp luận cho vấn đề này
13


trong phát biểu sau đây của Mac: “Không nên tưởng rằng tất cả các đại biểu dân
chủ đều là chủ hiệu buôn hoặc là họ sùng bái bọn này. Họ có thể cách biệt với bọn
chủ hiệu buôn bằng một vực thẳm. Điều làm cho họ trở thành đại biểu của giai cấp
tiểu tư sản, chính là vì bộ óc của họ không thể vượt qua được cái giới hạn mà bản
thân người tiểu tư sản trong đời sống cũng không thể vượt qua được” [22. tr. 81].
Những bước tiến về sau của khuynh hướng nghiên cứu lịch sử phát sinh đã khắc
phục được chỗ thiếu sót của lối đi tìm cái “tương đương xã hội học” khi nghiên
cứu văn học.
Trong lí luận văn học, có phương pháp tiếp cận văn học từ xã hội với những
quan điểm mới mẻ đó là phương pháp cấu trúc phát sinh. Phương pháp này cũng
hướng tới khía cạnh xã hội trong quá trình nghiên cứu văn học. Lucien Goldmann
(1913 – 1970) là người thử nghiệm vận dụng các phạm trù xã hội học vào nghiên
cứu văn học, xây dựng chủ nghĩa cấu trúc phát sinh coi “Tính chất tập thể của
sáng tạo văn học đến từ sự kiện sau những cấu trúc của vũ trụ tác phẩm là đồng
đẳng với những cấu trúc tâm thức của những nhóm xã hội nào đó, tức là sự sáng
tạo một vũ trụ tương đương bị quy định bởi những cấu trúc này”. Phương pháp
này trước hết nhằm nghiên cứu những quan hệ giữa tác phẩm và các giai cấp xã
hội ở cái thời đại tác phẩm ra đời. Tác phẩm văn học, theo Goldmann, không chỉ là
cấu trúc ngôn ngữ thuần túy, mà còn là một cấu trúc ý nghĩa. Cấu trúc ý nghĩa này,
đến lượt nó, lại liên quan đến cấu trúc tinh thần của một nhóm xã hội nhất định
chịu sự chi phối của những cấu trúc kinh tế - xã hội nào đó. Bởi vậy, nghiên cứu
một tác phẩm văn học, việc đầu tiên là tìm hiểu cấu trúc ý nghĩa của nó thông qua
cấu trúc ngôn ngữ, sau đó đặt tác phẩm vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội mà nó ra đời
để tìm cho được sự tương ứng giữa cấu trúc ý nghĩa tác phẩm và cấu trúc tinh thần
của nhóm xã hội mà tác giả thuộc vào. Rồi dùng địa vị kinh tế xã hội của nhóm xã

đã trở thành một thao tác phổ biến của các nhà nghiên cứu và phê bình văn học. Có
tâm lí học sáng tác và tâm lí học tiếp nhận. Trong đó tâm lí học sáng tác cung cấp
cho chúng ta những phương pháp nghiên cứu nghệ thuật xây dựng tác phẩm về mặt
tâm lí của tác giả.
Tâm lí là toàn bộ những hiện tượng tinh thần diễn ra trong con người thể
hiện qua hoạt động của tình cảm và lí trí, gắn liền và chi phối hoạt động của con
người. Tình cảm là những biểu hiện tâm lí của con người, phản ánh mối quan hệ
giữa con người và các đối tượng trong quá trình tiếp xúc. Có lúc nó được lưu giữ
trong tâm hồn, có lúc nó bộc lộ ra ngoài qua thái độ, ngôn ngữ, hành vi của con
người với các sắc thái cấp độ như: cảm xúc, tâm trạng, thái độ, khát vọng (hỉ mừng vui, nộ - tức giận, ái - thương yêu, ố - căm ghét, ai - đau thương, cụ - sợ hãi,
dục - ham muốn). Hoạt động lí trí thì biểu hiện qua các phương diện như: hồi ức,
tưởng tượng, suy lí, phán đoán. Đời sống tâm lí của con người vô cùng phong phú
bên cạnh hoạt động của tình cảm, lí trí nó còn bao gồm cả tư tưởng và tâm linh. Vì
15


thế tâm lí học có nhiệm vụ nghiên cứu về các hiện tượng tâm lí của con người
nhằm khám phá bản chất, quy luật hoạt động của nó.
Tâm lí học sáng tạo văn học là bộ môn khoa học có tính chất liên ngành. Nó
nằm ở vùng giao thoa của nhiều ngành khoa học như tâm lí học, mĩ học, nghiên
cứu văn học. Nhiệm vụ của tâm lí học sáng tạo văn học là nghiên cứu quá trình
hoạt động tâm lí – thẩm mĩ – xã hội bên trong chủ thể sáng tạo văn học. Khác với
tâm lí học phổ quát, tâm lí học sáng tạo văn học chỉ giới hạn phạm vi và hướng tiếp
cận của nó ở đời sống tâm lí của nhà văn, những quy luật của quá trình sáng tạo tác
phẩm.
Nghiên cứu văn học theo tâm lí học sáng tạo là nghiên cứu bản thân quá
trình sáng tạo của nhà văn, tức là quá trình vận động của tư duy nghệ thuật trong
trạng thái sống động của nó, từ khoảnh khắc thoáng hiện ý đồ sáng tạo cho đến
hoàn thành tác phẩm có sự tác động qua lại giữa tâm lí của nhà văn với công việc
sáng tạo. Bản thân quá trình sáng tạo đó của nhà văn có hàng loạt vấn đề từ rung

tượng không được thể hiện nguyên như vậy trong nội dung giấc mơ mà được thế
chân bởi những ám chỉ, bóng gió và những cách thể hiện tương tự khác gọi là
những biểu tượng. Mặt khác “Không bao giờ Giấc mơ lại quan tâm tới những thứ
chẳng đáng quan tâm lúc ban ngày, và không bao giờ những vụn vặt chẳng đáng
bận lòng lúc ban ngày lại đeo đuổi chúng ta vào tận giấc mơ” [13, tr. 70], các ý
nghĩ trong mơ là một phức hợp tâm lí có mối liên hệ logic được thể hiện bằng các
biểu tượng. Vì thế nắm bắt được thế giới tâm lí của người viết sẽ là cơ sở giúp
chúng ta cắt nghĩa tác phẩm thông qua các biểu tượng. Nhiệm vụ của người nghiên
cứu là phải “lí giải tác phẩm văn học bằng các xung đột tâm lí vô thức của con
người (mà đại diện là tác giả), hoặc tái tạo lại đời sống tâm hồn của tác giả thông
qua những điều phát tiết vô thức trong tác phẩm của anh ta” [15, tr.116]. Phương
pháp của Freud sau này được áp dụng vào nghiên cứu văn học và có ảnh hưởng
mạnh mẽ.
Đến K.G.Jung (1876 – 1961), nhà tâm lí học người Đức, thì cái vô thức cá
nhân được thay thế bằng vô thức tập thể trong lí thuyết tâm lí học. Vô thức tập thể
là lớp vô thức cá nhân tương đương với mọi người khác được lưu giữ đến một lúc
nào đó thì thể hiện thành các hình tượng nghệ thuật giống nhau gọi là cổ mẫu. Vô
thức tập thể được biểu hiện qua huyền thoại, mộng mơ, huyễn tưởng. Ngoài ra
Jung còn chú ý đến vấn đề cá nhân hóa. Đây là sự chống lại vô thức tập thể để
khẳng định cái tôi của mình. Điều này đặc biệt quan trọng trong sáng tạo nghệ
thuật để tạo nên những đóng góp cá nhân, tạo nên phong cách cá nhân. Jung cũng
phát hiện ra những kiểu tâm lí và hai dạng của nó là hướng nội và hướng ngoại,
cung cấp cho chúng ta những bộ khái niệm - công cụ để phân tích những hiện
tượng văn hóa, nghệ thuật, tâm lí. Ông hướng sự quan tâm của mình vào vấn đề
tương phản giữa tư duy và văn hóa, các con đường phát triển văn hóa phương
17


Đông và phương Tây, vai trò của di truyền sinh học và di truyền văn hóa trong đời
sống các dân tộc. Và cuối cùng, là phân tích những hiện tượng bí ẩn trong văn hóa,

dụng khoa học tâm lí để cắt nghĩa các hiện tượng tâm lí sáng tạo. Việc sử dụng linh
18


hoạt các phương pháp tâm lí sáng tạo, tránh tuyệt đối hóa sự chi phối của cái vô
thức và của tính dục thì có thể đóng góp quan trọng vào việc tìm hiểu cái thông
điệp của một số tác phẩm. Điểm tựa của những lí giải phải là quan điểm duy vật
biện chứng, tránh suy diễn tùy tiện hoặc đẩy chúng vào quan điểm duy tâm siêu
hình.
1.1.3. Mối quan hệ giữa hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và hướng tiếp cận tâm
lí học sáng tạo trong quá trình nghiên cứu tác phẩm văn học
Từ trước đến nay có nhiều phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo nhiều
quan điểm khác nhau. Để cắt nghĩa, tìm hiểu một tác phẩm văn học một cách toàn
diện và sâu sắc không nên chỉ vận dụng một phương pháp, một hướng tiếp cận để
mặt hạn chế của phương pháp và hướng tiếp cận này sẽ được bù đắp bởi ưu điểm
nổi bật của phương pháp và hướng tiếp cận kia. Phương pháp luận nghiên cứu hiện
đại đã đặt vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học nghệ thuật một cách toàn diện [22, tr.
671].
Phương pháp cấu trúc phát sinh hướng tới khía cạnh xã hội trong quá trình
nghiên cứu văn học. Nhưng sáng tạo là sản phẩm của cá nhân, mang dấu ấn cá
nhân nên L.Goldmann còn giải thích cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm văn học bằng
những đặc điểm tiểu sử cá nhân tác giả, tức bổ sung thêm khía cạnh tâm lí học
J.Piaget và phân tâm học của S. Freud.
Nghiên cứu tâm lí sáng tạo của nhà thơ trong những trường hợp cụ thể
chúng ta sẽ có thêm cơ sở để hiểu được các tầng nghĩa của tác phẩm và ý đồ nghệ
thuật của nhà thơ.
Mặt khác sáng tạo là quá trình đi từ ý đồ và tâm trạng, tâm trạng thường gắn
liền với nhạc điệu (nhạc điệu - tâm trạng) rồi mới đến là tập trung và thể hiện, nhập
thân và thể hiện sau cùng là sửa chữa; sự hình thành thiên tài bên cạnh những lí
giải liên quan đến tâm lí khác thường còn có yếu tố là di truyền (năng khiếu), hoàn

học sinh vẫn không phải là công việc dễ dàng bởi bài thơ ít nhiều nhuốm màu sắc
tượng trưng siêu thực. Việc dạy học bài tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ từ hướng tiếp
cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo sẽ cung cấp một cách nhìn toàn diện và
độ tham chiếu lớn hơn cho thầy và trò trong quá trình tìm hiểu tác phẩm đã trở nên
rất quen thuộc.
1.2.2. Thực trạng dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”
1.2.2.1. Đối tượng khảo sát

20


Để tìm hiểu tình hình dạy học bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ trong nhà trường Phổ
thông hiện nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát hai đối tượng cơ bản tham gia vào
quá trình dạy học trong nhà trường đó là giáo viên và học sinh.
Đối với giáo viên, chúng tôi tìm hiểu, phân tích, đánh giá qua bài soạn giảng
và việc dự giờ những tiết giảng của giáo viên ở hai trường Trung học phổ thông
Việt – Úc, Hà Nội và Trung học phổ thông Đoàn Thị Điểm, Hà Nội. Từ đó chúng
tôi rút ra những điều đã đạt được, những ưu điểm cũng như những hạn chế trong
quá trình dạy học tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ ở trường Phổ thông hiện nay.
Đối với học sinh – vừa là đối tượng tiếp nhận vừa là chủ thể của quá trình
dạy học, việc khảo sát cần phải đánh giá được mức độ tiếp nhận của học sinh về
tác phẩm. Thông qua việc dự giờ và cho học sinh làm các bài test, các bài luận để
thấy được những yêu cầu, mục đích của bài học đã đạt được ở mức độ nào.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng xem xét, rút ra những đánh giá chung về thực
trạng dạy học bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ từ việc sưu tầm, tuyển đọc các sách tham
khảo của các tác giả khác nhau viết về bài thơ từ đó thấy được những vấn đề và
khía cạnh thường được đề cập đến trong khi nghiên cứu.
1.2.2.2. Quá trình khảo sát
Trong quá trình khảo sát để thực hiện đề tài chúng tôi đã tiến hành khảo sát
với khối 11 của trường Trung học phổ thông Việt – Úc, Hà Nội và khối 11 của

như chỉ nhắc đến sự kiện Hàn Mặc Tử bị bệnh phong và nhận được bức bưu ảnh
của Hoàng Cúc mà chưa phân định rạch ròi điều gì là khởi nguồn sâu xa và điều gì
chỉ là nhân tố làm bùng phát những cảm xúc đã có sẵn trong con người nhà thơ.
Nếu phần hoàn cảnh sáng tác bài thơ mà giáo viên nhấn mạnh được điều này thì
hành trình tìm hiểu một bài thơ vốn “phức tạp và đầy bí ẩn” này sẽ sáng rõ và logic
hơn. Thêm nữa việc định hướng ngay từ đầu ý nghĩa của nhan đề bài thơ cũng như
việc đổi tên nhan đề từ Ở đây thôn Vĩ Dạ sang Đây thôn Vĩ Dạ cũng là một trong
những cơ sở để tìm ra sự thống nhất, xâu chuỗi các hình ảnh trong bài thơ. Ở phần
tìm hiểu chi tiết văn bản, giáo viên định hướng học sinh tập trung khai thác sâu vào
ý nghĩa của từng hình tượng, nghệ thuật biểu hiện hình tượng trong ba khổ thơ để
từ đó khái quát nội dung tư tưởng của cả tác phẩm. Câu hỏi gợi ý chủ đạo cho ba
khổ thơ lần lượt là: Phân tích nét đẹp của phong cảnh và tâm trạng của tác giả
trong khổ thơ đầu? Hình ảnh gió, mây, sông, trăng trong khổ thơ thứ hai gợi cảm
xúc gì? Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như thế nào? Chút hoài
nghi trong câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có biểu hiện niềm tha thiết với cuộc
đời không? Vì sao? Từ việc đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi này, giáo viên đi đến
khái quát: với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế,
giàu liên tưởng, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh đẹp về một miền quê đất
nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. Với cách triển
khai này, hầu như học sinh được cắt nghĩa từng khổ thơ một cách độc lập. Như vậy
22


việc hiểu một cách thấu đáo và sâu sắc bài thơ quả thực là yêu cầu khó khăn với
học sinh khi trải nghiệm còn non nớt. Học sinh chưa nắm được mạch luận lí, sợi
dây xâu chuỗi các hình ảnh trong ba khổ thơ tưởng như chẳng mấy liên quan đến
nhau ấy chính là nguồn cảm xúc đau thương ngầm ẩn ở bên trong. Theo đó việc
tìm hiểu bài thơ cũng chưa gợi ra được nỗi đồng cảm sâu xa với niềm đau thân
phận của con người và sự trân trọng một lối sống tích cực tha thiết đắm say với
cuộc đời và con người của các nhà Thơ mới ngay khi ở trong hoàn cảnh tột cùng

cách thấu đáo nhất.
Từ các bước tìm hiểu trên đã cho chúng tôi thấy rõ thực trạng dạy học bài
thơ Đây thôn Vĩ Dạ trong nhà trường Phổ thông hiện nay: cần chú ý hơn nữa đến
yếu tố lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo trong quá trình khai thác văn bản.
1.2.2.3. Kết quả khảo sát
Qua các bước khảo sát như trên đã trình bày, chúng tôi tổng hợp được kết
quả trong bảng sau:

BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Phƣơng diện đánh giá

Trƣờng Trung học
phổ thông Việt Úc,
Hà Nội

Trƣờng Trung học
phổ thông Đoàn Thị
Điểm, Hà Nội

Giờ học chưa khai thác sâu yếu tố
ngoài văn bản: hoàn cảnh xã hội và
cá nhân.

6/9 tiết = 66.7%

11/16 tiết = 68.8%

Giờ học chưa khai thác sâu yếu tố
ngoài văn bản: hoàn cảnh sáng tác
bài thơ.

34/100 học sinh =
34%

24


Số học sinh yêu thích bài thơ.
Số học sinh không
thấy hứng thú với
bài thơ.

22/60 học sinh =
36.7 %

36/100 học sinh =
36%

Vì thấy bài thơ
khó hiểu.

21/60 học sinh =
35%

41/100 học sinh =
41%

Vì không tìm
được sự đồng
cảm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status