Giảng dạy phân tích thống kê với sự hỗ trợ của một số phần mềm tin học : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 10 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
----------

NGUYỄN PHƢƠNG THẢO

GIẢNG DẠY PHÂN TÍCH THỐNG KÊ
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MỘT SỐ PHẦN MỀM TIN HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM TOÁN HỌC

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN HỌC)
Mã số

: 60 14 10

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG MINH

HÀ NỘI - 2010


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới TS. Nguyễn Thị Hồng Minh - người đã trực tiếp động viên, hướng dẫn và
tận tình chỉ bảo tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Sư phạm (nay là Ban giám
hiệu trường ĐH Giáo dục) - Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy giáo, cô
giáo đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban chủ



: Cao đẳng

XSTK

: Xác suất thống kê

GD - ĐT

: Giáo dục - Đào tạo

CNTT

: Công nghệ thông tin

MTĐT

: Máy tính điện tử

ICT

: Công nghệ thông tin và truyền thông


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………...

1

6

Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn ………………………………….. 7
1.1

Cơ sở lí luận ……………………………………………………..

7

1.1.1

Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học ………………….

7

1.1.2

Khai thác sử dụng CNTT trong dạy học Toán ..............................

9

1.1.3

Tổ chức dạy học Toán trong môi trường CNTT và truyền thông..

13

1.2

Cơ sở thực tiễn ..............................................................................

1.3.3

Phần mềm STATA ........................................................................ 32

Chƣơng 2: Một số giáo án giảng dạy thống kê với sự hỗ trợ của các
phần mềm EXCEL, MINITAB và STATA ............................................ 34
2.1

Giảng dạy bài “Ước lượng khoảng tin cậy cho kỳ vọng của biến
ngẫu nhiên” với sự hỗ trợ của phần mềm MINITAB .................... 34

2.1.1

Đề cương bài giảng .......................................................................

34

2.1.2

Giáo án ..........................................................................................

41

2.2

Giảng dạy bài “Ước lượng khoảng tin cậy cho xác xuất và
phương sai của biến ngẫu nhiên” với sự hỗ trợ của phần mềm
EXCEL ..........................................................................................

44


Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm ..........................................................

77

3.1

Mục đích, kế hoạch và tổ chức thực nghiệm sư phạm ..................

77

3.1.1

Mục đích của thực nghiệm sư phạm .............................................. 77

3.1.2

Kế hoạch thực nghiệm sư phạm ....................................................

77

3.1.3

Tổ chức thực nghiệm sư phạm ......................................................

78

3.2

Nội dung thực nghiệm ................................................................... 79

Nhận thức rõ thực tế và phân tích sâu hơn đặc thù môn học, chúng tôi
cho rằng điểm yếu kể trên bắt nguồn từ hai nguyên nhân. Thứ nhất, nội dung
kiến thức của học phần còn mang tính hàn lâm, hệ thống ví dụ và bài tập còn
mang tính chất mô hình lý thuyết, khô khan đối với sinh viên. Thứ hai, việc
thiết lập được mô hình toán học không phải là khó nhưng đó thường là những
mô hình có quy mô tương đối lớn (những bài toán có thể lên tới hàng trăm
biến số, số lượng phép tính có thể lên tới hàng nghìn), việc giải chúng bằng
tay là cực kỳ khó khăn. Điều này gây ra tâm lý e ngại trong việc học tập học
phần xác suất thống kê trong đại bộ phận sinh viên các trường đại học nói
chung và sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội nơi tác giả trực tiếp giảng
dạy nói riêng.
Trong hoàn cảnh đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu và đưa vào ứng dụng
các phần mềm tin học song song với quá trình dạy học lý thuyết học phần này

1


có thể là một giải pháp tốt. Qua tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi thấy có rất
nhiều phần mềm giải toán thống kê như Excel (của Microsoft), Minitab, SAS,
SPSS, Stata, Statistica, S – Plus, R, Gauss, … Trong số đó, Excel và Minitab
là những phần mềm có nhiều ưu điểm vượt trội. Excel là phần mềm đã được
sử dụng rộng rãi, phổ biến còn Minitab là phần mềm được thiết kế để phục vụ
việc giảng dạy môn thống kê, sau đó được phát triển thành công cụ phân tích
và trình bày dữ liệu rất hữu hiệu.
Hy vọng rằng, với việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Giảng dạy
phân tích thống kê với sự hỗ trợ của một số phần mềm tin học”, tác giả sẽ
góp phần giúp các bạn sinh viên và những người quan tâm đến thống kê giảm
bớt khó khăn khi tiếp cận với môn học này. Và xa hơn nữa là giúp các bạn trở
thành những cử nhân biết làm thống kê, biết dùng thống kê một cách thành
thạo để phục vụ cho công việc của mình.

thống kê và các nghiên cứu quan sát thống kê ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Mỗi bộ chương trình đều có đặc trưng riêng với những điểm mạnh và yếu của
nó.
SAS (Statistical Analysis Software) được hình thành bởi Anthony J.
Barr năm 1966 [6], là bộ chương trình mà nhiều người sử dụng có trình độ
cao ưa thích bởi sức mạnh và khả năng lập trình. Do SAS là một bộ chương
trình mạnh như vậy nên khó học nhất. Để sử dụng SAS, ta phải viết chương
trình để thao tác dữ liệu và thực hiện các phân tích dữ liệu của mình. Nếu
chương trình mắc lỗi, cái khó là phải biết tìm lỗi ở đâu và cách sửa thế nào.
SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) được phát hành
phiên bản đầu tiên vào năm 1968 sau khi được phát triển bởi Norman H. Nie
và C. Hadlai Hull [7]. SPSS là một bộ chương trình mà nhiều người sử dụng
ưa thích do nó rất dễ sử dụng. SPSS có một giao diện giữa người và máy cho

3


phép sử dụng các menu thả xuống để chọn các lệnh thực hiện. Khi thực hiện
một phân tích chỉ đơn giản chọn thủ tục cần thiết và chọn các biến phân tích
và bấm OK là có kết quả ngay trên màn hình để xem xét. SPSS cũng có một
ngôn ngữ cú pháp có thể học bằng cách dán cú pháp lệnh vào cửa sổ cú pháp
từ một lệnh vừa chọn và thực hiện, nhưng nói chung khá phức tạp.
STATA là tên kết hợp bởi "statistics" and "data”, là một gói phần mềm
thống kê được tạo ra năm 1985 của StataCorp. STATA là một bộ chương
trình mà nhiều người mới bắt đầu sử dụng ưa thích vì nó dễ học và có nhiều
khả năng. STATA sử dụng các lệnh trực tiếp, có thể vào mỗi lệnh ở một thời
điểm để thực hiện hoặc có thể soạn thảo thành một chương trình bao gồm
nhiều lệnh cho một nhiệm vụ và thực hiện cùng một lúc.
MINITAB là phần mềm thống kê ứng dụng được phát triển ở Đại học
Pennsylvania bởi Barbara F. Ryan, Thomas A. Ryan, Jr. và Brian L. Joiner

4. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của thống kê, đặc biệt là những
nội dung cần có công cụ tin học để hỗ trợ trong tính toán và xử lý số liệu.
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng các phần mềm Excel, Minitab và
Stata trong việc giảng dạy các nội dung nói trên.
5. Mẫu khảo sát
Sinh viên khoa Kế toán kiểm toán và khoa Quản lí kinh doanh, trường
ĐH Công nghiệp Hà Nội.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Các phần mềm tin học có thể được sử dụng trong giảng dạy phân tích
thống kê như thế nào?

5


7. Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy phân tích thống kê khi sử
dụng các phần mềm tin học như Excel, Minitab và Stata.
8. Phƣơng pháp chứng minh luận điểm
- Dựa vào thực trạng của việc dạy và học thống kê khi chưa có sự hỗ
trợ của các phần mềm tin học.
- Dựa vào hiệu quả mà các phần mềm tin học mang lại khi sử dụng
trong giảng dạy phân tích thống kê.
9. Đóng góp của luận văn
Ngoài việc hệ thống hóa các nội dung cơ bản của thống kê, tìm hiểu và
giới thiệu về các phần mềm thống kê đang được sử dụng trên thế giới, đóng
góp chính của luận văn là nghiên cứu những tiện ích của ba phần mềm: Excel,
Minitab, Stata có thể ứng dụng trong việc giảng dạy phân tích thống kê; Bên
cạnh đó, tác giả cũng đã thiết kế được một số bài giảng mẫu để thử nghiệm và
đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các phần mềm này trong giảng dạy.

dạy và học.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục đã được
Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm, đơn cử[1518]:
- Chỉ thị số 58 của Bộ Chính trị, ký ngày 17/10/2000, về đẩy mạnh ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình
thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập
trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối
7


Intemet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo".
- Quyết định của thủ tướng Chính phủ Số 47/2001/QĐ-TTg phê
duyệt "Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 20012010" ngày 04 tháng 4 năm 2001: "Tăng cường năng lực và nâng cao chất
lượng hoạt động thư viện; hình thành hệ thống thư viện điện tử kết nối giữa
các trường từng bước kết nối và hệ thống thư viện của các trường đại học,
thư viện quốc gia của các nước trong khu vực và trên thế giới. Mở cổng
kết nôi Intemet trực tuyến cho hệ thống giáo dục đại học”
- Chỉ thị số 29 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ngày
30/7/2001 về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ
thông tin trong ngành giáo dục: "Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ
thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp.
phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện để tiên tới một “xã hội học
tập”. Mặt khác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc
đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân làm cho
CNTT”
- Chỉ thị số 40/CT-TW của Ban chấp hành TW Đảng ra ngày 15/6/2004 về
việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo
dục: “Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện

việc nghiên cứu và triển khai các thế mạnh của CNTT nhằm hỗ trợ quá
trình dạy học toán được nhiều quốc gia và các nhà giáo dục quan tâm.
Trong tài liệu The free NCET (1995) leanet (Mathematics ang ITapupil’s entitlement) [8] đã mô tả 6 hướng cơ bản trong việc sử dụng CNTT
nhằm cung cấp các điều kiện cho người học toán, cụ thể:
- Học tập dựa trên thông tin ngược: Máy tính có khả năng cung cấp
nhanh và chính xác các thông tin phản hồi dưới góc độ khách quan. Từ
9


những thông tin phản hồi như vậy cho phép người học đưa ra sự ước
đoán của mình và từ đó có thể thử nghiệm, thay đổi những ý tưởng của
người học.
- Khả năng quan sát các mô hình: Với khả năng và tốc độ xử lý
của MTĐT giúp người học đưa ra nhiều ví dụ khi khám phá các vấn đề trong
toán học. MTĐT sẽ trợ giúp người học quan sát, xử lý các mô hình, từ đó
đưa ra lời chứng minh trong trường hợp tổng quát.
- Phát hiện các mối quan hệ trong toán học: MTĐT cho phép tính
toán biểu bảng, xử lý đồ hoạ để theo sát sự thay đổi trong công th ức
một cách chính xác và liên kết chúng với nhau. Việc cho thay đổi một vài
thành phần và qua các thành phần còn lại đã giúp người học phát hiện ra
mối tương quan giữa các đại lượng.
- Thao tác với các hình động: Người học có thể sử dụng MTĐT để
biểu diễn các biểu đồ một cách sinh động. Việc đó đã giúp cho người học
hình dung ra các hình trong hình học một cách tổng quát từ hình ảnh của máy
tính.
- Khai thác tìm kiếm thông tin: MTĐT cho phép người sử dụng làm
việc trực tiếp với các dữ liệu thực, từ đó hình dung ra sự đa dạng của nó và
sử dụng để phân tích hay làm sáng tỏ một vấn đề toán học.
- Dạy học với máy tính: Khi người học thiết kế thuật toán để sử dụng
MTĐT nhằm tìm ra kết quả thì người học phải hoàn thành dãy các chỉ thị

quan trọng.
Sản phẩm của môi trường học tập với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin là
những học sinh có năng lực tư duy sáng tạo toán học, có năng lực giải quyết
các vấn đề và năng lực tự học một cách sáng tạo. Như vậy, việc tổ chức
dạy - học với sự hỗ trợ của MTĐT và các phần mềm toán học nhằm xây
dựng một môi trường dạy - học với 3 đặc tính cơ bản sau:

11


- Tạo ra một môi trường học tập hoàn toàn mới mà trong môi trường
này tính chủ động, sáng tạo của học sinh được phát triển tốt nhất. Người
học có điều kiện phát huy khả năng phân tích, suy đoán và xử lý thông tin
một cách có hiệu quả.
- Cung cấp một môi trường cho phép đa dạng hoá mối quan hệ tương
tác hai chiều giữa thầy và trò.
- Tạo ra một môi trường dạy và học linh hoạt, có tính mở.
Trong các hình thức tổ chức dạy - học có sự hỗ trợ của CNTT thì vai
trò của người thầy đặc biệt quan trọng. Nó đòi hỏi cao hơn ở người thầy khả
năng tổ chức so với hình thức dạy học truyền thống. Về một góc độ nào
đó, năng lực của người thầy thể hiện qua hệ thống định hướng giúp học
sinh phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua hệ thống các câu hỏi. Hệ
thống các câu hỏi của người thầy phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Các câu hỏi phải mang tính gợi mở, định hướng giúp cho học sinh
con đường xử lý thông tin để đi đến kiến thức mới.
- Các câu hỏi phải trợ giúp học sinh củng cố kiến thức mới và tăng
cường khả năng vận dụng kiến thức trong thực hành.
- Các câu hỏi phải có tính mở để khuyến khích học sinh phát huy tính
sáng tạo, khả năng phân tích tổng hợp, khái quát hoá các tri thức đã được
trang bị để giải quyết vấn đề.


Hình 1.2. Hướng dẫn tổ chức dạy - học có sự hỗ trợ của ICT

Như vậy, lớp học thường diễn ra theo xu hướng sau:
- Từng học sinh làm việc gần như "độc lập" với nhau, cùng tập trung
vào quan sát, xử lý những thông tin trên màn hình.
- Những học sinh khá, giỏi chưa được phát huy tối đa khả năng của
bản thân vì cả lớp cùng được giao một nhiệm vụ cụ thể như nhau.
- Trong lớp học giữa các học sinh sẽ có sự ganh đua với nhau, do
vậy để dễ so sánh, phân loại. Giáo viên thường có xu hướng tập trung vào
giảng dạy về kỹ năng thực hành, gợi lại kiến thức cũ và hệ thống lại kiến
thức của học sinh.
b. Tổ chức hoạt động học “cộng tác” theo nhóm nhỏ
Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ không quá 7 học sinh. Trang
thiết bị tối thiểu mỗi nhóm có một máy tính. Nếu các máy tính được nối
mạng thì tốt hơn vì các nhóm có thể chia sẻ thông tin với nhau.
Hình thức này có những đặc điểm sau:
- Giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm thông qua các định hướng gợi
mở hoặc các phiếu học tập.
- Mỗi nhóm học sinh sử dụng chung một máy tính, có trách nhiệm
cộng tác, chia sẻ những ý tưởng của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ của
nhóm cũng như của mỗi bản thân. Kết quả của nhóm chỉ thực sự có hiệu
quả khi toàn bộ các thành viên trong nhóm hoàn thành mục tiêu học tập.
Như vậy mỗi thành viên đều nhận thức được rằng: Không phải mỗi học sinh
14


làm được gì đó mà là cả nhóm đã học được điều gì. Như vậy ba yếu tố cơ bản
của hình thức này là: Sự thành công của toàn nhóm, trách nhiệm của mỗi cá
nhân trong nhóm và điều quan trọng là mọi thành viên trong nhóm đều có

Hình thức phân chia nhóm: Tuỳ từng nội dung mà ta có thể chia
nhóm ngẫu nhiên hay chia nhóm theo trình độ người học. Ví dụ: Khi làm
việc với nội dung mới có thể sử dụng nhóm ngẫu nhiên để học sinh giỏi,
khá có thể kèm cặp, giúp đỡ học sinh yếu. Nếu là giờ luyện tập, rèn luyện kỹ
năng thì có thể phân chia theo trình độ học sinh để giao nhiệm vụ phù hợp
nhằm phát huy được tối đa khả năng của người học.
c. Hình thức học sinh làm việc độc lập tại lớp
- Mỗi học sinh được sử dụng một máy tính. Lớp học được tổ chức tại
phòng máy tính của trường.
- Nhiệm vụ của cả lớp được phân thành các nhiệm vụ nhỏ để giao cho các
cá nhân (do vậy học sinh đều ý thức được rằng, tuy hoạt động độc lập
nhưng thành công của bản thân chính là thành công của cả lớp và ngược
lại).
Hình thức này có các đặc điểm chính sau:
- Học sinh có điều kiện phát huy hết khả năng của bản thân.
- Trong một thời điểm có thể giải quyết nhiều bài toán khác nhau.
- Phù hợp với việc nhận thức chênh lệch trong một lớp. Tuỳ mức độ khả
năng của bản thân mà học sinh được khuyến khích đảm nhận những nhiệm
vụ vừa sức.
- Đòi hỏi trình độ phân tích, tổng hợp vấn đề của giáo viên ở mức cao
(vì nếu không giờ học phân tán, không hướng học sinh được đến những
nội dung kiến thức cần nắm sau mỗi giờ học)
16


Hình thức này có thể áp dụng mô hình làm việc đơn tuyến hoặc đa
tuyến như sơ đồ sau (Hình 1.4):

Hình 1.4. Mô hình đơn tuyến và mô hình đa tuyến trong môi trường ICT


Trong hình thức này bài giảng được thiết kế thành một hệ thống liên kết
chặt chẽ phối hợp đan xen các hoạt động của thầy và trò để đạt được mục
18


đích của giờ giảng. Điều đặc biệt là bài giảng được thiết kế sao cho khai
thác tối đa sự hỗ trợ của ICT. Với hình thức này, có thể thời lượng sử
dụng bảng đen sẽ không như các giờ học khác vì nội dung kiến thức được
thiết kế sẵn trong các Slide và giáo viên chiếu lên màn hình thay cho viết
bảng (giáo án điện tử). Giáo án điện tử được biên soạn dưới hình thức các
Slide bao gồm các đơn vị tri thức, các bài tập từ đơn giản đến phức tạp,
tạo điều kiện cho việc lĩnh hội tri thức. Từ chiến lược sư phạm, ta cấu trúc
hoá các đơn vị tri thức trong giáo án. Các nội dung trình bày bao gồm các
sự kiện sẽ nảy sinh trong quá trình tương tác. Các tác động này thực hiện
theo những lược đồ nhất định. Việc phân tích, đánh giá các đáp ứng của
người học thường dựa trên các yêu cầu đã chuẩn bị sẵn. Số lượng cũng
như nội dung của mỗi Slide được xác định sao cho thể hiện được tốt nhất
nội dung bài giảng cũng như ý đồ sư phạm. Lượng thông tin của mỗi Slide
cũng không hạn chế, với sự hỗ trợ của các phần mềm công cụ thì nội dung
không chỉ là dạng text (văn bản) mà còn là âm thanh, hình vẽ, ảnh động,
thậm chí cả video. Giáo án điện tử cho phép ta trình diễn một cách trực quan
sinh động các nội dung, ví dụ như khảo sát hàm số, dựng hình, quỹ tích
mà nếu không sử dụng máy vi tính thì khó mô tả được. Với chức năng siêu
liên kết (Hyperlink) cho phép ta kết nối các Slide của bài giảng thành một
hệ thống. Từ một vị trí ta có thể truy nhập đến bất kỳ một nội dung (một
Slide) nào khác trong bài giảng. Mặt khác, ta có thể kết nối hàng loạt các
bài giảng với nhau thành một hệ thống hoàn chỉnh để giảng dạy một vấn
đề.
Vì giáo án điện tử tích hợp sẵn một khối lượng kiến thức được liên kết
sẵn cho phép người giáo viên ôn tập đến phần nào, giáo viên kích chuột vào



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status