ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI NGỌC ANH TOÀN
BÙI NGỌC ANH TOÀN
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH
3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iiLỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa
sau đại học, ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo khoa Vật Lí trường ĐH Sư phạm Thái
Danh mục các hình, biểu đồ, đồ thị viii
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
VẬT LÍ 7
I. Cơ sở lí luận 7
1.1. Hoạt động nhận thức và tính tích cực của hoạt động nhận thức của học sinh 7
1.1.1. Hoạt động nhận thức 7
1.1.2. Hoạt động nhận thức của học sinh 7
1.1.3. Tính tích cực của hoạt động nhận thức 9
1.1.4. Các biện pháp phát huy tính tích cực của hoạt động nhận thức cho
học sinh 10
1.2. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh 12
1.2.1. Quan điểm về quá trình dạy học 12
1.2.2. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực trong nhận thức cho học
sinh 13
1.3. Phần mềm dạy học 20
THPT 31
1.5.1. Nội dung điều tra 31
1.5.2. Phương pháp điều tra 32
1.5.3. Kết quả điều tra 32
1.6. Cơ sở thực tiễn về việc sử dụng bản đồ tư duy. 35
Kết luận chương 1 36
Chương 2. XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHƯƠNG: " ĐỘNG
LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM'' VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MỘT SỐ PHẦN
MỀM DẠY HỌC VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY THEO HƯỚNG PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC TRONG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH 37
2.1.Đặc điểm của chương: “Động lực học chất điểm” (Vật Lí 10) 37
2.1.1. Vị trí, vai trò của chương: “Động lực học chất điểm” (Vật Lí 10) 37
2.1.2. Cấu trúc của chương: “Động lực học chất điểm” (Vật Lí 10) 37
2.2.3. Chuẩn kiến thức và kĩ năng của chương “Động lực học chất điểm” Vật
Lí 10 38
2.2. Một số định hướng trong việc tổ chức hoạt động nhận thức với sự
hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy để phát huy tính tích
cực nhận thức cho học sinh 40
3.1.2. Nhiệm vụ 69
3.2. Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 70
3.2.1. Đối tượng 70
3.2.2. Nội dung 70
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71
3.3.1. Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 71
3.3.2. Quan sát giờ học 71
3.3.3. Bài kiểm tra 72
3.4. Đánh giá TN sư phạm 72
3.4.1. Nhận xét về tiến trình dạy học 72
3.4.2. Đánh giá kết quả học tập của HS 73
3.4.3. Đánh giá về việc thực nghiệm sư phạm 78
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Bảng 1.2 Mức độ hứng thú và tích cực của HS với môn Vật Lí 34
Bảng 3.1 Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu TN sư phạm 71
Bảng 3.2 Bảng kết quả bài kiểm tra 75
Bảng 3.3 Bảng xếp loại kiểm tra 75
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra 76
Bảng 3.5 Bảng tần số lũy tích hội tụ lùi 76
9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên viii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1. BĐTD về các bước vẽ BĐTD 25
Hình 1.2. Cách đọc BĐTD 26
Biểu đồ 1. Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra 75
Đồ thị 1. Đồ thị phân bố tần suất 76
Đồ thị 2. Đồ thị tần số lũy tích hội tụ lùi 77
10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
năng lực chuyển nhanh nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, đồng
thời phải chuyển một số lĩnh vực sản xuất thẳng sang nền kinh tế tri thức. Bồi dưỡng
nhân tài, hình thành và phát triển đội ngũ tri thức từ đó xuất hiện những người tài giỏi
có khả năng chỉ đạo, dẫn dắt tập thể của mình trong lao động sản xuất.
11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
Công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão và có nhiều ứng dụng trong
hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Trong dạy học vật lí, với đặc thù là môn khoa học
thực nghiệm, nếu tổ chức dạy học vật lí với ứng dụng của công nghệ thông tin thì sẽ
tăng cao hiệu quả của quá trình dạy học, đồng thời nó cũng khắc phục được những
giờ dạy mà thiết bị thông thường không thể thực hiện được. Các quá trình, các hiện
tượng vật lí và sự biến đổi của các đại lượng vật lí thường rất khó quan sát hoặc
không thể quan sát được một cách đầy đủ vì quá trình diễn ra rất nhanh hoặc diễn ra
trong một kích thước rất nhỏ. Điều đó gây khó khăn trong việc nghiên cứu tìm ra quy
luật của chúng. Những vấn đề đó sẽ được giải quyết khi ta biết ứng dụng Công nghệ
thông tin vào làm các thí nghiệm ảo. Các quá trình, các thí nghiệm phức tạp, khó
thành công sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Ta có thể quan sát cụ thể để từ đó đưa ra
được quy luật của chúng. Công nghệ thông tin đã, đang và sẽ có vai trò to lớn trong
việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học môn vật lí trong nhà trường.
Hiện nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng,
con số. Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não
trái, mà chưa sử dụng kỹ năng bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin
về nhịp điệu, màu sắc, không gian và cách ghi chép thông thường khó nhìn được
tổng thể của cả vấn đề. Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học,
cách ghi kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy
móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện
nổi bật” trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc phát huy tính tích cực nhận thức của học
sinh THPT qua quá trình dạy học, lí luận về bản đồ tư duy và phần mềm dạy học.
Nghiên cứu thực trạng của phát huy tính tích cực học tập của học sinh lớp
10 THPT.
Xây dựng tiến trình dạy học các kiến thức chương: “Động lực học chất
điểm” (Vật lí 10) với sự hỗ trợ của một số phần mềm dạy học và bản đồ tư duy theo
hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
Tổ chức dạy thực nghiệm ở một số trường THPT trong tỉnh Thái Bình.
6. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu xây dựng tiến
trình dạy học một số bài điển hình chương: “Động lực học chất điểm” ( Vật lí 10)
với sự hỗ trợ của một số phần mềm dạy học và bản đồ tư duy nhằm phát huy tính
tích cực nhận thức của học sinh.
13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan: Cơ sở về việc nhận thức của học sinh,
một số phần mềm dạy học, bản đồ tư duy.
Giải thích các vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu thực trạng học tập của học sinh lớp 10 THPT
7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Kiểm tra các giả thuyết khoa học đã đề ra
7.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí, phân tích kết quả để từ đó
thí nghiệm thực khi dạy phần Điện tích điện trường( Vật li 11 NC) nhằm phát huy
tính tích cực nhận thức của học sinh.
Vấn đề ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học được chú ý vào năm 2006 khi
dự án “ Ứng dụng công cụ phát triển tư duy, sơ đồ tư duy” của nhóm Tư duy mới,
Đại học Quốc gia Hà Nội được triển khai thực hiện. Dự án đã cung cấp công cụ
phát triển tư duy cho hơn 150 sinh viên là thành viên 11 câu lạc bộ của các trường
thuộc Quốc gia Hà Nội.
Từ 2006 đến nay, dự án phát triển giáo dục THCS II và viện KHGD đã triển
khai nghiên cứu, dạy thử nghiệm thành công thiết kế BDTD trong dạy học 1 số bộ
môn ở trường THCS Đống Đa, THCS Vĩnh Hưng- Quận Hoàng Mai(Hà nội) nhiều
trường ở Lạng Giang (Bắc giang), huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), 35 trường tham gia
dự án ở Bắc Kạn, Lai Châu, Lào Cai cho rằng phương pháp dạy học mới này sẽ trợ
giúp học sinh sử dụng sức mạnh của bộ não để học và ghi nhớ những gì đã học.
Quan trọng hơn phương pháp học này làm cho bài học được trình bày một cách
sáng tạo, phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, khiến cả thầy và trò đều
thấy lí thú.
Các đề tài nghiên cứu khoa học về bản đồ tư duy như: “Ứng dụng sơ đồ tư
duy trong dạy học nhóm” của tác giả Nguyễn Thị Hiền, ĐH Quốc gia HN, “Ứng
dụng sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả dạy tiếng anh” của tác giả Nguyễn Đặng
Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên – ĐH Sư Phạm Hà Nội đã đề cập đến việc ứng
dụng bản đồ tư duy và ý nghĩa của nó trong dạy học. Đối với môn vật lí vấn đề sử
dụng bản đồ tư duy vào quá trình dạy học đã có một số tác giả nghiên cứu như:
15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
Phạm Công Thám với đề tài: Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của Mind
map chương dòng điện trong các môi trường Vật Lí 11 NC” Lê Thị Kiều Oanh với
đề tài “ Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh với sự hỗ trợ của
phá những quy luật mới, những tri thức mới cho nhân loại thì đây là một quá trình
lâu dài, mò mẫm, tỷ mỷ bao hàm rất nhiều công đoạn.
Nhưng đối với người học thì những cái mới, tri thức mới đối với bản thân họ
là những cái đã có sẵn, đã được nghiên cứu, kiểm định. Bên cạnh đó, người học
trong quá trình lĩnh hội, trong hoạt động nhận thức của mình còn có sự chỉ dẫn,
hướng dẫn của nhà giáo dục do đó, những kiến thức, tri thức mới đến với người học
một cách dễ dàng, nhanh chóng nhưng điều này không có nghĩa rằng người học tiếp
thu, lĩnh hội những tri thức đó hoàn toàn thụ động mà việc nhận thức những tri thức,
kinh nghiệm lịch sử xã hội đó có sự thẩm định, kiểm tra và củng cố thường xuyên.
Người học nhận thức, lĩnh hội những tri thức mới bằng rất nhiều cách độc đáo phụ
thuộc vầo bản thân cá nhân mỗi người học. ở người học thì hoạt động nhận thức
được chỉ dẫn, hướng dẫn của nhà giáo dục nhưng chỉ có như thế thôi thì chưa đủ để
17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
nhận thức được những cái mới đối với bản thân người học, nó chưa thể tạo ra sự in
đậm, sự hiểu biết đầy đủ, toàn diện đối với tri thức đó, nó lại càng không thể tạo ra
được sự củng cố, kiểm nghiệm thường xuyên mà muốn có được điều ấy thì ở người
học phải có một quá trình khác diễn ra song song với quá trình giáo dục giữa nhà
giáo dục và người được giáo dục đó là quá trình tự giáo dục của người học.
Tính độc đáo trong hoạt động nhận thức của người học thể hịên không chỉ ở
những gì đã nêu trên mà nó còn thể hiện rất rõ rệt trong hoạt động tự giáo dục của
người học. Có những người không chịu sự tác động mạnh mẽ của nhà giáo dục thì
việc tự giáo dục đặc biệt có ý nghĩa trong hoạt động nhận thức của họ. Còn những
người chịu sự tác động của nhà giáo dục thì việc giáo dục của bản thân là nhân tố
quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh hoạt động nhận thức của họ, nó luôn thôi thúc
tìm tòi những cái mới, nó tạo ra nhận thức nhanh chóng, dễ dàng những tri thức
mới, nó còn tạo ra sự kiên định, củng cố tri thức đó.
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh thể hiện ở những hoạt
động trí tuệ là tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời
giải hay của một bài toán khó cũng như hoạt động chân tay là say sưa lắp ráp tiến
hành thí nghiệm. Trong học tập hai hình thức biểu hiện này thường đi kèm nhau tuy
có lúc biểu hiện riêng lẻ.
1.1.3.2. Các dấu hiệu về tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh: [26]
– Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ
sung các câu trả lời của bạn và thích được phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề
nêu ra.
– Học sinh hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề các em
chưa rõ.
– Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã có để
nhận thức các vấn đề mới.
– Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin
mới nhận từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vượt ra ngoài phạm vi bài học,
môn học.
1.1.3.3. Cấp độ của tính tích cực trong hoạt động nhận thức [26]
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh phổ thông có thể phân
biệt theo 3 cấp độ sau:
19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
- Sao chép, bắt chước: Kinh nghiệm hoạt động bản thân học sinh được tích
luỹ dần thông qua việc tích cực bắt chước hoạt động của giáo viên và bạn bè. Trong
hoạt động bắt chước cũng có sự gắng sức của thần kinh và cơ bắp.
- Tìm tòi, thực hiện: Học sinh tìm cách độc lập suy nghĩ để giải quyết các bài
tập nêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau và từ đó tìm ra lời giải hợp lý nhất
cho vấn đề nêu ra.
- Kích thích hứng thú qua nội dung: Đây là biện pháp các giáo viên hay sử dụng
nhất. Tùy thế mạnh của từng môn học mà cách kích thích hứng thú cũng khác nhau.
Thí dụ, môn toán tuy khó và khô khan nhưng vẫn được nhiều người ưa thích vì logic
chặt chẽ, vì tính rõ ràng cân đối và hàm xúc của nội dung. Những bài giảng hay thường
đi đến kết luận một cách gọn gàng, minh bạch. Môn Vật lí, Sinh học, Văn học, Lịch sử
…đều có những đặc thù và thế mạnh riêng trong việc kích thích hứng thú.
Nhưng nhìn chung, muốn kích thích được hứng thú của học sinh thì nội
dung phải mới, nhưng cái mới ở đây không phải là một cái gì quá xa lạ với các em,
mà cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ, phát triển những kiến thức và kinh
nghiệm mà các em đã có, phải gắn liền với cuộc sống hiện tại và sự phát triển tương
lai của các em. Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt và suy nghĩ
hằng ngày, phải thỏa mãn nhu cầu nhận thức và thực tiễn của các em.
- Kích thích hứng thú qua PPDH: Cùng một nội dung như nhau nhưng bài
học diễn ra có hứng thú không, có để lại những ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn các
em không thì phụ thuộc rất lớn vào PPDH, sự nhạy cảm và tài năng sáng tạo của
người giáo viên.
Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh phải phối hợp nhiều
phương pháp khác nhau, nhưng những phương pháp có tác dụng tốt nhất trong việc
tích cực hóa hoạt động nhận thức là: dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành,
thảo luận, tự học, trò chơi học tập …
- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kĩ thuật
dạy học hiện đại: Đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao tính tích
cực của học sinh và giúp nhà trường đưa chất lượng dạy học lên một tầm cao mới.
Việc sử dụng máy tính, các phần mềm dạy học, phương tiện trình chiếu
sẽ tăng kênh hình và kênh tiếng trong các hoạt động học tập của học sinh. Nhờ có
21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
13
gian và thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học. Hoạt động học, chủ
thể là người học, hướng vào đối tượng học, tiếp nhận và chuyển hóa nó, biến thành
của riêng, qua đó phát triển chính bản thân mình. Hoạt động dạy, chủ thể là người
dạy, hướng vào đối tượng dạy, làm cho nó trở thành đối tượng của sự điều khiển
của mình. Vai trò và tính chất của hoạt động dạy cũng như vị thế của người dạy tùy
thuộc vào việc hoạt động dạy có đối tượng là gì.
Thứ hai: Hoạt động dạy và học đều phải được tiến hành trên bản thể của quá
trình dạy học là nội dung dạy học (NDDH). NDDH là yếu tố khách quan, quyết
định tiến trình và phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học.
Thứ ba: Kết quả của quá trình dạy học là làm biến đổi ở người học những
đặc tính nào đó đã được xác định từ trước và tương ứng với nội dung dạy học. Nói
cách khác, phải thực hiện được mục đích của chính QTDH đó.
Thứ tư: Một QTDH bất kì bao giờ cũng phải được tiến hành trong khoảng
không gian, thời gian nhất định (một tiết dạy, một bài, một khóa đào tạo, bồi dưỡng
v.v…) và chịu sự chế ước bởi các điều kiện kinh tế - xã hội - văn hóa nhất định. Nói
cách khác, quá trình dạy học phải là một quá trình học tập có kiểm soát và điều
khiển được.
1.2.2. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực trong nhận thức cho học sinh
1.2.2.1. Quan niệm dạy học theo hướng tích cực [27]
Khi nói tới phương pháp tích cực, thực tế là nói tới một nhóm các phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Cơ sở của phương pháp luận là lý luận, trong quá trình dạy học cần kích
thích sự hứng thú trong học tập cho học sinh, cần phát huy tính tích cực, tính tự lực
sáng tạo trong học tập của học sinh.
Để làm điều đó đòi hỏi người thầy giáo phải lựa chọn, tìm tòi những phương
pháp dạy học phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật
chất, và đây là một hoạt động sáng tạo của người thầy trong hoạt động dạy.
Muốn tổ chức, hướng dẫn tốt hoạt động học tập vật lí của học sinh mà thực
chất là hoạt động nhận thức vật lí, người giáo viên cần nắm vững quy luật chung
nhất của quá trình nhận thức khoa học, lôgic hình thành các kiến thức vật lí, những
hành động thường gặp trong quá trình nhận thức vật lí, những phương pháp nhận
thức vật lí phổ biến để hoạch định những hành động, thao tác cần thiếtcủa học sinh
24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
trong quá trình chiếm lĩnh một kiến thức hay một kỹ năng xác định và cuối cùng là
nắm được những biện pháp để động viên khuyến khích học sinh tích cực, tự lực
thực hiện các hành động đó, đánh giá kết quả hành động.
c. Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học, tư nghiên cứu
Muốn phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thì cần xem
việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một phương tiện
nâng cao hiệu quả dạy học mà phải xem đó là một mục tiêu dạy học. Trong một xã
hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ
phát triển như vũ bão thì việc dạy học không thể hạn chế ở chức năng dạy kiến thức
mà phải chuyển mạnh sang dạy cả phương pháp học.
d. Dạy học chú trọng đến việc trau dồi kiến thức và bồi dưỡng kĩ năng, kĩ xảo
Quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức, học sinh
phải tự nỗ lực, tích cực cao trong hoạt động nhận thức của bản thân.
Tính tích cựcthể hiện ở nhiều mức độ và dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy
nhiên, việc bồidưỡng kỹ năng, kỹ xảo thể hiện rõ trong việc tích cực hoá hoạt động
nhận thức, kỹ năng bao gồm các kỹ năng thu nhập và xử lý thông tin như: quan sát,
thực nghiệm, lấy số liệu, tra cứu, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, rút ra kết luận, xây dựng
các dự đoán, các giả thuyết khoa học Các kỹ năng này sẽ được trau dồi thông qua
hoạt động tích cực của bản thân trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Cũng thông qua
hoạt động này ta đã rèn luyện cho học sinh tác phong làm việc khoa học, thể hiện