đại học thái
nguy
ê
n
TRNG I HC S
P
HM
mai thị vân
h
ải
nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại
khoá
phần "quang học" với sự hỗ trợ của công nghệ thông
tin
nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh
thpt
luận văn thạc sĩ khoa học giáo
dụ
c
thái nguyên,
2008
đại học thái
nguy
ê
n
TRNG I HC S
P
HM
mai thị vân
Vượng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên
cứu và hoàn thành luận
văn.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Trưởng, Phó các phòng, Khoa, Tổ bộ
môn
và các thầy, cô giáo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã
tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu.
Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã cổ vũ, động viên và
tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá
học.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do khả năng có hạn nên không
tránh
khỏi những sai sót. Rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô và các
bạn
đồng nghiệp.
Tác giả luận
văn
Mai Thị Vân
Hải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p
://ww w .l r c
- t nu . e
HS
CNTT
PPDH
SGK
HĐNK
THCS
TNSP
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi
Nguyờn
h tt p
://ww w .l r c
- t nu . e
d
u . v
n
Mục lục
Mở đầu
1
Ch
ơng
I: Cơ sở lí luận về việc tổ chức hoạt động ngoại khoá vật
lí
ở
tr
ờng
phổ
thông
16
1.2.1. Đặc điểm của môn vật lí ở
tr
ờng
phổ
thông
16
1.2.2. Các nhiệm vụ của việc dạy học môn lý ở
tr
ờng
phổ thông
16
1.3. Định
h
ớng
đổi mới PPDH Vật lí ở
tr
ờng
phổ thông
18
ơng
II: Nghiên cứu xây dựng và tổ chức hoạt động ngoại
khoá
phần ''quang học" với sự hỗ trợ của CNTT
34
2.1 Nội dung, kiến thức phần "Quang học" trong
ch
ơng
trình Vật
L
í THPT
-
SGK mới
34
2.1.1 Phân phối
ch
ơng
trình
34
2.1.2 So sánh về nội dung kiến thức phần "Quang học" giữa SGK mới và
SG
K
cải cách giáo dục
35
2.1.3 Các kiến thức và kỹ năng cơ bản mà học sinh cần phải đạt
- t nu . e
d
u . v
n
2.2 Quan điểm sử dụng CNTT trong hoạt động ngoại khoá để góp phần
giải
quyết những khó khăn trên
467
2.2.1 Tính hiệu quả
s
phạm
47
2.2.2 Tính hiện đại
48
2.2.3 Tính thực
tiễn
49
2.2.4 Tính thẩm mỹ
49
2.2.5 Tính mềm
dẻ
o
49
2.3 Kế hoạch hoạt động ngoại khoá phần "Quang học" cho học sinh TTPT
3.1.1 Mục đích
75
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm
s
p
hạm
75
3.2 Đối
t
ợng,
thời gian tiến hành TNSP
75
3.2.1 Đối
t
ợng
75
3.2.2 Thời gian tiến hành
76
3.3
P
h
ơng
pháp TNSP
76
3.4 Phân tích và đánh giá kết qủa TNSP
86
Bài báo của học viên liên quan đến luận văn đã
đ
ợc
công bố
88
Tài liệu tham khảo
89
Phụ lục
92
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p
://ww w .l r c
-
t nu . e
d
u . v
n
I. Lí do chọn đề
tài:
MỞ
mẽ
về
phương pháp dạy học. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
đã
quán
triệt tinh thần đổi mới phương pháp dạy học: “Tăng cường đổi mới
phương
pháp giảng dạy, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo
của
người
học, coi trọng thực hành, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh
nhồi nhét,
học
vẹt, học
chay ”.
Điều 28.2 Luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ
thông
phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp
với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học,
rèn
luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm,
đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh ”.
Trong dạy học ở nhà trường phổ thông hiện nay, người ta thường
sử
ở
Quảng Ninh và một số tỉnh chúng
tô
i thấy hoạt động ngoại
khoá chưa
được
coi trọng đúng mức, nếu có thì việc tiến hành còn mang
tính chất bắt
buộc,
chưa thường xuyên, hình thức còn mang tính truyền
thống, chưa khai
thác
được nhiều vai trò của công nghệ thông tin vào hoạt
động này, vì vậy kết
quả
thu được còn
thấp.
Phần “Quang học” chiếm một tỉ lệ lớn trong chương trình Vật lí
của
THPT. Kiến thức phần “Quang học” tương đối khó, có nhiều hiện
tượng
không quan sát được trực tiếp và hiếm khi xảy ra. Hơn nữa do thiết
b
ị
thí
nghiệm còn ít, không chính xác, trong quá trình giảng dạy giáo viên
phải
sử
dụng nhiều phương tiện truyền thống như tranh vẽ, bảng, phấn và
phải vẽ
II. Mục đích nghiên
cứu:
Nghiên cứu việc sử dụng CNTT trong việc tổ chức hoạt động
ngoại
khoá phần “Quang học” cho học sinh THPT nhằm củng cố, nâng
cao
kiến
thức, kích thích sự hứng thú, phát huy tính tích cực cho học
sinh.
III. Khách thể và đối
tƣợng
nghiên
cứu:
K
h á
c h
t h ể
: Quá trình dạy học vật lí phần “Quang học” ở
trường
THPT
Đ
ố i
- Nghiên cứu những cơ sở lí luận của việc ứng dụng CNTT trong
dạy
học nói chung và trong dạy học Vật lí nói
riêng.
- Nghiên cứu một số chức năng hỗ trợ của CNTT trong dạy
học.
- Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp việc tổ chức dạy học
ngoại
khoá Vật lí tại các trường
THPT.
- Soạn thảo tiến trình buổi ngoại khoá phần “ Quang học”
thuộc
chương trình
THPT.
- Tổ chức thực nghiệm, đánh giá kết quả thực nghiệm, rút ra các
kết
luận cần
thiết.
4
VI. Giới hạn của đề
tài:
Nghiên cứu những vấn đề chung nhất của nội dung kiến thức
phần
“Quang học”, những khó khăn mà HS gặp phải khi dạy và học phần này;
dừng
lại ở việc xây dựng nội dung một số giáo án hoạt động ngoại khoá
phần
“Quang học” cho học sinh THPT dưới hình thức “Hội vui” và
hình
thức
trường
THPT.
3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm, thống kê
đ
iều tra để đánh giá kết
quả
thu được so với mục đích nghiên cứu của đề
tài.
IX. Đóng góp của đề
tài:
- Góp phần đưa cơ sở lí luận của hoạt động ngoại khoá vào thực
tiễn
- Làm rõ hơn về vai trò của CNTT trong quá trình đổi mới
PPDH.
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho hoạt động ngoại khoá ở các
trường
THPT.
- Góp phần vào công cuộc đổi mới PPDH, phối hợp đa phương tiện
trong
dạy học nói chung và trong dạy học Vật lí nói
riêng.
5
X. Cấu trúc của luận
văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận , phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm
3
chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về việc tổ chức hoạt động ngoại khoá Vật lí
ở
thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được cụ thể hoá trong Luật
giáo
dục(2005) như sau: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm
hình
thành con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động,
tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
.
1.1.1.2 Nhiệm vụ của quá trình dạy
học
Để đào tạo con người đủ phẩm chất và năng lực thoả mãn yêu cầu xã
hội,
quá trình dạy học phải thực hiện các nhiệm vụ
sau:
* Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, hiện
đại,
phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội – nhân văn, đồng
thời
rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
.
Trong dạy học, phải tổ chức cho người học nắm vững hệ thống kiến
thức
phổ thông cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nước về tự nhiên, xã hội , tư
duy.
Những kiến thức khoa học phổ thông cơ bản được cung cấp cho
trên.
*Tổ chức điều khiển người học hình thành phát triển năng lực và
những
phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo, phát triển
thể
lực nâng cao sức khoẻ để phục vụ học tập và lao động
.
Trong quá trình dạy học, người GV cần chú ý phát triển ở HS các
năng
lực trí tuệ sau : năng lực định hướng đúng vấn đề cần nghiên cứu trong
thực
tế, năng lực tư duy trừu tượng, năng lực di chuyển hành động trí tuệ, dự
đoán
diễn biến của các hiện tượng, năng lực tổ chức lao động trí óc một
cách
khoa
học, năng lực tự học, năng lực hoạt động nhận thức độc lập, sáng
tạo.
Đứng trước sự bùng nổ thông tin, khoa học công nghệ, việc hình
thành
cho HS năng lực học một cách độc lập, sáng tạo giữ vai trò hết
sức
quan
trọng, nó là cơ sở để giúp con người có thể học tập thường xuyên
và học
tập
suốt
đời.
Bên cạnh việc phát triển các năng lực trí tuệ, quá trình dạy học có
nhiệm
iều kiện đòi
hỏi
người học không ngừng vươn lên với sự nỗ lực cao
nhất.
Để phát triển trí tuệ cần chú ý tới các điều kiện
sau:
+ Nắm được đặc điểm của đối tượng, đặc biệt là trình độ nhận thức
của
đối
tượng.
+ Lựa chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp
lý.
+ Có phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của
HS.
Bên cạnh việc phát triển trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ chăm
lo
phát triển thể lực cho HS, giúp các em có sức khoẻ để học tập và tham gia
các
hoạt động
khác.
* Tổ chức điều khiển người học, hình thành phát triển thế giới quan
khoa
học, nhân sinh quan và các phẩm chất của người công dân, người lao động
có
bản lĩnh và bản nghĩa cộng
đồng.
Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có
nhiệm
vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên,
xã hội
s
inh quan và các phẩm chất đạo dức của con người từ
đó hình thành
con
người mới đáp ứng yêu cầu của xã
hội.
9
1.1.1.3 Nguyên tắc dạy
học
Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có
tính
chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình
thức
dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và với
những
tính
quy luật của quá trình dạy
học.
Hệ thống các nguyên tắc dạy học bao
gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo
dục
trong dạy
học.
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi
đôi
với hành, nhà trường gắn liền với đời
sống.
- Nguyên tắc tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy
học.
của GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhất
đ
ịnh
với
những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực
hiện
những
nhiệm vụ dạy
học.
Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc
dạy
học có tính tập thể hay có tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động
nhận
10
thức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập
của
HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học
tập.
Trong thực tế dạy học, người ta phân
b
iệt ba dạng tổ chức dạy học:
dạng
toàn lớp, dạng nhóm, dạng cá
nhân.
1.1.2.1 Các dạng tổ chức dạy học cơ
bản
* Dạng toàn lớp: Là dạng trong đó, mỗi học sinh đồng thời hoàn
thành
những nhiệm vụ nhận thức
chung.
sinh những mâu thuẫn giữa những yêu cầu của GV và mức độ tích cực
của
cá
nhân HS riêng biệt , những yêu cầu do GV nêu ra hoặc khó quá, hoặc
quá
dễ
so với trình độ của từng
HS.
* Dạng cá nhân: Là dạng mà mỗi HS độc lập hoàn thành nhiệm vụ học
tập
theo trình độ và khả năng riêng của mình, không có sự tác động
của
bạn
bè.
- Ưu điểm: Phù hợp với mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân HS
về
trình độ nhận thức, tốc độ nhận thức, tốc độ làm việc. Dạng này tạo điều
kiện
11
thuận lợi cho mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng của mình, rèn luyện
năng
lực nhận thức độc lập. Mặt khác, đối với GV về mặt giảng dạy có thể
cá
biệt
hoá cao độ trong việc đưa ra nhiệm vụ nhận thức, kiểm tra và đánh
giá
kết
quả của
HS.
- Nhược điểm: Dễ làm mất nhiều thời gian, đòi hỏi GV mất nhiều
tiễn
dạy học ở nước ta, quá trình dạy học được thực hiện bởi nhiều
hình thức,
có
thể kể đến một số hình thức
sau:
* Hình thức lớp – bài: Đây là hình thức dạy học cơ bản, là hình thức
GV
lên lớp trình bày nội dung kiến thức của một tiết, bài. Đây là hình thức
được
thực hiện cho một nhóm người học có cùng lứa
tuổ
i, cùng trình độ
nhận
thức.
Do đó hình thức này có thể sử dụng để đào tạo hàng loạt HS đáp
ứng yêu
cầu
phổ cập giáo dục cũng như yêu cầu đào tạo công nhân lao
động. Hình
thức
này đảm bảo truyền tải đến người học những tri thức cơ
bản, những kỹ
năng,
kỹ xảo cần thiết phục vụ cho đời sống cũng như lao
động sản
xuất.
Tuy nhiên hình thức này vấp phải nhược điểm là không có đủ thời gian
để
HS nắm vững ngay tri thức, GV không có đủ điều kiện để chú ý đầy đủ
GV
Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi tính tự giác, tích cực, tự lực rất cao của
HS
và đòi hỏi
GV
phải có những biện pháp phù hợp mới đem lại hiệu quả
cao.
*Hình thức hoạt động ngoại
khoá:
Với hình thức này, HS có thể tham quan học tập, tổ chức thảo luận
theo
chuyên đề, tổ chức các buổi dạ hội theo các chủ đề kiến
thức
Đối với hình thức này HS có thể mở rộng, đào sâu tri thức, phát
triển
hứng thú và năng lực riêng của mình, đồng thời có thể giúp HS định
hướng
nghề nghiệp trong tương lai. Ngoài ra, tham quan, ngoại khoá hay
thảo
luận
một chuyên đề nào đó cũng giúp HS phát triển óc quan sát, trí
tò mò
khoa
học, bồi dưỡng HS phương pháp quan sát và phương pháp phân
tích, tổng
hợp
những tài liệu thu lượm được. Ngoài ra HS còn được rèn
luyện kỹ năng,
kỹ
xảo thực hành, sử dụng các kiến thức đã học để giải
công sức trong việc tìm chủ đề và nội dung cho hoạt động này. HĐNK
cần
sự
phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và cả ngoài xã
hội
trong
việc tổ chức hoạt động cũng như sự hỗ trợ về kinh
phí.
* Hình thức giúp đỡ riêng: Trong quá trình dạy học tất yếu sẽ có sự
phân
hoá về trình độ nhận thức và sẽ xuất hiện hai loại HS: Yếu – kém, khá - giỏi
mà
việc dạy học được tiến hành trên cơ sở chung không thoả mãn những HS
này.
Tóm lại, mỗi một hình thức dạy học đều có những ưu nhược điểm
nhất
định, Để hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu về đổi
mới
giáo dục của nước ta hiện nay đòi hỏi người GV phải
b
iết phối kết
hợp
các
hình thức dạy học, lựa chọn các hình thức dạy học sao cho phù hợp
với
mục
đích, mục tiêu đã đặt ra đối với từng cấp học, môn
học.
1.1.3 Tính tích cực của học sinh trong học
tập
mình.
1.1.3.2 Các biểu hiện của tính tích cực học
tập
Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu thị ở những hoạt động
bên
ngoài nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai
hình
thức biểu hiện này thường đi liền với nhau. Theo G.I Sukina (1979)
có
thể
nêu những biểu hiện của tính tích cực hoạt động như
sau:
+ Học sinh khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV,
bổ
sung các câu hỏi của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về
vấn
đề
đặt
ra.
+ Học sinh hay nêu ra các thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những
vấn
đề giáo viên trình bày chưa
rõ.
+ Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã
học
để phát hiện ra những vấn đề
mới.
+ Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy những thông tin mới
lấy
từ nhiều nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài bài học, môn
15
+ Cấp độ 1 - Bắt
ch
ƣ
ớc:
Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của
GV
và của bạn bè. Trong hành động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của
thần
kinh và cơ
bắp.
+ Cấp độ 2 - Tìm tòi: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề,
mò
mẫm để tìm ra lời giải hợp lý cho vấn đề đang đặt
ra.
+ Cấp độ 3 - Sáng tạo: Học sinh nghĩ ra cách giải mới độc đáo hoặc
cấu
tạo những bài tập mới, hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới để
chứng
minh bài
học.
Như vậy, đối với HS tất cả những gì mà GV chưa dạy, HS chưa biết,
qua
trao đổi với bạn bè mà họ “tự nghĩ ra” đều coi như mang tính sáng tạo. Các
nhà
khoa học đều cho rằng trong quá trình hoạt động sáng tạo, lúc cần đến
sự
sáng
tạo là lúc mà không tìm ra con đường lôgic
để
* Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật
chất,
cho nên những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự
nhiên,
nhất là của hoá học và sinh
học.
* Vật lí ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm. Phương
pháp
của nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm. Đó là phương pháp nhận
thức
có
hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan. Phương pháp