Tổ chức các hoạt động khám phá cho học sinh trong dạy học hình học không gian ở trường trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG ĐỨC CHINH

TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC
KHÔNG GIAN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC
KHÔNG GIAN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Trung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3
iMỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 5
1.1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 5
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 6
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 7
1.2. Phương pháp dạy học khám phá 9
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.2. Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học khám phá 13
1.2.3. Tính chất của phương pháp dạy học khám phá 17
1.3. Tổ chức hoạt động khám phá trong dạy học 18
1.3.1. Các hình thức, cấp độ của hoạt động khám phá 18
1.3.2. Quy trình tổ chức hoạt động khám phá trong dạy học toán 25
1.3.3. Các thể hiện của hoạt động khám phá trong dạy học hình học 29
1.4. Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ tổ chức hoạt động khám phá
trong dạy học hình học ở trường Trung học phổ thông 33
1.4.1. Khả năng sử dụng phần mềm hình học động tổ chức hoạt động khám
phá cho học sinh 34
1.4.2. Sử dụng WebQuest để học sinh khám phá qua mạng 38

dạy học định lý 75
2.3.3 Khai thác phần mềm Cabri3D tổ chức các hoạt động khám phá khi
dạy học giải bài tập 80
2.4. Kết luận chương 2 93
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. 94
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm 94
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5

3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm 94
3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm 95
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm. 97
3.5. Kết luận chương 3. 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦATÁC GIẢ CÓ
LIẾN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Phụ lục 1. 107
Phụ lục 2 110
Phụ lục 3 112

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn6
ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Viết tắt Viết đầy đủ
CNTT Công nghệ thông tin
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
DHKP Dạy học khám phá

dục. Xuất phát từ những ưu điểm về mặt kĩ thuật và tiềm năng về mặt sư
phạm của CNTT mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định CNTT là một phương
tiện quan trọng góp phần đổi mới giáo dục. Dạy học Toán với sự hỗ trợ của
CNTT sẽ góp phần tạo nên môi trường học tập mang tính tương tác cao, giúp
học sinh (HS) học tập hiệu quả hơn, giáo viên (GV) có cơ hội tốt để xây dựng
các kịch bản sư phạm phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS, phát triển tư
duy, nhân cách của HS. Hiện nay, các sản phẩm CNTT phục vụ cho việc dạy
và học môn Toán khá phong phú, giáo viên sẽ có điều kiện tạo tình huống có
vấn đề, phát huy hứng thú nhận thức của HS trong các giờ học toán.
Trong chương trình Trung học phổ thông (THPT), Hình học là môn
học có tầm quan trọng rất lớn đối với học sinh. Nó không những trang bị cho
học sinh những kiến thức cơ bản về hình học mà còn là phương tiện để học
sinh rèn luyện các phẩm chất trí tuệ và các kỹ năng nhận thức. Trong quá
trình vận dụng kiến thức giải các bài tập về chứng minh, dựng hình, quỹ tích
học sinh có thể rèn luyện tư duy logic, tư duy thuật giải và tư duy biện chứng.
Tuy nhiên kiến thức hình học, đặc biệt là hình học không gian, là mảng kiến
thức khó đối với học sinh. Chính vì vậy trong dạy học hình học không gian
việc sử dụng các phương tiện trực quan là rất cần thiết. Xu thế chung của vấn
đề đổi mới PPDH môn Toán ở nhiều nước là phải sử dụng nhiều loại hình
phương tiện dạy học nhằm hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy hoạt động nhận thức tích
cực của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn8
2
Trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, có nhiều phương pháp
mới được vận dụng vào bài giảng bên cạnh các phương pháp dạy học truyền
thống như: Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học theo
nhóm nhỏ, dạy học theo lý thuyết tình huống, dạy học khám phá, Tất cả các
phương pháp đó đều có thể vận dụng và phối hợp một cách nhuần nhuyễn để
đạt được mục đích dạy học. Giáo viên cần nắm chắc các phương pháp, biết
được điểm mạnh của mỗi phương pháp từ đó có cách phối hợp các phương

3.3. Phạm vi nghiên cứu: Khai thác phần mềm hình học động và
WebQuest hỗ trợ hoạt động khám phá kiến thức hình học không gian của học
sinh lớp 11 Trung học phổ thông (Nâng cao).
4. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở nội dung sách giáo khoa THPT, nếu sử dụng CNTT một
cách hợp lý trong tổ chức các hoạt động khám phá cho học sinh thì sẽ phát
huy tích tích cực học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
hình học không gian.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về dạy học khám phá (DHKP). Phân
tích bản chất và hình thức tổ chức phương pháp dạy học khám phá. Hệ thống
hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng CNTT trong dạy học môn
Toán ở trường THPT theo hướng DHKP.
5.2. Khai thác CNTT trong tổ chức các hoạt động khám phá với các
tình huống dạy học điển hình trong chương trình hình học không gian góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường THPT.
5.3. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học và đánh
giá tính khả thi, hiệu quả của việc sử dụng CNTT hỗ trợ tổ chức các hoạt
động khám phá cho học sinh trong dạy học hình học không gian ở trường
Trung học phổ thông .
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về
các vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn10
4
6.2 Phương pháp điều tra – quan sát: Quan sát, thăm dò thực trạng về
vấn đề sử dụng CNTT làm phương tiện trực quan trong dạy học môn Toán ở
trường phổ thông qua các hình thức: Dạy thử nghiệm, sử dụng phiếu điều tra,
dự giờ, quan sát, phỏng vấn trực tiếp.
6.3. Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm tại một số trường

phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo của học sinh. Từng bước áp dụng các phương pháp
tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và
thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS ".
Tại điều 5, chương I, Luật Giáo dục đã ghi: "Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh;
bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn
lên”.
Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nước trong thời kỳ hội nhập đang
đòi hỏi cấp bách nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Mục tiêu giáo dục
trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ
năng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡng cho HS
năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học, cùng
với những thay đổi về mục tiêu, nội dung, cần có những thay đổi căn bản về
phương pháp dạy học (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả hình thức, phương tiện và
kiểm tra, đánh giá). Tồn tại của PPDH hiện nay là việc GV thường cung cấp
cho HS những tri thức dưới dạng có sẵn, thiếu yếu tố tìm tòi, phát hiện; việc
GV dạy chay, áp đặt kiến thức khiến HS thụ động trong quá trình chiếm lĩnh
tri thức. Đây là những lý do dẫn tới nhu cầu đổi mới PPDH nhằm đáp ứng yêu
cầu đào tạo con người lao động sáng tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn12
6
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Từ nhu cầu đổi mới PPDH, các nhà khoa học giáo dục nước ta như
Nguyễn Bá Kim [12], Nguyễn Hữu Châu [2], Thái Duy Tuyên [29], Trần
Kiều [8], Trần Bá Hoành [6], đã khẳng định hướng đổi mới PPDH trong
giai đoạn hiện nay là: "Phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho

những định hướng này.
1.1.3 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Một PPDH nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách đều có thể phát huy
tính tích cực học tập của HS. Theo Trần Bá Hoành [5], PPDH tích cực là
thuật ngữ chỉ các PPDH có thế mạnh trong phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của HS. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá
HS. Có thể nêu bốn dấu hiệu đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực đó là [5]:
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS.
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS.
Dấu hiệu của tính tích cực rất đa dạng và việc tích cực hoá hoạt động
nhận thức rất phức tạp. Việc tích cực hoá phải đem lại kết quả được nhận thấy
ở sự tăng cường độ, tốc độ, nhịp độ của hoạt động cũng như tính bền vững
của quá trình nhận thức. Điều này giải thích quan niệm coi tính tích cực như
là mức độ cao của hoạt động nhận thức ([5] ). Nó đem lại hiệu quả trí dục và
có ý nghĩa cải tạo đối tượng nhận thức. Cần phân biệt khái niệm tính tích cực
với khái niệm tích cực hoá. Nếu tính tích cực là một phẩm chất của nhân cách,
liên quan đến sự nỗ lực hoạt động của HS, thì tích cực hoá lại là việc làm của
GV.
Theo Thái Duy Tuyên: Tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS là
tập hợp các hoạt động của GV nhằm giúp HS từ thụ động sang chủ động, từ
đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu
quả học tập [29].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
8
Làm cho HS từ chỗ lơ là, lười biếng đến chỗ tích cực, say mê học tập là
cả một công việc khó khăn. Nhưng đây là công việc rất quan trọng, vì nếu HS
không tích cực, nỗ lực học tập thì GV dẫu có giỏi đến đâu, có cố gắng bao
nhiêu cũng không mang lại hiệu quả. Vì vậy tích cực hoá hoạt động nhận thức

nhu cầu nhận thức của HS. Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong
các tình huống mới.
- Dùng các PPDH đa dạng: Nêu vấn đề, so sánh, tổ chức thảo luận,
seminar và phối hợp chúng với nhau. Kiến thức phải được trình bày trong
dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then
chốt, có lúc diễn ra đột ngột, bất ngờ. Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học
khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan.
- Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại. Phát triển kinh nghiệm
sống của HS trong học tập qua các phương tiện thông tin đại chúng và các
hoạt động xã hội.
- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa GV với HS.
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật kịp thời, đúng mức.
Tạo không khí thi đua lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói
chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt. Có sự động viên,
khen thưởng từ phía gia đình và xã hội.
1.2 Phương pháp dạy học khám phá
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
J.Richard Suchman, cha đẻ của chương trình dạy học khám phá đã từng
nói rằng “Khám phá là cách mọi người học khi họ đơn độc”. Đối với
Suchman, khám phá là một cách tự nhiên mà loài người tìm hiểu về môi
trường của mình. Hãy nghĩ đến một đứa trẻ bị để một mình ở một sân chơi
với một số đồ vật để em tự do khám phá. Đứa trẻ, không cần đến sự dỗ dành,
sẽ bắt đầu khám khá các đồ vật bằng cách ném, sờ, kéo, đập chúng và cố lấy
chúng đi. Đứa trẻ học về các vật dụng đó, và tìm hiểu xem các vật dụng đó
tương tác với nhau như thế nào, bằng cách khám phá chúng, bằng cách phát
triển những ý tưởng của bản thân em về các đồ vật đó – nói tóm lại tìm hiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn16
10
về các đồ vật bằng cách tự khám phá. Nhiều tác giả đã thảo luận về bản chất
của khám phá và đã sử dụng những từ như suy nghĩ quy nạp, suy nghĩ sáng

nạp(Inductive Inquiry); Khám phá diễn dịch (Deductive Inquiry); Dạy học
khám phá dự án (hay là dạy học dự án - Project Based Inquiry)…
Trong [21, tr 610]: Khám phá là tìm ra, phát hiện ra cái còn dấu, cái bí
mật.
Trong [14, tr 159]: Khám phá là quá trình hoạt động và tư duy, có thể
bao gồm Quan sát, phân tích, nhận định, đánh giá, nêu giả thuyết, suy
luận…nhằm đưa ra các khái niệm, phát hiện ra những tính chất, quy luật…
trong sự vật hiện tượng và mối liên hệ giữa chúng.
Trong [11, tr 30] đưa ra khái niệm chung về khám phá và dạy học
khám phá như sau:
- "Khám phá" là một quá trình có mục đích của việc chiếm lĩnh tri thức,
giải quyết vấn đề.
- "Dạy học khám phá" là một quá trình, trong đó dưới vai trò định
hướng của người dạy, người học chủ động việc học tập của bản thân, hình
thành các câu hỏi đặt ra trong tư duy, mở rộng công việc nghiên cứu, tìm
kiếm; từ đó xây dựng nên những hiểu biết và tri thức mới. Những kiến thức
này giúp cho người học trả lời các câu hỏi, tìm kiếm các phương pháp khác
nhau để giải quyết vấn đề, chứng minh một định lý hay một quan điểm.
Theo tác giả Lê Võ Bình [1], hoạt động khám phá là quá trình tư duy
bao gồm quan sát, phân tích, đánh giá, nêu giả thuyết và suy luận nhằm phát
hiện các khái niệm, những thuộc tính mang tính quy luật của đối tượng hoặc
các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng mà chủ thể chưa từng biết trước
đó.
Như vậy, có thể nói, dạy học khám phá là một quá trình, trong đó dưới
vai trò định hướng của người dạy, người học chủ động việc học tập của bản
thân, hình thành các câu hỏi đặt ra trong tư duy, mở rộng công việc nghiên
cứu, tìm kiếm; từ đó xây dựng nên những hiểu biết và tri thức mới. Những
kiến thức này giúp cho người học trả lời các câu hỏi,tìm kiếm các giải pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn18
12

Dạy học khám phá là một phương pháp hướng dẫn, định hướng nhưng
không phải là phương pháp duy nhất mà các nhà sư phạm sử dụng. Khám phá
là sự tìm tòi tích cực, bao gồm nhiều quá trình mà qua đó biến kinh nghiệm
trở thành kiến thức. PPDHKP thường được thực hiện qua hàng loạt hoạt
động, trong đó GV khéo léo đặt HS vào địa vị người phát hiện lại, khám phá
lại những tri thức trong kho tàng kiến thức của nhân loại thông qua những câu
hỏi hoặc những yêu cầu hành động, mà khi HS giải đáp hoặc thực hiện được
thì sẽ dần xuất hiện con đường dẫn đến tri thức. Mục đích của PPDHKP
không chỉ là làm cho HS lĩnh hội sâu sắc những tri thức của môn học, mà
quan trọng hơn là trang bị cho họ những thủ pháp suy nghĩ, những cách thức
phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính độc lập, sáng tạo.
1.2.2 Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học khám phá
1.2.2.1 Cơ sở triết học và tâm lý học
Quá trình tích lũy kiến thức của con người chủ yếu là tự học, tự khám
phá về thế giới. J.Richard Suchman (Dẫn theo [17]) đã nói rằng "khám phá là
cách mọi người học khi họ đơn độc ". Theo ông khám phá là cách tự nhiên mà
loài người tìm hiểu về môi trường của mình. Hãy nghĩ đến đứa trẻ một mình ở
một sân chơi với một số đồ vật để em tự do khám phá. Đứa trẻ không cần sự
dỗ dành, sẽ bắt đầu khám phá đồ vật bằng cách ném, sờ, kéo, đập chúng và cố
lấy chúng đi. Đứa trẻ học về các vật dụng đó, và tìm hiểu xem các vật dụng
đó tương tác với nhau như thế nào, bằng cách khám phá chúng, bằng cách
phát triển những ý tưởng của bản thân về đồ vật đó - nói tóm lại tìm hiểu các
đồ vật bằng cách tự khám phá.
Ở lứa tuổi nhỏ trẻ khám phá các đồ vật, cảm nhận và phân biệt chúng
từ hình thức bên ngoài. Ở lứa tuổi như học sinh phổ thông nhu cầu cao tìm
hiểu và nhận thức thế giới bên ngoài với sự chủ động và tự giác, đối với các
em việc tri thức về các đồ vật không chỉ là hình thức bên ngoài mà còn nội
dung bên trong của nó, một cách cụ thể hơn là trong lứa tuổi này các em đã
biết tách nội dung và hình thức của vật. Theo J.Piaget giai đoạn phát triển trí
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn21
15
quá trình dạy học. Nhiệm vụ của người dạy là chuyển tải các thông tin cần
học theo một phương pháp phù hợp với khả năng hiểu biết hiện tại của học
sinh. Giáo trình cũng cần được xây dựng theo hình xoáy ốc để học sinh được
tiếp tục xây dựng kiến thức mới trên cơ sở cái đã học. Tuy nhiên, ông cũng
khẳng định rằng: trong dạy học khám phá, không phải là học sinh tự khám
phá tất cả các dữ liệu thông tin, mà họ khám phá ra sự liên quan giữa các ý
tưởng và các khái niệm bằng cách sử dụng những cái đã học.
J. Bruner đã chỉ ra 4 lý do cho việc sử dụng phương pháp này như sau:
- Thúc đẩy tư duy: Một cá nhân chỉ có thể học và phát triển trí óc của
mình bằng việc dùng nó.
- Phát triển động lực bên trong hơn là tác động bên ngoài: Khi đã
thành công với phương pháp khám phá, người học cảm thấy thoả mãn với
những gì mà mình đã làm. Học sinh nhận được sự kích thích trí tuệ thoả đáng,
phần thưởng bên trong, đó chính là động lực bên trong. Thường thì giáo viên
tác động bên ngoài thông qua những lời khen, phần thưởng bên ngoài. Nhưng
nếu như họ muốn người học tìm được động lực hoặc hứng thú thực sự trong
việc học, họ phải xây dựng những phương pháp hoặc các hệ thống nhằm
mang lại cho người học những sự thoả mãn của bản thân chứ không phải là
động cơ bên ngoài. Nội lực có vai trò quyết định sự thành bại trong việc học
tập của cá nhân.
- Học cách khám phá: Cách duy nhất mà một người học học được các
kỹ thuật khám phá đó là họ phải có cơ hội để khám phá. Thông qua khám phá,
người học dần dần sẽ học được cách tổ chức và thực hiện các nghiên cứu của
mình.
- Phát triển trí nhớ: Một trong những kết quả tốt nhất của phương phá
khám phá đó là nó hỗ trợ tốt hơn trí nhớ của người học, người học duy trì trí
nhớ bền lâu. Chúng ta hãy nghĩ về một điều gì chúng ta đã nghĩ và so sánh
với những thông tin đã được cung cấp thì những gì mà bạn đã tư duy và đi

lầm về nhận thức, nhưng đó là khởi đầu cho việc cung cấp tri thức tiếp theo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn23
17
- Người dạy luôn coi như mình chưa biết điều gì, mà để tự người học
đặt ra vấn đề cần giải quyết. Người học thường hiểu là mình phải khám phá
mọi vấn đề. Như vậy là đúng, nhưng chưa đầy đủ, mà cần có sự định hướng,
hướng dẫn của người dạy.
- Không phải tất cả các câu trả lời và giải quyết vấn đề của người học
đều có giá trị như nhau khi sử dụng PPDH này bởi trình độ nhận thức của các
em luôn khác nhau. Không phải cứ sử dụng phương pháp khám phá là người
học làm việc theo nhóm, mà tùy theo từng trường hợp cụ thể.
1.2.3 Tính chất của phương pháp dạy học khám phá
Trong [1, tr.30], tác giả Lê Võ Bình cho rằng: Khám phá với tư cách là
một PPDH có những đặc trưng cơ bản sau:
PPDHKP trong nhà trường không phải nhằm phát hiện những điều mà
loài người chưa biết, mà chỉ giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức mà loài người
đã phát hiện ra được.
PPDHKP thường được thực hiện qua hàng loạt hoạt động, trong đó
giáo viên khéo léo đặt học sinh vào người phát hiện lại, KP lại những tri
thức trong kho tàng tri thức của nhân loại thông qua những câu hỏi hoặc
những yêu cầu hành động, mà học sinh giải đáp hoặc thực hiện được thì sẽ
xuất hiện những con đường dẫn đến tri thức.
Mục đích của PPDHKP không chỉ làm cho học sinh lĩnh hội sâu sắc
những tri thức của môn học, mà quan trọng hơn là trang bị cho họ những thủ
pháp suy nghĩ; những cách thức phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính độc
lập sáng tạo.

Khác với khám phá trong nghiên cứu khoa học, khám phá trong
học tập không phải là một quá trình tự phát mà là một quá trình có sự hướng
dẫn của giáo viên, trong đó giáo viên khéo léo đặt học sinh vào địa vị người

tình huống có vấn đề (bài tập lớn), người học tự nghiên cứu, tự khám phá và
giải quyết vấn đề đó. Trong hình thức này, người học độc lập nghiên cứu và
thực hiện tất cả các khâu cơ bản của quá trình nghiên cứu này để đưa ra kết
quả đồng thời có thể phát triển và ứng dụng được kết quả thu được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn25

Trích đoạn Kết luận chương 1 Nội dung thực nghiệm sư phạm Tổ chức thực nghiệm sư phạm Kết quả thực nghiệm sư phạm Kết luận chương 3
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status