ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN VẬT LÝ CỦA HỌC SINH DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ THU HIỀN
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN VẬT LÝ CỦA HỌC SINH
DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TINLUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

VINH, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ THU HIỀN
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN VẬT LÝ CỦA HỌC SINH
DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 62.14.10.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS NGUYỄN QUANG LẠC
2. PGS.TS MAI VĂN TRINH
VINH, 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án

6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Những đóng góp của luận án 4
8. Cấu trúc của luận án 5
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới hoạt động kiểm
tra - đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh sự bị đại
học dân tộc 6
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu 6
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2 Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 13
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.2. Vai trò của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
trong quá trình dạy học
18
1.2.3. Nội dung, loại hình, hình thức kiểm tra - đánh giá kết quả
học tập của học sinh
20
1.3 . Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh dự
bị đại học dân tộc
29
1.3.1. Đặc điểm học sinh dự bị đại học dân tộc 29
1.3.2. Đặc điểm dạy học Vật lí cho học sinh dự bị đại học dân tộc 31
1.3.3. Nội dung kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Vật lí
cho học sinh dự bị đại học dân tộc
36
1.4. Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh dự
bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 37
1.4.1. Vai trò của công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ kiểm tra -
đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh dự bị đại
học dân tộc 37

kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh dự
bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
53
2.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng phần mềm PTES hỗ trợ kiểm tra -
đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh dự bị đại
học dân tộc 53
2.2.2 Biện pháp 2: Điều chỉnh chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Vật
lí của Trung học phổ thông phù hợp với dự bị đại học dân
tộc để xác định nội dung kiểm tra - đánh giá kết quả học
tập môn Vật lí của học sinh dự bị đại học dân tộc theo
chuẩn kiến thức, kỹ năng 60
2.2.3. Biện pháp 3: Sử dụng phối hợp câu hỏi trắc nghiệm khách
quan với câu hỏi tự luận trong kiểm tra kết quả học tập
môn Vật lí của học sinh dự bị đại học dân tộc 68
2.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường kiểm tra - đánh giá kết quả thực
hành thí nghiệm Vật lí của học sinh dự bị đại học dân tộc
82
2.2.5. Biện pháp 5: Chú trọng tổ chức hoạt động tự kiểm tra -
đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh dự bị đại
học dân tộc
90
2.2.6. Biện pháp 6: Sử dụng các thông tin phản hồi từ kết quả bài
kiểm tra môn Vật lí của học sinh để điều chỉnh câu hỏi, đề
kiểm tra và phương pháp dạy học 96
2.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp đổi mới hoạt động kiểm tra -
đánh giá kết quả học tập môn Vật lý của học sinh dự bị đại học
dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
100
Kết luận chương 2 101
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 103

đại hoá đất nước." [67]
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội lần thứ IX
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Đổi mới phương pháp dạy và
học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi
trọng thực hành, làm chủ kiến thức, tránh học vẹt, học chay. Đổi mới và thực
hiện nghiêm minh chế độ thi cử" [5].
Việc đổi mới phương pháp dạy học phải được đặt trong mối quan hệ
với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học; đổi mới phương tiện dạy học; đổi
mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các
nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học trên lớp và ngoại khóa; đổi mới môi trư-
ờng giáo dục để học tập gắn với thực hành và vận dụng. Đổi mới phương
pháp dạy học phải gắn liền với đổi mới KT-ĐG kết quả học tập của HS.
Kiểm tra - đánh giá KQHT của HS ở các môn học thực chất là KT-ĐG
kết quả quá trình dạy học dựa trên cơ sở KT-ĐG thường xuyên, liên tục ở tất
cả các hình thức dạy học, với nhiều cách đánh giá, như kiểm tra nói hoặc viết,
tiến hành bài tập thực hành, quan sát, lập hồ sơ học tập. Thực tế dạy học cho
thấy, cách dạy của GV và cách học của HS bị chi phối bởi quan niệm "kiểm
tra gì học nấy" kể cả việc ra đề KT. Vì vậy, trong đổi mới giáo dục hiện nay,
khi tiến hành đổi mới KT có ý nghĩa cấp thiết và là biện pháp quan trọng. Đổi
mới KT-ĐG KQHT của HS qua đổi mới nội dung, hình thức, xây dựng các bộ
công cụ ĐG, phối hợp kiểu ĐG truyền thống bằng hình thức KT tự luận kết
2
hợp với TNKQ đảm bảo ĐG khách quan, trung thực mức độ đạt được mục
tiêu giáo dục của từng HS.
Trường DBĐHDT thuộc hệ thống các trường ĐH có nhiệm vụ tạo
nguồn đào tạo cán bộ người DTTS cho vùng miền núi. Việc nâng cao chất
lượng học tập cho HS các DTTS trong thời gian học DBĐHDT nhằm cung
cấp cho xã hội đội ngũ cán bộ người DTTS có năng lực và phẩm chất đáp ứng
những nhiệm vụ mới là trách nhiệm của toàn ngành nói chung và của các
trường DBĐHDT nói riêng. Trong thời gian qua, cùng với sự đổi mới phương

của CNTT tại 04 trường DBĐHDT (Việt Trì, Sầm Sơn, Nha Trang, Thành
phố Hồ Chí Minh).
Phạm vi nghiên cứu gồm 6 phần kiến thức ở học kỳ 2 trong tổng 14
phần kiến thức thuộc chương trình môn Vật lí ở trường DBĐHDT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp đổi mới hoạt động KT-ĐG KQHT
môn Vật lí của HS DBĐHDT với sự hỗ trợ của CNTT và áp dụng các biện
pháp này một cách hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lý ở
Trường DBĐHDT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về KT-ĐG KQHT của HS: Vai trò của
KT-ĐG trong quá trình dạy học; nội dung, loại hình KT-ĐG KQHT của HS;
Vai trò vị trí và sự phát triển của công cụ hỗ trợ KT-ĐG KQHT của HS; việc
sử dụng CNTT trong KT-ĐG KQHT môn vật lý; các yêu cầu sử dụng phần
mềm hỗ trợ KT-ĐG KQHT môn Vật lí của HS DBĐHDT.
5.2. Điều tra thực trạng KT-ĐG KQHT môn vật lý của HS DBĐHDT
với sự hỗ trợ của CNTT: Nội dung, hình thức và các phương tiện hỗ trợ hoạt
động KT-ĐG KQHT của HS DBĐHDT.
5.3. Xây dựng và sử dụng các công cụ CNTT: Tìm hiểu những xu hướng
ứng dụng CNTT trong dạy học và KT-ĐG; các sản phẩm khoa học công nghệ
hỗ trợ KT-ĐG KQHT của HS hiện nay để xây dựng phần mềm PTES hỗ trợ
KT-ĐG KQHT của HS DBĐHDT.
4
5.4. Đề xuất các biện pháp đổi mới hoạt động KT-ĐG KQHT của HS
DBĐHDT với sự hỗ trợ của CNTT: Nghiên cứu vận dụng cơ sở lí luận và
thực tiễn KT-ĐG KQHT của HS và các khả năng hỗ trợ của phần mềm PTES
đề xuất các biện pháp đổi mới hoạt động KT-ĐG KQHT môn Vật lí của HS
DBĐHDT với sự hỗ trợ của CNTT
5.5. Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở các trường
DBĐHDT để ĐG tính khả thi của các biện pháp đổi mới KT-ĐG KQHT của

HS DBĐHDT hiện nay.
- Đề xuất và vận dụng 06 biện pháp vào đổi mới hoạt động KT-ĐG
KQHT môn Vật lí của HS DBĐHDT với sự hỗ trợ của CNTT.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới hoạt động kiểm tra - đánh
giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh dự bị đại học dân tộc.
Chương 2. Một số biện pháp đổi mới hoạt động kiểm tra - đánh giá kết
quả học tập môn Vật lí của học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của
công nghệ thông tin.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
Luận án có sử dụng 123 tài liệu tham khảo, trong đó có 97 tài liệu tiếng
Việt, 22 tài liệu tiếng Anh và một số địa chỉ website trên mạng internet. Phần
phụ lục của luận án có 61 trang.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN VẬT LÍ
CỦA HỌC SINH DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC
1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu
1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của KT và ĐG năng lực nhận
thức của HS, nhà giáo dục học J.A.Comenxki (1592 - 1670) người Séc đã coi
việc KT-ĐG tri thức HS như một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả quá trình
dạy học. Đặc biệt I.B Bazelov đề xuất một hệ thống ĐG tri thức trong trường
học và chia hệ thống ĐG làm 12 bậc và vận dụng vào thực tiễn dạy học, ông
cho rằng có 3 bậc phù hợp với trình độ nhận thức của HS phổ thông: tốt -
trung bình - kém. Hệ ĐG này áp dụng ở một số nước, trong đó có Nga (dẫn
theo [8]).
Để KT-ĐG đúng kết quả học tập của HS, vào thế kỉ XIX, các nhà giáo

xảo. T.A.Ilina cũng cho rằng:"Kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo là rất
quan trọng và là thành phần cấu tạo cần thiết của quá trình dạy học"[34, tr.19].
Đồng thời, tác giả còn nhấn mạnh chức năng quan trọng của KT, ĐG, coi nó như
là một phương tiện để nâng cao chất lượng dạy học "Việc đánh giá là một
phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩa giáo dục rất lớn trong điều
kiện nếu như nó được giáo viên sử dụng đúng đắn"[34, tr.150].
Những năm qua, lĩnh vực nghiên cứu về KT-ĐG và đo lường trên thế
giới đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Có thể nói, hầu hết các tác giả tiêu
biểu như Hughes, Ducan Harris, A.J. Nitko,…đã tập trung nghiên cứu và làm
sáng tỏ định nghĩa, chức năng, vai trò của KT-ĐG đối với việc phát triển tri
thức, năng lực, đặc biệt là tính tích cực, tự giác của HS, giúp các em tự tin
hơn trong học tập và tự ĐG kết quả học tập của mình [98], [106], [111].
Đề cập đến việc đổi mới các hình thức, phương pháp ĐG, tài liệu "Why
we need better assessment. Educational Leadership" [117], "Definitions and
Assessment Methods for Critical Thinking, Problem Solving and Writing" [118]
đã phân tích sâu hơn các ưu điểm của kĩ năng ĐG qua bài luận, giúp HS rèn
8
luyện tư duy phân tích, tổng hợp. "The Art of Assessing, Measurement and
evaluation in teaching (6
th
Ed)" [108] cũng phân tích ưu điểm và nhược điểm của
các dạng thức ĐG, song nhấn mạnh vai trò ĐG qua các câu hỏi TNKQ.
Giai đoạn từ những năm 70 thế kỷ thứ XX trở lại đây, có rất nhiều công
trình nghiên cứu giải quyết từng vấn đề cụ thể trong hoạt động KT-ĐG tri thức
của HS. Thời kỳ này đã có những cuộc thảo luận điểm số như một phương tiện
đánh giá HS. Các nhà khoa học giáo dục cho rằng ý nghĩa giáo dưỡng và giáo
dục của điểm số là sự kết hợp giữa điểm KT hàng ngày với điểm tổng kết
trong việc ĐG trình độ của HS và mối quan hệ biện chứng của điểm số với các
phương tiện khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học và giáo dục cũng
được xem xét. Gần đây vấn đề tự ĐG của HS được rất nhiều nhà nghiên cứu

Ngoài ra, khi internet phát triển nhanh chóng thì đây là nơi cung cấp
nhiều thông tin hữu ích phục vụ cho việc đánh giá KQHT. Việc khai thác một
cách hợp lý nguồn thông tin này sẽ làm cho việc ĐG KQHT đạt được hiệu quả
hơn. Việc ứng dụng CNTT trong ĐG KQHT có các mức độ khác nhau, điều
này phụ thuộc vào mục đích ĐG. Đối với ĐG quá trình diễn ra trong lớp học
thì vai trò của CNTT không thể hiện nhiều, thậm chí không ứng dụng. Đối với
các ĐG tổng kết như các kỳ thi, các cuộc khảo sát, … thì CNTT là một trong
những công cụ đắc lực để có những đánh giá khoa học và chính xác.
Từ tổng quan những nghiên cứu trên, có thể rút ra kết luận: Các nhà
nghiên cứu giáo dục học đều khẳng định tầm quan trọng của ĐG và đổi mới
ĐG trong quá trình dạy học. Họ cho rằng, nếu ĐG được tiến hành có hệ thống,
đồng bộ, khoa học với các phương pháp và kĩ thuật thích hợp sẽ có tác dụng
tích cực, ĐG đúng KQHT toàn diện của HS, điều chỉnh và tạo động lực mới
cho quá trình dạy học.
Hiện nay, trên thế giới việc ứng dụng CNTT trong KT-ĐG đã và đang
phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng các phần mềm trong KT-ĐG KQHT của HS
đang được các nước phát triển áp dụng và đạt hiệu quả cao. CNTT là một
trong những công cụ đắc lực để có những đánh giá khoa học và chính xác đối
với hoạt động KT -ĐG KQHT của HS.
10
1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu trong lĩnh vực này như Dương
Thiệu Tống với “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập"[86], đã vận
dụng phương pháp KT bằng TNKQ để ĐG KQHT của học sinh. Nhiều nhà
giáo dục khác cũng có những công trình có giá trị: Trần Bá Hoành với “Đánh
giá trong giáo dục"[30]; Lê Đức Ngọc với “Vắn tắt về đo lường và đánh giá
thành quả học tập trong giáo dục đại học"[55]; Lâm Quang Thiệp với "Trắc
nghiệm và ứng dụng"[77] Các tác giả tiếp tục nghiên cứu toàn diện vấn đề
ĐG và đổi mới ĐG, từ thống nhất khái niệm KT, ĐG, đo lường, chuẩn ĐG,
đổi mới đã đi sâu phân tích ưu điểm (và hạn chế) của việc đổi mới phương

luyện kỹ năng tự KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của học sinh THPT [45].
Ngày nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu để xây dựng và hoàn
thiện quá trình KT-ĐG tri thức của HS. Các tác giả đã khẳng định vấn đề KT-
ĐG kết quả dạy học như một phạm trù của lý luận dạy học, là một khâu
không thể thiếu được trong quá trình dạy học, vì vậy phải coi trọng và thực
hiện tổ chức KT ĐG một cách khách quan và khoa học. Thái Duy Tuyên [94]
đã nêu hệ thống các chức năng KT-ĐG bao gồm: chức năng phát hiện, điều
chỉnh, chức năng củng cố, phát triển trí tuệ và chức năng giáo dục. Các chức
năng này có quan hệ chặt chẽ với nhau và thuộc phương diện sư phạm. Nhìn
chung các công trình nghiên cứu đều cho thấy rằng chỉ khi nào việc KT-ĐG
KQHT được tổ chức đúng đắn thì mới có tác dụng đối với quá trình dạy học
từ đó giúp GV tổ chức toàn bộ quá trình dạy học một cách căn bản và hợp lý
đồng thời làm cho HS thấy được mình cần phải làm gì trong việc nắm vững
tri thức, kích thích và thúc đẩy việc học tập có hệ thống. Các luận án nghiên
cứu về KT- ĐG chưa nhiều, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Bảo Hoàng Thanh đã
thực hiện đề tài "Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phối hợp câu hỏi TNKQ và
TL nhằm cải tiến hoạt động đánh giá KQHT môn Vật lí đại cương của sinh
viên đại học sư phạm"[74], luận án tiến sĩ của Đặng Huỳnh Mai đã nghiên
cứu "Xây dựng mẫu đề kiểm tra chuẩn quốc gia môn Toán cho học sinh tiểu
học"[51], luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích đi sâu nghiên cứu về "Đổi mới
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường
12
trung học cơ sở"[8]. Luận án tiến sĩ của Lê Phước Lượng đề cập đến vấn đề
"Nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo kết quả học tập Vật lý đại cương và
vận dụng nó trong việc đánh giá hiệu quả dạy học"[49]
Trong những năm trở lại đây, ở Việt Nam đã xuất hiện một số khái
niệm của đánh giá gắn với CNTT như “ngân hàng câu hỏi”, “thư viện đề kiểm
tra”, “thi/kiểm tra trên máy tính điện tử”, …, tuy nhiên những khái niệm này
vẫn chưa được hiểu một cách trọn vẹn. Hơn nữa, Việt Nam đang tiến tới triển
khai các cuộc khảo sát chất lượng học tập định kỳ trong phạm vi toàn quốc và

hoạt động nhận thức của học sinh dự bị đại học dân tộc", tác giả đã đề cập đến
việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào đổi mới dạy học cho HS DBĐHDT
nói chung và môn Toán nói riêng [89]. Bên cạnh đó, còn một số luận văn thạc
sĩ cũng nghiên cứu về quản lý dạy học và đổi mới phương pháp dạy học như
"Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao năng lực tự học của học sinh
Trường dự bị đại học dân tộc Trung ương" của Lê Trọng Tuấn tập trung
nghiên cứu ở góc độ quản lý năng lực tự học của học sinh; "Tổ chức học tập
theo nhóm cho học sinh dự bị đại học học dân tộc với sự trợ giúp của Website
dạy học Vật lí" của Lương Viết Mạnh, đề cập đến vấn đề xây dựng và sử
dụng Wesite dạy học Vật lý tổ chức cho HS học tập theo nhóm
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy vấn đề KT-ĐG và đổi mới hoạt
động KT-ĐG kết quả học tập của HS nói chung, kết quả học tập môn Vật lí
của HS nói riêng được đề cập trong một số tài liệu, bài viết, công trình nghiên
cứu. Đây là những gợi mở quý giá, chỉ ra về lý luận cũng như hướng vận
dụng trong nghiên cứu đề tài. Tuy nhiên, chưa có công trình, luận án nào
nghiên cứu về đổi mới hoạt động KT-ĐG kết quả học tập môn Vật lý của HS
DBĐHDT với sự hỗ trợ của CNTT.
1.2. Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Kiểm tra.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: "Kiểm tra là xem xét tình
hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [61, tr.18]. Theo Phạm Hữu Tòng "Kiểm
tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu
được những thông tin cần thiết để đánh giá'' [80, tr.10].
14
KT là quá trình xác định mục đích, nội dung, lựa chọn phương pháp,
tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của người học trong
quá trình học tập, rèn luyện và phát triển. KT bao gồm xác định điều cần KT,
công cụ KT và sử dụng kết quả KT, tức là ĐG.
Theo nghiên cứu của Trần Bá Hoành [30], Nguyễn Công Khanh [36],

được xem xét trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định, chuẩn kiến thức,
kỹ năng cần đạt được và công sức, thời gian bỏ ra. Theo cách định nghĩa này
thì kết quả học tập là mức độ thực hiện tiêu chí.
- Kết quả học tập cũng được coi là mức độ thành tích đã đạt được của
một HS so với các bạn cùng học.Theo cách định nghĩa này thì kết quả học tập
là mức độ thực hiện chuẩn.
1.2.1.2. Đánh giá kết quả học tập của học sinh
ĐG kết quả của một hoạt động nhằm phát hiện và uốn nắn kịp thời
những sai sót, điều chỉnh có hiệu quả hoạt động đó. Phát biểu một cách tổng
quát: ĐG có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin
thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định
nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó.
Định nghĩa chung về ĐG nói trên cũng được áp dụng trong giáo dục.
Có thêm nhiều định nghĩa về ĐG trong giáo dục được Nguyễn Bảo Hoàng
Thanh [74] tổng hợp như:
- Theo E.Beeby: "Đánh giá giáo dục là sự thu thập và lý giải một cách
hệ thống những bằng chứng, như một phần của quá trình, dẫn tới sự phán xét
về giá trị theo quan điểm hoạt động";
- Theo R.F.Magor: "Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và
giáo viên để dự đoán công việc phải tiếp tục và giúp đỡ học sinh tiến bộ".
- Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc: "Đánh giá trong giáo dục là
quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả
năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục
tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và
hành động giáo dục tiếp theo".
16
Thành tích học tập của mỗi HS phải được ĐG đúng, công bằng. Việc
ĐG đúng loại trừ được việc tuỳ tiện hạ thấp hoặc nâng cao yêu cầu. Việc ĐG
sai sẽ không động viên được HS. Khi ĐG, GV phải tỏ thái độ thiện chí và tế
nhị, động viên từng bước tiến bộ nhỏ, tin tưởng ở những thành tích sắp tới của

thì phải tiến hành KT.
Quy trình KTĐG thường gồm 3 giai đoạn: Kiểm tra để điều khiển quá
trình dạy học, tiếp theo là đánh giá để xác định, cuối cùng là tìm ra nguyên
nhân để điều chỉnh và quyết định các biện pháp tổ chức thực hiện giúp nâng
cao chất lượng dạy học. Các giai đoạn này có liên hệ với nhau, là 3 giai đoạn
quan trọng của quá trình KT- ĐG.
Kiểm tra và đánh giá là hai công việc có thứ tự hoặc đan xen nhằm xác
định KQHT của HS.
Hiện nay một số nhà khoa học nghiên cứu vấn đề KT và ĐG thường sử
dụng các thuật ngữ hoạt động KT, hoạt động ĐG hoặc hoạt động KTĐG hoặc
hoạt động KT-ĐG đều chỉ hoạt động KT và hoạt động ĐG kết quả học tập
của học sinh theo một chu trình khép kín từ việc xác định mục đích của KT
đến ĐG kết quả điều chỉnh phương pháp dạy học giúp nâng cao chất lượng
đào tạo. Luận án tiếp cận theo hướng đổi mới hoạt động KT-ĐG kết quả học
tập môn Vật lí của HS DBĐHDT.
1.2.1.5. Mục đích của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Đối với HS: KT-ĐG kết quả học tập giúp xác định năng lực và trình
độ của HS để phân loại, tuyển chọn và hướng nghiệp cho HS (ĐG đầu vào);
xác định kết quả học tập của HS theo mục tiêu của chương trình môn học;
thúc đẩy, động viên HS cố gắng khắc phục thiếu sót, phát huy năng lực của
mình để học tập đạt kết quả hơn; ĐG sự phát triển nhân cách nói chung của
HS theo mục tiêu giáo dục (ĐG đầu ra).
- Đối với GV: KT-ĐG kết quả học tập của HS giúp cung cấp thông tin
về các đặc điểm tâm, sinh lý của HS và trình độ học tập của HS; cung cấp
thông tin cụ thể về tình hình học tập của HS, làm cơ sở cho việc cải tiến nội
dung và phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
18
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục: KT-ĐG kết quả học tập của HS giúp
cung cấp thông tin, làm cơ sở cho việc cải tiến mọi mặt hoạt động của giáo
dục từ phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến đào tạo, bồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status