1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ TRỌNG DŨNG
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN AN LÃO – HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Thị Tuyết Oanh HÀ NỘI – 2011
5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
1.2.6. Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
12
1.2.7. Đổi mới
14
1.3. Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS
14
1.3.1. Vị trí, chức năng, vai trò và nguyên tắc của kiểm tra - đánh giá
14
1.3.2. Các hình thức, phương pháp và quy trình kiểm tra – đánh giá
18
1.3.3. Đặc điểm của kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh
THCS
22
1.3.4. Xu hướng đổi mới kiểm tra – đánh giá kết quả học tập hiện nay
24
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập
của học sinh trung học cơ sở
27
38
2.1. Khái quát về giáo dục trung học cơ sở huyện An Lão - Hải Phòng
38
2.1.1. Đặc điểm chung của huyện An Lão – Hải Phòng
38
2.1.2. Tình hình giáo dục THCS huyện An Lão
38
2.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học
sinh trung học cơ sở huyện An Lão - Hải Phòng 45
2.2.1. Thực trạng về nhận thức
57
2.3.3. Thực trạng quản lý việc tổ chức hoạt động kiểm tra – đánh giá
kết quả học tập của học sinh THCS
60
2.3.4. Thực trạng quản lý công tác chấm, trả bài và ghi điểm
62
2.3.5. Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra – đánh
giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão – Hải Phòng
63
Tiểu kết chương 2
66
Chương 3: BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO - HẢI PHÒNG
3.1.4. Nguyên tắc phù hợp với tình hình thực tiễn
68
3.2. Các biện pháp
68
3.2.1. Tập huấn nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm đối với
kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh cho cán bộ quản lý,
giáo viên và học sinh 68
3.2.2. Tổ chức xây dựng kế hoạch và quy trình kiểm tra – đánh giá
cho các môn học và quản lý các quy trình kiểm tra – đánh giá.
88
3.2.6. Mối liên hệ giữa các biện pháp
89
3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
90
Tiểu kết chương 3
93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
94
1. Kết luận
94
2. Khuyến nghị
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
97
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT
CÁC TỪ VIẾT TẮT
NGHĨA CỦA CÁC TỪ
1.
CB
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chất lượng dạy và học chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, như: mục
tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, đội ngũ giáo viên, đội
ngũ cán bộ quản lý, người học, kiểm tra – đánh giá kết quả học tập, cơ sở vật
chất trang thiết bị, nguồn tài chính
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái
gì mà còn dạy học như thế nào? Tức là muốn nâng cao chất lượng dạy – học
phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học và vấn đề đổi mới phương pháp
dạy – học đã trở thành yêu cầu mang tính cấp bách, là giải pháp đột phá. Tuy
giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng, đề xuất
một số biện pháp đổi mới quản lý hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả
kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh góp phần nâng cao chất
lượng dạy - học ở các trường THCS huyện An Lão – Hải Phòng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả
học tập của học sinh THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra –
đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng.
4. Giả thuyết khoa học của đề tài
Quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh
THCS góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục – đào tạo. Tuy
nhiên, vẫn còn tồn tại, những bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác
này. Nếu xác định và áp dụng các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động kiểm
tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS được đề xuất trong luận văn
sẽ nâng cao được hiệu quả của hoạt động kiểm tra – đánh giá, góp phần nâng
cao chất lượng dạy – học ở các trường THCS huyện An Lão – Hải Phòng,
chất lượng giáo dục THCS nói chung.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài xác định các nhiệm
vụ nghiên cứu sau: 3
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá
kết quả học tập của học sinh THCS.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá
kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra –
đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng.
* Trên thế giới:
Ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường, các hình thức kiểm tra –
đánh giá mức độ nhận thức của người học cũng ra đời. Tuy nhiên ở mỗi giai
đoạn lịch sử, mỗi quốc gia khác nhau có những hình thức kiểm tra – đánh giá
khác nhau nhưng đều đưa ra những qui định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của
xã hội hiện tại. Chẳng hạn: Thời kì phong kiến sử dụng thi, kiểm tra để đánh
giá kết quả của người học; Thời kì tiền công nghiệp thi, kiểm tra phải phù hợp
với trình độ người học và coi đó là một cách thức dạy – học, có vai trò khuyến
khích học sinh tích cực, tự giác học tập; Thời kì hậu công nghiệp kiểm tra –
đánh giá phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chương
trình giảng dạy.
Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục vĩ đại người Sec Slovakia là J.A
Comenxki (1592 - 1670) đã đưa ra mô hình nhà trường và được nhiều quốc
gia trên thế giới áp dụng. Đó là nhà trường được phân theo cấp học, bậc học ở
những lứa tuổi nhất định; các môn học trong nhà trường được quy định chặt
chẽ có chương trình, có nội dung cụ thể thống nhất; thời gian đào tạo cũng
được ấn định, đương nhiên cách kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học
sinh cũng được quy định rõ ràng.
Đến thế kỷ XVIII thì hệ đánh giá chất lượng giáo dục đầu tiên được áp
dụng phổ biến trong các nhà trường. Lúc đầu hệ đánh giá có 3 bậc chính: Tốt
– Trung bình – Kém; Sau đó chia nhỏ thành 5 bậc: Tốt – Khá – Trung bình –
Yếu – Kém. Tuy nhiên để có thể đánh giá được theo 5 bậc chất lượng học
sinh thì kiểm tra phải như thế nào để đánh giá được chính xác, phù hợp với
đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy – học mới là
vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm. 5
Từ những năm 1970 trở lại đây có rất nhiều những công trình nghiên
cứu từng vấn đề cụ thể, trong đó xác định một cách khoa học nội dung đánh
triển mới. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằm
nâng cao chất lượng kiểm tra – đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng dạy –
học đáp ứng mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Một số tài liệu nghiên
cứu về kiểm tra – đánh giá trong lĩnh vực giáo dục của các chuyên gia như:
+ Nguyễn Đức Chính, Đo lường đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng
lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2004.
+ Trần Thị Tuyết Oanh, Đo lường và đánh giá kết quả học tập, Nxb
Đại học sư phạm Hà Nội, 2007.
+ Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập,
Nxb Khoa học xã hội, 2005.
Các đề tài luận văn thạc sỹ như: Nghiên cứu cải tiến quy trình tổ chức
kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại khoa du lịch – viện đại
học mở Hà Nội của tác giả Lê Quỳnh Chi, năm 2006; Biện pháp quản lý công
tác kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường Cao đẳng du
lịch Hà Nội của tác giả Nghiêm Nữ Diễm Thùy, năm 2008; Quản lý hoạt
động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường trung học
phổ thông thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay của tác
giả Tạ Thị Bích Liên, năm 2011
Tuy nhiên, trên địa bàn huyện An Lão thành phố Hải Phòng chưa có tác
giả nào nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả
học tập của học sinh THCS. Do vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn là cần
thiết trong công tác dạy – học cấp THCS huyện An Lão thành phố Hải Phòng
giai đoạn hiện nay.
1.2. Các khái niệm của đề tài
1.2.1. Quản lý
Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài
người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do
nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia và mọi thời đại.
tố vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ 8
hành động. Vì vật khi xét về thực chất, quản lý trước hết và chủ yếu là quản lý
con người (trong bất cứ hành động nào).
Xác định như vậy để thấy con người là yếu tố quyết định trong mọi
hành động, hoàn toàn không có nghĩa là nội dung các chức năng quản lý nhân
sự (một bộ phận trọng yếu của quản lý). Điều này đã được nhiều nhà khoa
học quản lý nhấn mạnh qua cách thể hiện như: "Quản lý là một quá trình làm
cho những hành động được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua
những người khác” (S.P.Robbing) và "Các nhà quản lý có trách nhiệm duy trì
các hành động làm cho các cá nhân có thể đóng góp tốt nhất và các mục tiêu
của nhóm" (H. Koontz, C.O' donnell, )
Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác
nhau. Những loại công việc quản lý này được gọi là các chức năng quản lý.
Như vậy các chức năng quản lý là những công việc quản lý khác nhau mà chủ
thể quản lý (các nhà quản lý) phải thực hiện trong quá trình quản lý một tổ
chức. Phân tích chức năng quản lý nhằm trả lời câu hỏi: các nhà quản lý phải
thực hiện các công việc gì trong quá trình quản lý?
Có nhiều ý kiến khác nhau về sự phân chia các chức năng trong quá
trình quản lý. Vào những năm 1930, Gulick và Urwich nêu lên 7 chức năng
của quản lý trong từ viết tắt POSDCORB: P: Planning - lập kế hoạch, O:
organnizing - tổ chức, S: Staffing - Quản trị nhân sự, D: Directing - chỉ huy,
CO: Coordinating - phối hợp, R: Reviewing - kiểm tra, B: Budgeting - tài
chính. Herni Fayol nêu 5 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp
và kiểm tra. Trong những năm 60, Koontx và O'Donnell nêu 5 chức năng: lập
kế hoạch, tổ chức, quản trị nhân sự, điều khiển và kiểm tra. Cuối những năm
1980 và đầu những năm 1990, giữa các giáo sư đại học Mỹ cũng không có sự
thống nhất về cách thức phân chia các chức năng quản trị, James Stoner chia
lên lớp và các công tác khác ở các trường mầm non, phổ thông và dạy
nghề, , quản lý chuyên môn, hành chính, nhân sự tại các Sở GD&ĐT, Phòng
GD&ĐT; Làm công tác giảng dạy khoa học quản lý giáo dục ở các cơ sở đào
tạo và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ, nhân viên quản lý trong và ngoài ngành
giáo dục; Nghiên cứu khoa học quản lý và quản lý giáo dục ở các cơ sở 10
nghiên cứu, các cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược quản lý xã hội nói
chung và phát triển giáo dục nói riêng.
1.2.3. Kiểm tra
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm kiểm tra.
Trong từ điển Tiếng Việt (1998) có định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét tình
hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [26]. Từ điển Bách Khoa (2001) có định
nghĩa thuật ngữ “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy
– học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh,
về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp
khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả
hoạt động dạy – học” [27]. Theo GS Nguyễn Đức Chính (2005) “Đo lường
(kiểm tra) là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng và định tính về
các đại lượng đặc trưng như nhận thức, tư duy, kỹ năng và các phẩm chất
nhân cách khác trong quá trình giáo dục” [8].
Như vậy, kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm
bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này
đã và đang được hoàn thành.
Có thể nói rằng kiểm tra là sợi chỉ xuyên suốt cả quá trình quản lý
nhằm đạt được mục đích:
- Bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
- Bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách hữu hiệu.
- Làm bày tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xác hơn theo
Trong giáo dục, đánh giá là một hình thức chuẩn đoán của việc xem xét
chất lượng và đánh giá việc giảng dạy, học tập và chương trình đào tạo dựa
vào việc kiểm tra chi tiết các chương trình học, cơ cấu và hiệu quả của một cơ
sở đào tạo, xem xét bên trong và các cơ chế kiểm soát chất lượng của cơ sở
đó. Trong dạy – học, đánh giá là quá trình thu thập thông tin về năng lực,
phẩm chất của một học sinh và sử dụng thông tin đó để đưa ra những quyết
định về người học và việc tổ chức quá trình dạy – học. 12
Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra bao giờ cũng đi
liền với đánh giá. Vì vậy, kiểm tra – đánh giá là một khâu không thể thiếu của
quá trình dạy – học, là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy –
học. Kiểm tra – đánh giá là công việc của cả giáo viên, học sinh và các nhà
quản lý giáo dục. Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng
hay định tính.
1.2.5. Kết quả học tập của học sinh
Theo lý luận dạy học hiện đại, học tập là hoạt động nhận thức của
người học được thực hiện dưới sự tổ chức điều khiển của nhà sư phạm, Mục
đích của hoạt động học tập là tiếp thu nền văn hóa, văn minh nhân loại và
chuyển hóa chúng thành năng lực thể chất, năng lực tinh thần của mỗi cá nhân
người học. Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng được thể hiện ở nội dung của môn học, bài học bằng hệ thống khái
niệm khoa học và khái niệm môn học. Quá trình dạy – học là khái niệm chỉ
hoạt động chung của người dạy, người học và hai hoạt động này tồn tại song
song. Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy – học.
Kết quả học tập chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhận
thức, hành vi của người học. Trong khoa học cũng như trong thực tế, kết quả
học tập được hiểu theo 2 nghĩa: Mức độ người học đạt được so với các mục
tiêu đã xác định (theo tiêu chí), hoặc là mức độ người học đạt được so với các
được chấm điểm trong suốt các học kỳ và các điểm số này được ghi lại cẩn
thận. Sau đó giáo viên tính điểm trung bình dựa trên các điểm số này. Có rất
nhiều cách để đánh giá, trong đó có các cách phổ biến sau:
- Các bài kiểm tra (kiểm tra viết hoặc kiểm tra miệng) giúp giáo viên
theo dõi hoặc phân loại học sinh; đánh giá sự hiểu biết của học sinh theo
chiều rộng, chất lượng hiểu biết của học sinh theo chiều sâu, kiến thức mà học
sinh vừa được học và liệu học sinh có đủ kiến thức để học ở trình độ tiếp theo
không.
- Ngoài ra còn có các phương pháp khác: các bài tập theo nhóm, bài tập
về nhà, các bài viết luận, trình bày các đề án v v. 14
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh nên công khai cho học sinh,
phụ huynh và người giám hộ. Tuy nhiên có những điểm số cần phải được giữ
kín. Giáo viên có thể đặt kế hoạch cho mình hệ thống kiểm tra riêng và
thường xuyên (ví dụ: 1 tuần 1 lần, hoặc 3 tuần 1 lần, v v ).
Như vậy kết quả học tập của học sinh là thước đo của quá trình dạy –
học, kiểm tra - đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh là điều vô
cùng cần thiết trong suốt quá trình dạy – học.
1.2.7. Đổi mới
Đổi mới là cải cách cái lỗi thời thay vào đó, thừa kế cái tốt cũ và thêm
cái mới hợp với thời đại mới (tương thích). Đó là con đường tiến hóa của nền
văn minh (khác với cách mạng). Đổi mới không bao giờ là đủ, nó kéo dài theo
chiều dài của lịch sử.
Theo Wikipedia tiếng Việt, đổi mới giáo dục là chuyển từ lối giáo dục
từ chương (vốn là truyền thống trong cách giáo dục Á Đông) sang phương
pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động cho học sinh
và tấn công vào căn bệnh thành tích.
1.3. Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS
thực hiện được thông qua kết quả kiểm tra – đánh giá. Qua đó giúp cho giáo
viên có phương pháp dạy - học phù hợp với từng đối tượng học sinh góp phần
nâng cao chất lượng dạy – học.
Như vậy, ba chức năng trên luôn luôn quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy
nhiên, tuỳ vào đối tượng hình thức, phương pháp đánh giá mà một chức năng
nào đó có thể sẽ trội hơn.
1.3.1.3. Vai trò của kiểm tra – đánh giá trong quá trình dạy – học
Đối với giáo viên: Giúp giáo viên biết được hiệu quả, chất lượng giảng
dạy. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình về trình độ học
vấn, về phương pháp giảng dạy, từ đó điều chỉnh hay phát huy quá trình dạy
học giúp học sinh hoàn thiện hoạt động học.
Đối với học sinh: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp
kịp thời những thông tin "liên hệ ngược" giúp học sinh điều chỉnh hoạt động
học. 16
- Về giáo dưỡng chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học
đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần bổ khuyết.
- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiến
hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa,
hệ thống hóa kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo,
linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế.
- Về mặt giáo dục, giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong
học tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào
khả năng của mình, nâng cao ý thứcc tự giác, khắc phụ tính chủ quan tự mãn.
Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục
những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có
những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ
những sáng kiến hay, giúp đưa ra những quyết định phù hợp trong việc điều
xuyên theo kế hoạch và mang tính hệ thống. Kiểm tra có hệ thống giúp thu
thập chính xác, đầy đủ thông tin cần thiết cho việc đánh giá khách quan, toàn
diện. Ngoài ra với lượng thông tin đầy đủ sẽ có cơ sở chắc chắn để thực hiện
điều chỉnh hoạt động giáo dục. Do vậy, cần thực hiện kết hợp các hình thức
kiểm tra – đánh giá thường xuyên với kiểm tra – đánh giá định kỳ; số lần,
hình thức kiểm tra cần phù hợp đảm bảo cho việc đánh giá kết quả học tập
của học sinh.
Đảm bảo tính xác nhận và phát triển
Tính xác nhận là việc kiểm tra – đánh giá phải khẳng định được hiện
trạng của nội dung cần đánh giá so với mục tiêu đánh giá (cả về mặt định tính
lẫn định lượng) và nguyên nhân của hiện trạng đó dựa trên những tư liệu khoa
học, chính xác và các lập luận xác đáng. Tuy nhiên, giáo dục có bản chất nhân
đạo và phát triển nên việc kiểm tra – đánh giá cũng phải mang tính phát triển,
tức là phải đảm bảo chức năng phát triển của đánh giá giúp cho người học
không chỉ nhận ra hiện trạng cái mình đạt được (chức năng xác nhận) mà còn
có niềm tin vào khả năng của mình trong việc tiếp tục phát triển hoặc khắc
phục những điểm không phù hợp. Nói cách khác, kiểm tra – đánh giá trong 18
dạy học không đơn thuần là phán xét kết quả học tập của người học mà thực
sự là một nội dung của hoạt động dạy – học.
Đảm bảo tính quy chuẩn, khoa học trong kiểm tra đánh giá
Kiểm tra – đánh giá dù theo bất kỳ hình thức nào cũng đều nhằm mục
tiêu phát triển hoạt động dạy – học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho người
được đánh giá. Vì vậy, kiểm tra – đánh giá cần tuân theo những chuẩn mực nhất
định, những chuẩn này được qui định rõ trong qui chế chuyên môn, phân phối
chương trình như: xác định rõ nội dung, cách thức, thời điểm thực hiện và công
khai đối với học sinh. Như vậy, mới tránh được sự tùy tiện, ngẫu hứng trong quá
trình kiểm tra – đánh giá và kết quả mới đảm bảo tính ổn định.
rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường. Hạnh kiểm được xếp
thành 4 loại: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu sau khi kết thúc học kỳ, năm học.
Không căn cứ vào kết quả học tập nhưng có xem xét đến kết quả học tập khi
xếp hạnh kiểm [4].
Đánh giá, xếp loại học lực: Căn cứ đánh giá học lực của học sinh là
hoàn thành chương trình các môn học trong kế hoạch giáo dục của cấp THCS,
kết quả đạt được của các bài kiểm tra. Học lực được xếp thành 5 loại: Giỏi,
Khá, Trung bình, Yếu và Kém [4].
Trong quá trình kiểm tra – đánh giá bao gồm các hình thức:
Hình thức kiểm tra: Kiểm tra miệng (kiểm tra bằng hỏi đáp), kiểm tra
viết và kiểm tra thực hành. Các loại bài kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên,
kiểm tra định kỳ (gồm kiểm tra viết từ 1 tiết lý thuyết và thực hành trở lên),
kiểm tra học kỳ [4].
Hình thức đánh giá: Kiểm tra và cho điểm các bài kiểm tra, tính điểm
trung bình môn học và tính điểm trung bình các môn học sau một học kỳ, một
năm học. Việc đánh giá chất lượng giáo dục toàn diện đối với học sinh được
thực hiện sau mỗi học kỳ, mỗi năm học nhằm thúc đẩy học sinh rèn luyện,
học tập để không ngừng tiến bộ. Căn cứ đánh giá, xếp loại hạnh kiểm và học
lực của học sinh được dựa trên cơ sở: Mục tiêu giáo dục của cấp học, chương
trình, kế hoạch giáo dục của cấp học, điều lệ nhà trường, kết quả rèn luyện và
học tập của học sinh [4].