ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ SÁU
HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi được bảo vệ
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Sáu
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
13
1.1.2 Khái niệm về quyền khiếu nại, quyền tố cáo……………………… 19
1.1.3 Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo ……………………………… 20
1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo……….. 20
1.2
Pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo …………………………. 23
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật Khiếu nại, tố cáo…………….
23
1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật Khiếu nại, tố cáo…………….. 26
1.2.3 Sự hình thành và phát triển của pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo
ở Việt Nam…………………………………………………………..
28
1.2.4 Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011 và những đổi mới cơ bản về
giải quyết khiếu nại, tố cáo………………………………………….
34
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên
địa bàn huyện Quốc Oai – Thành phố Hà Nội
2.1.
42
52
2.3.1 Những kết quả đạt được............................................................................. 52
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế...............................................................................
2
53
2.4
Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong hoạt động giải
quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai
57
2.4.1 Bất cập trong các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo................. 58
2.4.2 Bất cập trong cơ chế tổ chức thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải
63
quyết khiếu nại, tố cáo............................................................................
2.4.3 Nhân sự phục vụ cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn thiếu và 66
yếu...........................................................................................................
2.4.4 Nhận thức về chính sách, pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn 67
chế..............................................................................................................
Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động giải quyết
3.1.
khiếu nại, tố cáo
3.2.3 Thực hiện tốt đối thoại giữa người khiếu nại, người bị khiếu nại và
người giải quyết khiếu nại.......................................................................... 81
3.3
Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo............................................................................. 82
3.4
Tăng cƣờng công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về
khiếu nại, tố cáo.......................................................................................
85
KẾT LUẬN
87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. UBND: Ủy ban nhân dân
2. HĐND: Hội đồng nhân dân
3. XHCN: Xã hội chủ nghĩa
phía Nam giáp huyện Chương Mỹ và phía Bắc giáp huyện Thạch Thất và huyện
Phúc Thọ. Huyện Quốc Oai trải rộng trên diện tích 147 km2 với dân số 172
5
nghìn người, có 20 xã và 01 thị trấn. Trong những năm qua, tình hình tăng
trưởng kinh tế của huyện đạt ở mức cao. Giá trị sản xuất chung tăng bình quân
hàng năm khoảng trên 10%.
Những năm qua, các cấp ủy đảng và chính quyền huyện Quốc Oai rất quan
tâm, coi trọng đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Tuy nhiên
trên địa bàn huyện Quốc Oai những năm gần đây các đơn thư khiếu nại, tố cáo
ngày càng có xu hướng gia tăng và phức tạp, đặc biệt là các đơn thư vượt cấp,
kéo dài. Khi Luật khiếu nại, Luật tố cáo 2011 có hiệu lực, công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo đã có những chuyển biến đáng kể. Mặc dù các cấp chính quyền
huyện đã có nhiều cố gắng trong công tác này, song vì công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo là vấn đề nhạy cảm và liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội và hoạt động quản lý nhà nước nên việc giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn
chưa thực sự hiệu quả, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trên là do
pháp luật về khiếu nại, tố cáo còn một số hạn chế, nhiều quy định còn thiếu tính
cụ thể. Việc giải quyết phải tuân theo các quy định của pháp luật, tôn trọng sự
thật khách quan, bảo đảm tính công khai, công bằng, đề cao trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại,
tố cáo. Nhưng trên thực tế vẫn còn phổ biến tình trạng đùn đẩy, không thực hiện
đầy đủ các quy định của pháp luật làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà
nước và chính quyền địa phương, gây mất an ninh chính trị và làm thiệt hại
không nhỏ đến lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức người khiếu nại, tố cáo cũng
như của địa phương.
Từ thực trạng khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay tại
Một số tài liệu chuyên khảo, giáo trình phục vụ nghiên cứu và giảng dạy có
đề cập đến khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Cuốn: “ Tìm
hiểu pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân” của PGS.TS Lê Bình Vọng, Nxb
Pháp lý Hà Nội, 1991; “ Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo” PGS.TS Phạm
Hồng Thái (chủ biên), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003.
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu đề cập đến những vấn đề liên quan
đến khiếu nại, tố cáo nhưng kể từ khi Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011 có
7
hiệu lực cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu thực sự cập nhật những vấn đề liên
quan đến khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đặc biệt là thông qua
thực tế một địa phương. Do vậy, việc chọn đề tài “ Hoạt động giải quyết khiếu
nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội – Thực trạng và
giải pháp” là một hướng nghiên cứu mới và có tính thực tiễn cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của pháp luật khiếu nại,
tố cáo; đánh giá thực trạng pháp luật, thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo qua
thực tiễn huyện Quốc Oai. Từ đó đưa ra các đề xuất:
- Nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giải quyết khiếu
nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, góp phần vào việc đảm bảo quyền công
dân, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, ổn định trật tự an toàn xã hội và phát triển
kinh tế của địa phương.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Từ ý nghĩa và mục đích đề tài đã đặt ra nhiệm vụ của đề tài được xác định
là phải thực hiện được mục đích kể trên làm bật lên được ý nghĩa của đề tài. Đề
tài phải được nghiên cứu và trình bày một cách hệ thống, khoa học và có chiều
– Lênin là biện chứng duy vật và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật. Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tác giả
luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: Phương
pháp phân tích được áp dụng khi xem xét quy định của các văn bản pháp luật về
khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Về phương pháp thống kê, điều
tra xã hội học tác giả đã sử dụng khi tìm hiểu một số nguyên nhân phát sinh đơn
thư khiếu nại, tố cáo, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp
9
nghiên cứu cụ thể như: phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương
pháp lôgic và phương pháp bình luận….
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới sau:
Thứ nhất: đã tổng hợp, hệ thống các quy đinh của pháp luật về khiếu nại, tố cáo,
giải quyết khiếu nại, tố cáo và phân tích tìm ra những hạn chế, bất cập của Luật
khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011.
Thứ hai: phân tích thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo để tìm ra
những hạn chế, bất cập trong thực tiễn giải quyết các khiếu nại, tố cáo trên địa bàn
huyện Quốc Oai đồng thời tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế bất cập đó.
Thứ ba: trên cơ sở những đánh giá về hạn chế, bất cập trong những quy định
của Luật khiếu nại, Luật tố cáo 2011 và thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, tác giả đưa ra những đề xuất chung nhằm hoàn
thiện hệ thống pháp luật khiếu nại, tố cáo đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao
chất lượng hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
luận văn gồm 3 chương như sau:
11
nhà nước và được thực hiện trên cơ sở nhận định, đánh giá về tính trái pháp luật
của các quyết định, các hành vi.
Theo quy định tại Điều 2, Luật khiếu nại năm 2011:
“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo
thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính
nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Căn cứ vào tính chất của quyết định, hành vi và các quan hệ pháp luật phát
sinh khiếu nại được phân thành hai dạng cơ bản sau:
- Khiếu nại hành chính: khiếu nại về định hành chính hoặc hành vi hành
chính trái pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền trong hoạt
động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước. Đó là việc cá nhân, cơ quan,
tổ chức yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành
chính, hành vi hành chính trái pháp luật khi có căn cứ cho rằng nó xâm hại đến
quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Khiếu nại tư pháp: khiếu nại về quyết định trái pháp luật hoặc hành vi trái
pháp luật trong hoạt động tư pháp. Khiếu nại tư pháp là khiếu nại về quyết định
hoặc hành vi trái pháp luật của cơ quan hoặc của người tiến hành tố tụng như: cơ
quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án hoặc điều tra viên, kiểm sát viên,
thẩm phán, hội thẩm, chấp hành viên. Khiếu nại tư pháp trong lĩnh vực hình sự,
dân sự, kinh tế, lao động, hành chính được pháp luật tố tụng tương ứng quy
định.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ đề cập đến khiếu nại
trong phạm vi hành chính của các cơ quan nhà nước.
1.1.1.2. Khái niệm tố cáo
hoặc cho rằng hành vi đó đã vi phạm các quy định của pháp luật hình sự thì họ thực
hiện tố cáo hành vi vi phạm trước cơ quan có thẩm quyền. Hành vi là đối tượng của
dạng tố cáo này được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự. Việc xử lý và giải quyết
tố cáo tội phạm được quy định chặt chẽ và thực hiện theo thủ thục tố tụng hình sự.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ đề cập đến tố cáo trong phạm
vi hoạt động hành chính nhà nước.
13
1.1.1.3. Phân biệt khiếu nại và tố cáo
Các Luật khiếu nại, tố cáo cùng những văn bản pháp luật khác có liên quan đã
được ban hành nhằm tạo khung pháp lý cho hoạt động khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Song, vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật về khiếu
nại, tố cáo là đã có không ít trường hợp còn lúng túng, chưa phân biệt rõ ràng, chính
xác thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo, khi đơn thư có nội dung chứa đựng cả việc
khiếu nại và việc tố cáo thì thụ lý, giải quyết còn nhiều lúng túng. Đây chính là một
trong nhiều nguyên nhân làm nảy sinh những nhầm lẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm
trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xác minh giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân... Từ đó dẫn đến việc đơn thư khiếu nại, tố cáo không được giải quyết kịp thời,
chính xác, để tồn đọng quá nhiều trong một thời gian dài mà pháp luật không cho
phép.
Do đó, để khắc phục tình trạng chung này, đồng thời để các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như mọi người dân hiểu rõ hơn về khiếu nại
và tố cáo, tôi xin được đưa ra một vài đặc trưng riêng biệt để phân biệt giữa khiếu nại
và tố cáo như sau:
- Trước hết, về chủ thể: chủ thể của hành vi khiếu nại phải là người bị tác động
trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi
việc. Điều đó có nghĩa chủ thể của hành vi khiếu nại có thể là cơ quan, tổ chức cá
nhân. Trong khi đó, chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân, tức là chỉ bao
gồm công dân và người nước ngoài. Cá nhân thực hiện hành vi tố cáo có thể chịu tác
quan, tổ chức. Có nghĩa là hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của tố cáo có
thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo có thể
không. Chính sự khác nhau này đã dẫn đến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục
giải quyết, về quyền và nghĩa vụ của chủ thể thực hiện quyền khiếu nại, tố
cáo…chẳng hạn: người khiếu nại không phải chịu trách nhiệm về việc khiếu nại
không đúng của mình nhưng việc tố cáo có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến
danh dự, uy tín, quyền lợi chính đáng của cán bộ công chức nhà nước nên theo
quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 9 Luật tố cáo 2011 thì người tố cáo phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, bồi thường thiệt
hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.
- Thứ ba, về mục đích: nếu như mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ
và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại bởi
15
quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩm
quyền thì mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục
quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà cao hơn thế nữa là nhằm bảo
vệ lợi ích của Nhà nước.
Tuy nhiên sự phân biệt trên chỉ rạch ròi trên lý thuyết: thực tiễn cuộc
sống là phong phú và sinh động hơn nhiều. Đa phần ta bắt gặp những trường
hợp vừa khiếu vừa tố.
Đó là những vụ việc mà quyết định hành chính, hành vi hành chính
của công quyền vừa ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân cụ thể nên bị
người ấy khiếu nại - đồng thời cũng quyết định, hành vi đó cấu thành nên
một vi phạm pháp luật, cần phải được phát hiện và xử lý kịp thời. Có thể
“giả thuyết” về những trường hợp trên như: ông A khiếu nại cơ quan công
quyền về việc thu hồi đất của gia đình ông trái pháp luật và đem chia cho
một cán bộ có chức quyền…Những trường hợp này không hiếm, và việc giải
quyết trước tiên phải theo trình tự tố cáo, sau khi đã xem xét tính xác thực
Quyền khiếu nại, tố cáo là quyền dân chủ trực tiếp. Thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo trực tiếp kiểm tra, giám sát các hoạt động của nhà nước, trực tiếp góp
ý, phản ánh với nhà nước các vấn đề quan tâm. Thông qua đó nhân dân có thể tự
mình phát hiện những vấn đề khiếm khuyế của cơ chế chính sách.
Quyền khiếu nại, tố cáo là quyền bảo vệ quyền. Mỗi khi có sự vi phạm các
quyền, lợi ích ở lĩnh vực nào đó thì pháp luật cũng dự liệu cho các bên dùng
quyền khiếu nại, tố cáo để tự bảo vệ thông qua sự can thiệp của nhà nước.
1.1.3. Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.1.3.1. Khái niệm giải quyết khiếu nại
Khoản 11, điều 3, Luật khiếu nại 2011 quy định: “Giải quyết khiếu nại là
việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại”.
Hoạt động giải quyết khiếu nại là bước tiếp theo khi có yêu cầu giải quyết
(khi có khiếu nại), gồm có các giai đoạn: thụ lý vụ việc; xác minh tình tiết, nội
dung vụ việc; kết luận về tính đúng sai, cơ sở pháp lý của nội dung khiếu nại,
của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; ra quyết định giải
quyết khiếu nại. Giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước là
các cơ quan này tiến hành hoạt động thuộc thẩm quyền của mình để có biện
17
pháp theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội.
1.1.3.2. Khái niệm giải quyết tố cáo
Theo quy định tại Khoản 7, điều 2, Luật tố cáo 2011: “Giải quyết tố
cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố
cáo của người giải quyết tố cáo”. Theo đó hoạt động giải quyết tố cáo bao
gồm các giai đoạn: tiếp nhận vụ việc; xác minh tình tiết, nội dung vụ việc;
kết luận về tính đúng sai, cơ sở pháp lý của nội dung tố cáo; việc xử lý tố
cáo của người giải quyết tố cáo. Hoạt động giải quyết tố cáo phức tạp hơn
Thứ ba: Thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo các cơ quan nhà
nước, cán bộ, công chức nhà nước cũng phát huy tối đa vai trò của những người
đi tiên phong trong việc phổ biến tuyên truyền và giáo dục chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước tới người dân; giúp họ hiểu và nắm vững các quy định
của pháp luật mà tự giác thực hiện.
Thứ tư: Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, cũng
là điều kiện, là một “kênh” quan trọng để các cơ quan báo chí, tổ chức xã hội, tổ
chức chính trị-xã hội, bằng cách này hay cách khác, gián tiếp hoặc trực tiếp
tham gia và giám sát các hoạt động công vụ của các cơ quan, cán bộ, công chức
nhà nước, bảo đảm quyền dân chủ, tính pháp chế XHCN - một trong những tiêu
chí cơ bản để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Tính chất giám sát của nhân dân đối với nhà nước trong khiếu nại và tố cáo
được biểu hiện ở chỗ khi khiếu nại, tố cáo, nhân dân đã chuyển đến cho cơ
quan nhà nước những thông tin, phát hiện về những việc làm vi phạm pháp
luật, xâm hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Trên cơ sở đó, nhà nước kiểm tra lại hoạt động, hành vi của các cơ quan,
cán bộ, công chức của mình thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua
đó, nhà nước phát hiện được những hành vi tham nhũng, quan liêu, tiêu cực
cũng như các biểu hiện vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức để kịp thời
giáo dục, xử lý, loại trừ ra khỏi bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước
trong sạch, vững mạnh.
Thứ năm: Thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã phát hiện
và kiến nghị với Đảng, Nhà nước, cũng như các cơ quan, đơn vị bị thanh tra
kịp thời chấn chỉnh công tác quản lý; sửa đổi, bổ sung nhiều cơ chế, chính
19
sách, thậm chí ban hành mới các quy định của pháp luật cho phù hợp với tình
hình thực tiễn của cuộc sống. Xét ở khía cạnh khác, công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo cũng giúp các cơ quan nhà nước cải tiến lề lối, tác phong làm việc,
Ở nước ta, từ trước đến nay, đều ghi nhận khiếu nại, tố cáo là một trong những
quyền cơ bản của công dân, trong đó Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều 74:
“Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố
cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật
quy định…”.
Quy định này đã được Hiến pháp 2013 sửa đổi, bổ sung tại Điều 30, cụ thể
là:
“Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục
hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu
nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại
người khác”.
Theo quy định này, khiếu nại, tố cáo không chỉ là quyền Hiến định của
công dân Việt Nam (những người có quốc tịch Việt Nam) mà đã được công
nhận là quyền con người, được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Khiếu nại và tố
cáo là một trong những phương thức thực hiện quyền tự do, dân chủ, góp phần
giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân. Đây cũng là phương
thức để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình và thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân. Khiếu nại, tố cáo đều hướng tới bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm
minh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền.
- Pháp luật khiếu nại, tố cáo là phương tiện đấu tranh, phòng chống các
hành vi vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế.
Quyền khiếu nại, tố cáo là những quyền tự do dân chủ quan trọng của công
dân được quy định trong hiến pháp và được cụ thể hóa trong hệ thống các quy
phạm pháp luật khiếu nại, tố cáo. Không chỉ là phương tiện để công dân thực
pháp luật khiếu nại, tố cáo các đối tượng vi phạm sẽ phải chịu sự trừng phạt
thích đáng của pháp luật, của dư luận…và đó cũng chính là một bài học mang
22
tính răn đe với những đối tượng khác. Những điều đó đã góp phần quan
trọng trong việc đảm bảo thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Pháp luật khiếu nại, tố cáo được mở rộng hoàn thiện theo hệ thống
các quy định về quyền, lợi ích của các chủ thể.
Xã hội ngày càng phát triển, xu thế hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực
của đời sống về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội…là điều tất yếu. Cùng
với đó là vấn đề quyền con người ngày càng được quan tâm và ghi nhận
rộng rãi tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Nhiều văn bản luật và
dưới luật của chúng ta những năm gần đây đã được ban hành mới, sửa đổi,
bổ sung theo hướng cụ thể hóa các quyền con người, quyền công dân đã
được ghi nhận trong Hiến pháp. Nhà nước ta đã và đang được xây dựng để
trở thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân.
Do đó, từ quan điểm lãnh đạo của Đảng đến việc xây dựng hệ thống pháp
luật của nhà nước đều hướng tới việc sao cho pháp luật của nước ta phải là
pháp luật vì con người. Pháp luật khiếu nại, tố cáo sau nhiều lần sửa đổi,
bổ sung và gần đây nhất là sự ra đời của Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo
2011 và Hiến pháp 2013 đã cho thấy các quy định về quyền, lợi ích của các
chủ thể trong quan hệ khiếu nại, tố cáo ngày càng được mở rộng hoàn thiện
hơn theo hướng phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân. Điều này
được thể hiện rõ nét tại các quy định mới, bổ sung, và mở rộng hơn trong
Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011. Ví dụ: quy định mở rộng hơn về đối
tượng của khiếu nại; quyền khởi kiện vụ án hành chính không bắt buộc
phải qua thủ tục khiếu nại; bổ sung thêm các quyền và nghĩa vụ của người
tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo….
cáo ở Việt Nam
1.2.3.1. Chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về khiếu nại, tố cáo và giải
quyết khiếu nại, tố cáo.
Khiếu nại, tố cáo là một phương thức thể hiện quyền dân chủ của nhân dân
và là một trong những phương thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối
với bộ máy Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi giải quyết khiếu nại, tố
cáo chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối quan hệ giữa
nhân dân với Đảng và Nhà nước. Làm tốt công tác tiếp dân và giải quyết khiếu
24