BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIÁ TRỊ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIÁ TRỊ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
quả thực phẩm, thuỷ hải sản ở vùng đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su
ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên,... Tuy nhiên, nhiều diện tích đất canh tác sử
dụng không hợp lý đã bị suy thoái, xói mòn, bạc màu, làm giảm độ phì nhiêu
của đất,… bên cạnh đó, quá trình phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại
hóa, quá trình đô thị hóa, sự bùng nổ dân số diện tích đất nông nghiệp đã
2
giảm rất nhiều do chuyển sang các mục đích sử dụng khác. Do đó, để đảm
bảo vấn đề an ninh lương thực cần phải có những loại hình sử dụng đất cho
hiệu quả kinh tế cao.
Cũng như cả nước, trong những năm qua nông nghiệp của huyện Quốc
Oai đã đạt được những thành tựu to lớn, có những bước tiến nhanh về số
lượng, chất lượng và cả phương thức sản xuất: giá trị sản xuất nông nghiệp
tăng trưởng bình quân trên 4%, sản lượng hàng hóa ngày càng cao, số trang
trại ngày càng nhiều; đời sống nông dân ngày càng được cải thiện. Là huyện
đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhưng sản xuất nông nghiệp
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tuy
nhiên, nền sản xuất nông nghiệp của huyện còn tồn tại nhiều yếu điểm đang
làm giảm sút về chất lượng do quá trình khai thác sử dụng không hợp lý; trình
độ khoa học kỹ thuật, chính sách quản lý, tổ chức sản xuất còn hạn chế; tư
liệu sản xuất giản đơn, kỹ thuật canh tác truyền thống, đặc biệt là việc độc
canh cây lúa ở một số nơi đã không phát huy được tiềm năng đất đai mà còn
có xu thế làm cho nguồn tài nguyên đất có xu hướng bị thoái hoá.
Nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá đúng
giá trị sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của các loại hình sử dụng đất để tổ
chức sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch
sử dụng đất và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Quốc
Oai là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết.
Xuất phát từ thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp ở huyện hiện nay, tôi
dụng đất và nâng cao giá trị sử dụng đất; Phân tích thực trạng sử dụng đất, giá
trị sử dụng đất ở huyện hiện nay; chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến nâng
cao giá trị sử dụng đất trên địa bàn huyện Quốc Oai; Từ đó, đề xuất một số
giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao giá trị sử dụng đất ở huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội trong thời gian tới.
- Về không gian:
Nghiên cứu về giá trị sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao giá trị sử
4
dụng đất nông nghiệp ở huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
- Về thời gian:
Nghiên cứu về tình hình sử dụng đất và giá trị sử dụng đất nông nghiệp
qua số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian
2010 - 2012, số liệu khảo sát điều tra năm 2013.
4. Nội dung nghiên cứu
4.1. Nội dung về lý luận
Đề tài hệ thống hóa một số khái niệm về sử dụng đất, giá trị sử dụng
đất. Những vấn đề lý luận về nâng cao giá trị sử dụng đất nông nghiệp; nhân
tố ảnh hưởng đến giá trị sử dụng đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng.
4.2. Nội dung về thực trạng
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Quốc Oai. Tình hình về giá
trị sử dụng đất nông nghiệp trên các vùng sinh thái huyện Quốc Oai. Mô hình
sử dụng đất nông nghiệp cho giá trị kinh tế cao; Đánh giá giá trị kinh tế trong
việc sử dụng đất nông nghiệp và những vấn đề đặt ra trong việc sử dụng quỹ
đất nông nghiệp có hiệu quả.
4.3. Nội dung về giải pháp
Những nội dung về quan điểm; định hướng, mục tiêu và giải pháp nâng
cao giá trị sử dụng quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội.
của đất. C.Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu
nhất của sản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn
tại và sinh sống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” [5].
Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia. Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và
làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội. Chính vì vậy, Luật đất đai năm
2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên
cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối
6
và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản
xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”.
Theo điều 13, Luật đất đai Việt Nam năm 2003, đất đai được chia thành 3
nhóm lớn là: nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
Đất nông nghiệp gồm: đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và đất
lâm nghiệp. Trong đất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng đang dùng chủ yếu vào sản
xuất hoặc nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp, đất có rừng tự nhiên, đất có rừng
trồng và đất ươm cây giống lâm nghiệp.
Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của
các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục
đích khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu
cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ
là các loại đất khác.
Có thể thấy, đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, đất đai có những tính chất
đặc trưng riêng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào khác, đó là: đất
có độ phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với
thời gian nếu biết sử dụng đúng. Nhận thức đúng được các vấn đề trên sẽ giúp người
sử dụng đất có các định hướng sử dụng tốt hơn đối với đất nông nghiệp, khai thác có
hiệu quả các tiềm năng tự nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi
Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa, nằm
trong quỹ đất chưa sử dụng. Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người và sức của.
Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư cho công
tác này thực sự có hiệu quả.
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các
vùng, các miền [21]. Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ
nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao
động, giao thông, thị trường,…) và có chất lượng đất khác nhau. Do vậy,
việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật
8
nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc
điều kiện của từng vùng lãnh thổ.
- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng có quyền nhất
định do pháp luật của mỗi nước qui định: tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích
tụ và chuyển hướng sử dụng đất từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử
dụng đầy đủ và hợp lý.
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình
sản xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy, thông qua quá trình phát triển của xã
hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây
dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm
nghiệp. Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện
quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
1.1.1.2. Sử dụng đất nông nghiệp
- Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trước hết cần nghiên
cứu các loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất ở các vùng kinh tế sinh
thái. Hệ thống cây trồng gồm các loại cây lương thực, rau màu, cây ăn quả,...
Hệ thống cây trồng được bố trí phù hợp trên từng vùng đất và từng mùa vụ.
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý
là cần thiết, bởi nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên một đơn vị
diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chế độ bón phân hợp lý, góp
phần bảo vệ độ phì của đất. Mặt khác, trong cơ chế kinh tế thị trường cần
phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững.
- Về nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ
Đây là nguyên tắc quan trọng, sử dụng toàn bộ diện tích đất cần được
10
sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp
với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi
đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất. Đảm bảo diện tích đất
nông nghiệp luôn đáp ứng được nhu cầu về an toàn lương thực, diện tích
đất nông nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái được bền
vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người.
- Về nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
Đây là nguyên tắc giúp cho việc khai thác, sử dụng đất đạt hiệu quả
cao nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn và hiệu quả.
Trong khai thác và quản lý sử dụng đất tính hiệu quả cao nhất cả về
kinh tế, xã hội và môi trường. Mặt khác phải có những quan điểm đúng đắn
theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở
thực hiện sử dụng đất có hiệu quả kinh tế xã hội cao. Đây là kết quả của
việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông
qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí
đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất,… Muốn nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện
pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về
lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và
hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều
kiện sinh thái, môi trường. Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm
nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước
mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình
sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần
thiết và hết sức quan trọng với mỗi Quốc gia.
Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Julian Dumanski
(1993) [29] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất.
12
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất.
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự
thoái hoá chất lượng đất và nước.
- Khả thi về mặt kinh tế.
- Được xã hội chấp nhận.
Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang
(1998) [27], việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc và
được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được
thị trường chấp nhận.
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất
đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên.
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời
sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Như vậy, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức
đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất
bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng
động xã hội [20]. Vì thế, nền kinh tế tự cung tự cấp gắn liền với nền kinh tế
đóng cửa và gần như tách biệt với thị trường làm cho nông dân có cuộc sống
thấp do năng suất lao động thấp, thế vận động kinh tế hộ nông dân tự cấp tự
túc lên sản xuất hàng hóa, kích thích sự phát triển kinh tế nông hộ lên sản
xuất hàng hóa là đúng quy luật, nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới ở nông
thôn, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa [17].
Nền sản xuất hàng hóa có đặc trưng là cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện
đại, trình độ khoa học - kỹ thuật, trình độ văn hóa của người lao động cao. Đó
là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên
cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng. Vì thế nó là
nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hóa nhiều với
nhiều chủng loại phong phú, đa dạng [16].
14
Việc đưa nông nghiệp sang phát triển sản xuất hàng hóa là quá trình lâu
dài và đầy những khó khăn phức tạp, cần phải gắn liền với việc hình thành
các vùng sản xuất tập trung chuyên canh và thâm canh ngày càng cao và phải
gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến và được
thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xã hội hóa sản xuất, ứng
dụng các công nghệ mới vào sản xuất.
Từ những vấn đề trên cho thấy: xây dựng nền nông nghiệp sản xuất
hàng hóa là hướng đi đúng, là sự tiến hóa hợp quy luật. Do đó, tìm kiếm thị
trường và những giải pháp sản xuất, đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp
theo hướng hàng hóa có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết.
1.1.2. Nâng cao giá trị sử dụng đất nông nghiệp
1.1.2.1. Giá trị sử dụng đất nông nghiệp
Đánh giá giá trị sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên một đơn
vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất
với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất. Đó là phản ánh kết
năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi và đó chính là nâng cao hiệu quả sử
dụng đất canh tác.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao giá trị sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.1. Yếu tố về điều kiện tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với các ngành khác là đối
tượng sản xuất nông nghiệp là các sinh vật sống, chúng có quá trình sinh
trưởng và phát triển theo quy luật nhất định trong điều kiện ngoại cảnh khác
nhau nên điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ
nhưỡng,...) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này
là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Vì vậy, khi nuôi trồng một loại
cây, con nào trước hết cần xem xét điều kiện tự nhiên của một vùng một cách
tỷ mỉ để xác định đúng mô hình sản xuất mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1.1.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác và tổ chức
Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng
16
các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra. Khi có tác động tích
cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra
yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp
sản xuất tiến bộ là một biện pháp đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp
tăng trưởng nhanh. Nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao giá trị và
hiệu quả sử dụng đất canh tác.
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên
(khí hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất, khả năng thích hợp của
cây trồng đối với đất, nguồn nước và thực vật) làm cơ sở để phát triển hệ
thống cây trồng hợp lý, nhằm khai thác đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, tạo
năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư đã tạo ra năng suất cây
trồng ngày càng tăng đem lại hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất đai và làm
tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diên tích canh tác.
1.1.4. Những nghiên cứu trong nước về nâng cao giá trị sử dụng đất nông
nghiệp
1.1.4.1. Tác động kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng
Ngay từ năm 1960, các nhà khoa học đã nghiên cứu đưa ra giống lúa
xuân ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, tạo ra sự kiện chuyển
biến rõ nét trong sản xuất ở đồng bằng sông Hồng. Sau đó, trong vài thập kỷ
trở lại đây, hàng năm ở nước ta đã đưa ra một số giống cây trồng mới có
năng suất cao vào sản xuất: giống lúa xuân số 5, số 6 cho năng suất đạt tới
65 - 70 tạ/ha. Giống ngô Bioseed; giống LVN10; LVN11,… đạt năng suất
trung bình 55 - 65 tạ/ha, nếu thâm canh tốt năng suất có thể đạt 80 - 90 tạ/ha.
Các giống cây thực phẩm như đỗ, đậu tương, lạc,…cũng được chú trọng
nghiên cứu để luân canh với ngô, lúa.
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, giai đoạn 1963 - 1978
đã đưa ra hàng chục giống mới: lúa, ngô, đậu đỗ, khoai tây, khoai lang, mía,
18
chè, cam, quýt, vải,… Giai đoạn 1990 - 2004, có khoảng 105 giống, trong đó
55 giống thuộc 14 loại cây trồng đạt tiêu chuẩn Quốc gia: lúa, đậu tương, lạc,
khoai lang, khoai tây, khoai sọ, sắn,…có năng suất cao có khả năng chống
chịu sâu bệnh tốt đã được đưa vào sản xuất rộng rãi ở những vùng sinh thái góp
phần thay đổi cơ cấu mùa vụ, thâm canh nâng cao hiệu quả sử dụng đất [1].
1.1.4.2. Xây dựng hệ thống canh tác và mô hình sử dụng đất phù hợp với các vùng
Vấn đề luân canh, tăng vụ, chuyển vụ để sử dụng tốt hơn các điều kiện
về đất đai, khí hậu, thời tiết và nguồn lao động trong nông thôn… cũng được
nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Đối với đất trồng lúa vùng Đồng bằng sông
Hồng, dựa trên đánh giá hiện trạng và khả năng hiệu quả chuyển đổi theo tác
các nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân canh mới bằng các
phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luân
canh. Từ đó các công thức luân canh mới tiến bộ hơn được cải tiến để khai thác
ngày một tốt hơn tiềm năng đất đai.
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ
trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác
nhau như vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá
hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó. Từ đó định hướng cho việc khai
thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung
của nền nông nghiệp cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng.
Vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lợi
đất đai, khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng thích hợp cũng được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập [5].
Bên cạnh việc nghiên cứu đưa ra các giống cây trồng mới vào sản
xuất thì các nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân
canh mới bằng các phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây
trồng, từng công thức luân canh. Từ đó các công thức luân canh mới tiến
20
bộ hơn được cải tiến để khai thác ngày một tốt hơn tiềm năng đất đai .
1.2. Kinh nghiệm sử dụng đất và nâng cao giá trị sử dụng đất nông
nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Kinh nghiệm sử dụng đất và nâng cao giá trị sử dụng đất nông nghiệp
trên thế giới
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đó
gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và
chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp. Các nước Châu Á
cao hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp. Theo Triệu Quốc Kỳ, ở Trung
Quốc trên đất lúa 2 vụ ở vùng phía Nam thường được canh tác 2 hoặc 3 vụ với
hệ thống cây trồng: Lúa - Lúa mì - Khoai tây hoặc Lạc - đậu tương - Lúa mì, đây
là các công thức mang lại hiệu quả cao được nhiều nơi áp dụng.
1.2.1.2. Thái Lan
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều nhiều quy chế
mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không
thích hợp với đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt hơn [13]. Từ năm 1975, Thái
Lan đã thực thi chính sách đất đai, quy định mức hạn điền 8 ha với trồng trọt
và 16 ha đối với đất chăn nuôi. Đến năm 1998, Luật đất đai bổ sung quy định
đất đai ổn định và không ổn định, tạo điều kiện cho dân yên tâm sản xuất, góp
phần đưa Thái Lan đã trở thành nước đứng đầu trong xuất khẩu gạo, sản xuất
cao su và đánh bắt cá ngừ [21].
1.2.1.3. Inđônêxia
Ở Inđônêxia, Luật đất đai ghi rõ người dân có quyền sử dụng trong 10
năm, quyền sở hữu không được vĩnh viễn khi Nhà nước có nhu cầu xây dựng
công trình công cộng. Các chương trình bảo vệ đất cũng đã được thực hiện
nhằm bảo vệ các vùng đất bậc thang và trồng cây theo đường đồng mức.
Ngoài ra, Chính phủ ưu tiên hàng đầu cho chương trình phát triển lương thực
nhằm tìm ra các giống cây trồng lương thực, cây đậu đỗ phù hợp với đặc điểm
điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh thái. Kết quả là đã tạo được một số
22
giống ngô có năng suất cao chất lượng tốt, ví dụ: giống ngô trắng Bague có
thời gian sinh trưởng 90 ngày, năng suất đạt 4 - 5 tấn/ha so với giống ngô cũ
chỉ đạt 1 - 2 tấn/ha; hoặc cây lúa Miến là loại cây có giá trị dinh dưỡng cao,
làm thức ăn cho người và gia súc có năng suất đạt 3,5 tấn/ha có thể trồng tái
giá, sức chống chịu sâu bệnh tốt với đầu tư chi phí thấp [14].
1.2.1.4. Philippin