BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
CAO THỊ HẰNG
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO
HIỆU QUẢ VÀ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
CAO THỊ HẰNG
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO
HIỆU QUẢ VÀ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
triển theo chiều sâu (chất). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng là một yêu cầu khách quan, là con
đường để khai thác triệt để những lợi thế về tài nguyên, lao động, đáp ứng
nhu cầu cấp bách về an ninh lương thực, nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến, xuất khẩu, góp phần nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng cho sản
xuất nông nghiệp, góp phần tích vốn, tạo thị trường cho công nghiệp và là cơ
sở để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, phát triển nông nghiệp chú trọng vào các vấn
đề phát triển nông nghiệp bền vững, phát triển nông nghiệp thích ứng với biến
2
đổi khí hậu. Nền nông nghiệp của các nước phát triển trên thế giới đang
hướng đến nông nghiệp hữu cơ, tăng trưởng xanh.
Sau 25 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập
cho 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát
triển kinh tế quốc dân và ổn định chính trị - xã hội. Nông nghiệp Việt Nam đã
có những bước phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, tăng trưởng nông nghiệp trong
thời gian qua chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ và
dựa trên mức độ thâm dụng các yếu tố vật chất đầu vào cho sản xuất (lao
động, vốn, vật tư) và nguồn lực tự nhiên cao. Mô hình tăng trưởng nông
nghiệp như hiện nay mới chỉ tạo ra được khối lượng nhiều và rẻ nhưng giá trị
thấp, hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên chưa cao . Để thực hiện nhiêm
vụ “đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ
chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và
chiều sâu” đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, ngành nông
nghiệp xây dựng Đề án “Tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao chất lượng,
giá trị gia tăng và phát triển bền vững”.
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia
tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung
Đề tài nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai,
thành phố Hà Nội
4
- Phạm vi về không gian: Huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2008 đến năm
2012 và đề xuất định hướng, giải pháp cho những năm tiếp theo.
4. Nội dung nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu
quả và giá trị gia tăng
- Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng
cao hiệu quả và giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà
Nội
- Phân tích đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng
- Giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng trên địa bàn
huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
6
Sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian luôn bao
hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các
kiểu cơ cấu. Cho nên dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào cũng có thể thấy
rằng. Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về chất
lượng, số lượng giữa các bộ phận cơ cấu thành đó trong một thời gian và
trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Để xem xét phân tích các bộ phận hợp thành của nền kinh tế một cách sâu
hơn, chúng ta thường phân tích cơ cấu kinh tế: theo khu vực hoặc ngành (gọi
là cơ cấu kinh tế theo ngành); theo thành phần kinh tế (gọi là cơ cấu kinh tế
theo TPKT); theo không gian (cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ).
Cơ cấu kinh tế theo ngành
Ngành là một tổng thể các đơn vị kinh tế thực hiện một loạt chức năng
trong hệ thống phân công lao động xã hội. Ngành phản ánh một loạt hoạt
động nhất định của con người trong quá trình sản xuất xã hội, nó được phân
biệt theo tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, đặc tính của sản
phẩm sản xuất ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất.
Các ngành trong một nền kinh tế: Nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, v.v. Trong từng ngành lại chia ra
cụ thể hơn theo các phân ngành và các ngành hàng.
Hiện nay nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt nam chia nền kinh tế thành
3 khu vực và thống kê sự phát triển, tương quan giữa 3 khu vực, đó là: Nông
nghiệp; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ.
Các ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ra đời và phát
tiềm năng của từng vùng. Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hóa dựa
trên lợi thế so sánh từng vùng..
Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế.
Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng.
. Tùy mỗi quốc gia, mỗi vùng và từng giai đoạn phát mà có các thành
phần kinh tế khác nhau. Các thành phần kinh tế cơ bản như: kinh tế nhà
8
nước/quốc doanh, tập thể, tư nhân, hộ gia đình, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. .
Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế là sự thay đổi về vai trò, vị
trí, định hướng chiến lược của từng thành phần kinh tế xác định thành phần
kinh tế nào nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tọ ra giá trị sản phẩm lớn
và là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế..
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã khẳng định việc chuyển nền kinh tế
nước ta từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của nhà nước và coi trọng phát triển kinh tế nhiều thành phần. Cho
nên xu thế chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế ở nước ta là giảm bớt
vai trò và tỷ trọng kinh tế quốc doanh, từng bước tạo lập và phát triển thành
phần kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
(bỏ phần booi vàng hoặc chuyển xuống ở phần cơ cấu kinh tế nông nghiệp)
Như vậy có thể hiểu CCKT trên các khía cạnh:
Xét về tổng thể kinh tế: CCKT bao gồm các bộ phận hợp thành, với
những qui mô giá trị, tỷ trọng , vị trí nhất định trong tổng thể nền kinh tế thể
chúng ta tránh được hai khuynh hướng trong thực tiễn đó là: Quá đề cao sự lệ
thuộc của cơ cấu kinh tế vào các nhân tố tự nhiên hoặc là quá coi nhẹ sự ảnh
hưởng của các nhân tố tự nhiên với sự hình thành và phát triển của cơ cấu
kinh tế. Các nhân tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp tới sự hình
thành vận động và biến đổi cơ cấu KTNN. Tuy nhiên sự tác động và ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên tới mỗi nội dung của cơ cấu KTNN là không
giống nhau. Trong các nội dung của cơ cấu KTNN thì cơ cấu ngành và cơ cấu
vùng lãnh thổ ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên nhiều nhất, còn cơ cấu thành
phần kinh tế thì ít hơn. Trong các điều kiện tự nhiên nêu trên, các điều kiện tự
nhiên về đất đai, khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởng rất rõ tới sự phát triển của
nông nghiệp, qua nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành khác. Trong
mỗi quốc gia, các vùng lãnh thổ có vị trí địa lý khác nhau có điều kiện khí
10
hậu, điều kiện đất đai và các nguồn tài nguyên tự nhiên khác và hệ sinh thái
khác nhau về số lượng và quy mô các phân ngành chuyên sâu của nông, lâm,
ngư nghiệp, giữa các vùng có sự khác nhau dẫn tới sự khác nhau của cơ cấu
ngành. Điều này được thể hiện rõ rệt từ sự phân biệt cơ cấu ngành kinh tế
trong nông nghiệp giữa các vùng đồng bằng với trung du miền núi.
Ngay giữa các vùng, cơ cấu kinh tế các ngành cũng có sự khác nhau
khá rõ do tính đa dạng và phong phú của điều kiện tự nhiên. Một số vùng có
điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển một số ngành sản xuất tạo ra các lợi
thế so với các vùng khác. Đây là cơ sở tự nhiên để hình thành các vùng kinh
tế. Ngoài sự tác động ảnh hưởng nói trên thì điều kiện tự nhiên còn ảnh hưởng
tới cơ cấu các thành phần kinh tế. Thông thường vùng nào có điều kiện tự
nhiên thuận lợi thì vùng đó phát triển với quy mô lớn hơn, tốc độ lớn hơn.
Nhân tố về kinh tế - xã hội:
Đây là nhân tố có tính chất quyết định đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp
các điều kiện vật chất nhất thiết phải đầu tư và có vốn đầu tư. Các nguồn vốn
đầu tư chủ yếu để hình thành và chuyển đổi cơ cấu KTNN bao gồm:
Nguồn vốn của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp
Nguồn vốn ngân sách
Nguồn vốn vay của các ngân hàng
Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng
Nguồn đầu tư trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài
Các nguồn vốn trên có ảnh hưởng trực tiếp và rất lớn tới sự hình thành và
phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế.
Sự phát triển của các khu công nghiệp và đô thị cũng là một nhân tố quan
trọng ảnh hưởng tới cơ cấu KTNN. Sự phát triển này tạo khả năng cung cấp
kỹ thuật và công nghiệp ngày càng tiên tiến, tạo ra các nguồn vốn đầu tư ngày
càng dồi dào cho khu vực KTNN, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành,
vận động và biến đổi của cơ cấu KTNN. Vấn đề dân số, lao động và trình độ
12
của người lao động, người quản lý cũng là nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển
dịch cơ cấu. Ngoài ra, kinh nghiệm, tập quán truyền thống của dân cư ở các
vùng cũng có ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển của cơ cấu KTNN.
Nhân tố quốc tế
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cần chú trọng sự tác động và ảnh
hưởng của thị trường quốc tế tới cơ cấu KTNN của mỗi nước. Ngày nay, quá
trình hợp tác và giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng thì hầu hết các quốc gia
đều thực hiện các chiến lược kinh tế mở. Thông qua quan hệ thương mại quốc
tế, các quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình hợp tác và phân
công lao động quốc tế. Đây là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới quá
trình biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói
riêng ở mỗi quốc gia. Việc tham gia ngày càng sâu vào quá trình hợp tác và
cần phải nhận thức đúng đắn các yếu tố trên để có thể sử dụng chúng một
cách có hiệu quả cao nhất phát huy lợi thế, giảm thiểu bất lợi.
1.1.3. Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các bộ phận hợp thành,các mối
quan hệ tương tác giữa các yếu tố lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong lĩnh vực nông nghiệp, trong những khoảng thời gian và điều kiện kinh
tế - xã hội cụ thể.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm cơ cấu các ngành, cơ cấu vùng
lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật. Giữa chúng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại thúc đẩy sự phát triển , nông nghiệp,
nông thôn và nông dân.
Trong mỗi thời kỳ nhất định các bộ phận cấu thành kinh tế nông có một
giá trị cụ thể, có quan hệ tỷ lệ nhất định với tổng thể kinh tế nông nghiệp, giữ
14
vai trò vị trí nhất định trong nền nông nghiệp quốc gia hay đơn vị hành chính
cụ thể.
Cũng như nghiên cứu phân tích về cơ cấu kinh tế, khi nghiên cứu cơ
cấu nông nghiệp chúng ta cũng xem xét cơ cấu nông nghiệp theo ngành, theo
TPKT và theo vùng lãnh thổ.
Xét về cơ cấu kinh theo ngành, trải qua một quá trình phát triển hiện
nay trong nông nghiệp ở nước ta có các phân ngành chủ yếu như sau: Trồng
trọt; Chăn nuôi; Thủy sản; lâm nghiệp; dịch vụ phục vụ cho sự phát triển
ngành. Trong từng phân ngành lại có các ngành hàng cụ thể. Một số ngành
hàng nông sản ở nước ta đã có vai trò vị trí rất quan trọng không những trong
phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi thị trường nông sản thế giới như ngành
hàng lúa gạo, cà phê, tiêu, cá ba sa, tôm, v.v.
Cơ cấu nông nghiệp nhìn trên phạm vi không gian vùng, lãnh thổ: Sự
trạng thái này sang trạng thái khác trong một thời kỳ nhất định trên cơ sở phù hợp
với điều kiện khách quan và chủ quan, đảm bảo cho kinh tế nông nghiệp phát triển
Như vậy, chuyển dịch CCKT nông nghiệp hàm nghĩa là sự biến đổi
CCKT nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định một cách có hướng đích và bị
chi phối bởi các nhân tố chủ quan – năng lực nhận thức của con người, chi
phối mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp.
- Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nội dung chuyển dịch CCKT nông nghiệp bao gồm:
+ Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo ngành: Trong ngành nông
nghiệp (nghĩa rộng) bao gồm: trồng trọt; chăn nuôi ; lâm nghiệp (trồng và
nuôi rừng, khai thác lâm sản,); thủy sản (khai thác, nuôi trồng) và dịch vụ
nông nghiệp.
+ Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo TPKT. Trong sản xuất nông
nghiệp, cơ cấu các thành phần kinh tế gồm có: kinh tế quốc doanh (TP kinh
16
tế nhà nước); kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân, kinh tế hộ, kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài.
+ Chuyển dịch CCKT theo vùng. Vùng là địa bàn lãnh thổ, với những
đặc trưng riêng có về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống – lịch
sử, văn hóa
1.1.5. Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và
giá trị gia tăng
Hiệu quả sản xuất và giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp
- Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực
hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết
quả đó trong những điều kiện nhất định.
xuất và sinh hoạt
- Giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp
Giá trị gia tăng là thuật ngữ dùng để chỉ giá trị tăng thêm được tạo ra ở
mỗi giai đoạn nhất định và giá trị tăng thêm tổng thể cho cả quá trình sản xuất
một hàng hóa cụ thể nào đó. .
Giá trị gia tăng dùng để chỉ sự đóng góp của các nhân tố đầu vào sản
xuất vào việc tăng thêm giá trị của một sản phẩm .
Trong kinh tế học vi mô, giá trị gia tăng được tính đơn giản bằng cách
lấy giá trị của đầu ra trừ đi chi phí trung gian.
Giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp ở mỗi giai đoạn sản xuất, chế
biến, thương mại được tình bằng cách lấy doanh thu của sản phẩm ở giai đoạn
đó trừ đi chi phí trung gian tương ứng.
Giá trị gia tăng tổng thể của sản phẩm đươc tính bằng doanh thu sản
phẩm cuối cùng trừ tổng chi phí trung gian.
Giá trị gia tăng cũng là một chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh tế. Nhưng
nó đo lường hiệu quả của một ngành hàng, nó phản ánh mức độ cao hay thấp
18
về doanh thu và giá trị gia tăng của một đơn vị sản phẩm. Đồng thời nghiên
cứu phân tích giá trị gia tăng và phân phối giá trị gia tăng giữa các công đoạn
(tương ứng với nó là các tác nhân sản xuất-kinh doanh) giúp chúng ta đánh
giá việc phân phối giá trị gia tăng đã hợp lý hay chưa, từ đó có biện pháp điều
chỉnh để tạo động lực cho các tác nhân yên tâm nổ lực phát triển ngành
hàng.
1.1.6. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng
cao hiệu quả và giá trị gia tăng
Mục tiêu của chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng nâng cao
hiệu quả và giá trị gia tăng
Đổi mới HTX và mở rộng hình thức kinh tế hợp tác;
Nâng qui mô của kinh tế hộ gia đình bằng nhiều giải pháp
Khuyến khích phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài;
Quan hệ liên kết giữa các thành phần kinh tế, kết nối nông dân với
thị trường quốc gia, quốc tế
Tăng cường thu hút đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn
1.2. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng nông sản. Chỉ khoảng một
nửa lực lượng lao động của Trung Quốc làm việc trong ngành nông nghiệp,
dù cho chỉ có 15,4% diện tích đất đai có thể canh tác được.
- Tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện. Trung Quốc
luôn coi nông nghiệp là cơ sở quan trọng của nền kinh tế quốc dân và nhiệm
vụ hàng đầu đặt ra là tập trung làm cho nền nông nghiệp lạc hậu mau chóng
phát triển. Trong SXNN, lương thực được chú trọng đặc biệt với quan điểm:
Phi lương bất ổn. Bằng nhiều biện pháp tác động để ổn định diện tích gieo
trồng lương thực, nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích bằng con
20
đường thâm canh; chủ trương xây dựng các vùng lương thực hàng hóa trọng
điểm có sự hỗ trợ của nhà nứớc. Nhờ vậy, Trung Quốc đã từng bước thoát
khỏi tình trạng trì trệ của những năm trước đây, giải quyết nạn thiếu đói triền
miên của nhân dân.
- Để đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành nông nghiệp, Trung Quốc đã sử
dụng nhiều biện pháp có hiệu quả như: cải tiến quản lý KTNN, sử dụng rộng
rãi những thành tựu khoa học công nghệ vào SXNN. Đồng thời thực thi hàng
loạt các chính sách như: Thực hiện chế độ khoán trong nông nghiệp, hộ nông
+ Các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường đại học thâm nhập vào
nông thôn, tư vấn kỹ thuật, chỉ đạo, bồi dưỡng cán bộ, nhận khoán và triển
khai các đề tài khoa học.
+ Các hiệp hội khoa học kỹ thuật của nông thôn thông qua các hình
thức trao dổi kinh nghiệm.
Các hình thức tổ chức dịch vụ trên đã tác động tích cực đến sự phát
triển ngành nông nghiệp, giúp giải quyết các trở ngại, khó khăn trên con
đường hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc.
Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, Trung Quốc đã tập trung phát triển
kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông đường cao tốc, đường sắt và
đường biển
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Đài Loan
Đài Loan đã tiến hành cải tạo nông nghiệp từ đầu những năm 50 thế kỷ
XX, trên tiềm lực sẵn có của mình là đất đai rộng, với 3 chính sách lớn là: cải
cách ruộng đất, cải tiến kỹ thuật SXNN và kiến thiết xã hội nông thôn.
- Cải cách rộng đất của Đài Loan là nhân tố có tính quyết định làm thay
đổi CCKT và xã hội Đài Loan. Cải cách rộng đất có ảnh hưởng tác động dưới
nhiều mặt: tăng thu nhập cho nông dân, nâng cao mức tiêu dùng trong nông thôn,
cải thiện cơ cấu SXNN, khai thác lao động và nguồn vốn đầu tư vào đất đai.
22
- Hai giai đoạn phát triển nông nghiệp của Đài Loan:
+ Thời kỳ lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp (1949 - 1969)
+ Thời kỳ lấy công nghiệp phục vụ nông nghiệp (từ 1970 trở đi)
Trong thời kỳ này chủ trương lấy sản xuất cơ giới làm chính để nâng
cao NSLĐ nông nghiệp, đồng thời dùng chính sách giá cả, thu nhập để chi
viện cho SXNN, tập trung cải cách cơ cấu sản xuất để cạnh tranh với các
nước đang phát triển.