Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––

BÙI THANH BÌNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Ở HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Minh

Bắc Kạn đã giúp tôi thực hiện thành công luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn Bùi Thanh Bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Những đóng góp mới của luận văn 4
5. Bố cục của luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1. Cơ sở lý luận về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 6
1.1.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Công nghiệp hóa
- hiện đại hóa 6
1.1.4. Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
công nghiệp hóa - hiện đại hóa 29
1.2. Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 33
1.2.1. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một
số nước trên thế giới và một số địa phương trong nước 33

Bắc Kạn 78
3.3.1. Những kết quả đạt được trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa huyện Chợ
Đồn, tỉnh Bắc Kạn 78
3.3.2. Những hạn chế, tồn tại trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp huyện Chợ Đồn 79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
3.4. ( Mô hình SWOT) phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, Những cơ
hội và thách thức trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng CNH-HĐH 82
Chƣơng 4: ĐỊNH HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO
HƢỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN CHỢ
ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN 86
4.1. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Chợ
Đồn, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015 86
4.1.1. Quan điểm phát triển 86
4.1.2. Mục tiêu tổng quát 87
4.1.3. Mục tiêu cụ thể 87
4.2. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đến
năm 2015 88
4.2.1. Về Nông nghiệp 89
4.2.2. Về Chăn nuôi 89
4.2.3. Về Lâm nghiệp 89
4.3. Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở huyện Chợ Đồn, tỉnh
Bắc Kạn đến năm 2015 90

ATK
An toàn khu
GDP
Tổng sản phẩm nội địa (viết tắt của Gross Domestic Product)
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
BVTV
Bảo vệ thực vât
HTX
Hợp tác xã
RAT
Rau an toàn
XDCB
Xây dựng cơ bản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Chợ Đồn giai đoạn từ năm 2009 - 2011 55
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Chợ Đồn giai đoạn
từ năm 2009 - 2011 56
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2005 so
với năm 2010 của huyện Chợ Đồn 63
Bảng 3.4. Giá trị sản xuất của các ngành năm 2005 so với năm 2010 64
Bảng 3.5. Thống kê giá trị sản xuất nông nghiệp theo ngành kinh tế
huyện Chợ Đồn 66
Bảng 3.6. Chỉ số phát triển ngành nông nghiệp huyện Chợ Đồn 67
Bảng 3.7. Thống kê giá trị sản xuất ngành trồng trọt huyện Chợ Đồn

lấy kinh tế làm thước đo tiêu chuẩn “dân giầu nước mạnh - xã hội phồn vinh”.
Trong cơ cấu nền kinh tế, nông nghiệp là một ngành quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế không chỉ đối với nước ta mà với nhiều nước trên thế
giới. Muốn phát triển kinh tế thì nông nghiệp là một trong những vấn đề cần
đặc biệt quan tâm và “nhận thức đúng vai trò của nó trong chiến lược phát
triển kinh tế và thực hiện đồng bộ hàng loạt những vấn đề liên quan đến nông
nghiệp”. Việt Nam là một nước nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Năm 2000 “trong GDP tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm 24,3%”, chiếm đến
80% dân số sống ở nông thôn và có khoảng trên 70% dân số sống, lao động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
làm việc trong ngành sản xuất nông nghiệp. Nên đây là một vấn đề đang
được, các ngành các cấp quan tâm, coi đó là một giải pháp quan trọng, cơ bản
để đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất
hàng hoá, hiện đại hoá nông thôn. Tuy nhiên trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp
vẫn chiếm tỷ trọng cao, sản xuất chủ yếu vẫn là tập trung vào trồng trọt, lĩnh
vực chăn nuôi và các dịch vụ trong nông nghiệp vẫn còn chưa được chú trọng.
Như vậy để nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt của kinh tế nông nghiệp đòi hỏi
cấp bách phải có các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp. Đây là một yêu cầu quan trọng và có tính cấp thiết trong giai đoạn
hiện nay.
Chợ Đồn là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn gồm 21 xã
và một thị trấn. Kinh tế huyện Chợ Đồn lấy nông nghiệp làm chủ đạo, do địa
hình thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên khả năng phát triển về công
nghiệp và dịch vụ còn hạn chế. Thực trạng hiện nay đời sống của nhân dân còn
gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào sản xuất Nông - Lâm nghiệp theo
hướng tự cung tự cấp là chính, cây trồng chủ yếu là các loại cây lương thực
như: Lúa, ngô, đậu tương…Đặc biệt các thôn ở vùng cao thuần nông, đường
giao thông rất khó khăn nên các ngành nghề và dịch vụ không có, các sản phẩm

đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa
- hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua.
- Xác định tiềm năng, thế mạnh phát triển sản xuất, đáp ứng yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện
đại hóa của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác
tiềm năng thế mạnh của địa phương phát triển sản xuất nông nghiệp đáp ứng
yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn
2012-2015 và những năm tiếp theo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Chợ
Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên địa bàn
huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc
Kạn giai đoạn 2007-2011.
- Về nội dung: Phân tích thực trạng kinh tế, các tiềm năng thế mạnh
phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Chợ Đồn, từ đó đưa ra các giải
pháp phù hợp nhằm đáp ứng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai
đoạn 2012-2015. Nguồn số liệu chủ yếu dựa trên nguồn số liệu thống kê về tự
nhiên, kinh tế xã hội của huyện Chợ Đồn giai đoạn 2007-2011. Kế hoạch và
số liệu định hướng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc
Kạn giai đoạn 2012-2020.

nhất thiết phải thể hiện rõ được bản chất của một hệ thống kinh tế, hệ thống
này hợp thành bởi các bộ phận hay phân hệ của kinh tế.
Theo quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, cơ cấu kinh
tế là thuộc tính của hệ thống kinh tế, biểu thị nội dung, cách thức liên kết,
phối hợp giữa các phần tử cấu thành nên hệ thống kinh tế. Nó phản ánh tính
chất và trình độ phát triển của hệ thống kinh tế luôn luôn vận động và phát
triển có sự điều khiển của con người. Trong những điều kiện kinh tế cụ thể,
các bộ phận hợp thành có mối quan hệ tương tác, hữu cơ; số lượng và chất
lượng của các bộ phận và quan hệ giữa chúng bị chi phối bởi yêu cầu phát
triển trong từng thời kỳ của đất nước nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định.
Sự liên kết, phối hợp các bộ phận hợp thành hệ thống càng chặt chẽ, tương tác
giữa các bộ phận hợp thành ở trình độ càng cao thì sự phát triển hài hòa được
bảo đảm, hệ thống càng phát triển và cơ hội đem lại kết quả càng cao, hiệu
quả càng lớn. Vì vậy, có thể thấy rằng, cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối
quan hệ về chất lượng (được đo bằng mức độ chặt - lỏng của mối quan hệ
tương tác giữa các phần tử cấu thành) và số lượng (được đo bằng tỷ lệ phần
trăm của mỗi phần tử) giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và
trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định [4], [9], [10].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Cơ cấu của hệ thống phải được nhìn nhận là một thực thể gồm rất nhiều
phần tử hay phân hệ; có cấu trúc theo các kiểu cách nhất định. Khi thay đổi
kiểu cách kết cấu hay thay đổi cấu trúc thì hệ thống sẽ thay đổi cả về hình dạng,
tính chất và trình độ. Hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống con, đến lượt mình
hệ thống con lại có nhiều phần tử nhỏ hơn. Phần tử nhở hơn đó lại có cơ cấu
riêng. Trong một hệ thống tồn tại tập hợp các phần tử theo một trật tự và quan
hệ tỷ lệ nhất định. Mỗi phần tử có vị trí trong trật tự cơ cấu và có vai trò khác
nhau. Cơ cấu chuyển động và biến đổi không ngừng và làm cho tính chất, trình
độ của hệ thống thay đổi theo. Nói cách khác, cơ cấu kinh tế được hiểu là cách

tế Ngành, lĩnh vực cùng với thành phần kinh tế và vùng lãnh thổ là ba bộ
phận hợp thành quan trọng nhất của nền kinh tế. Đến lượt mình, mỗi vùng,
mỗi ngành lại có cơ cấu kinh tế riêng trong từng thời kỳ phát triển tùy theo
các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể.
Từ phân tích trên có thể khái quát: cơ cấu kinh tế là một tổng thể các
bộ phận hợp thành nền kinh tế của mỗi nước. Các bộ phận đó gắn bó chặt
chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ về số
lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất
định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, nhằm đạt được
hiệu quả kinh tế - xã hội cao [12].
b. Phân loại cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế ngành [4], [8]: Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp ngành
kinh tế được hình thành trên các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa
các ngành với nhau và phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền
kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu ngành kinh tế
quyết định cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Cơ cấu lãnh thổ là sự
hợp lý hóa cơ cấu ngành trên mỗi vùng lãnh thổ, kết hợp giữa chúng một cách
tối ưu, cơ cấu thành phần kinh tế là sự vận động của từng loại thành phần kinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
tế trong quá trình phát triển các ngành và các vùng lãnh thổ nhằm phát huy
đến mức cao nhất sức mạnh kinh tế của từng vùng và toàn bộ nền kinh tế.
Việc nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế là nhằm tìm ra những cách thức duy trì
tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực
có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ, thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Biểu thị cơ cấu ngành kinh tế bằng vị trí, tỷ trọng của mỗi ngành trong
hệ thống kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành kinh tế là biểu hiện quan trọng nhất
và đặc trưng nhất của cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cần

có của chính cơ cấu. Không phải khi nào tỷ trọng công nghiệp cao cũng nói lên
cơ cấu kinh tế hiện đại hoặc cơ cấu kinh tế có hiệu quả. Chẳng hạn, khi tỷ trọng
công nghiệp chiếm trong GDP lớn và tỷ lệ nông, lâm thủy sản qua chế biến tuy
cao nhưng năng suất lao động thấp, ngân sách thu được ít, để tạo ra một đơn vị
GDP cần mức tiêu hao điện năng lớn thì cơ cấu kinh tế đó không hiệu quả.
Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa trên phương thức, công nghệ sản xuất:
Nông nghiệp và phi nông nghiệp. Việc phân chia cơ cấu kinh tế thành hai
nhóm ngành này để quan sát trình độ của cơ cấu, yếu tố quan trọng để thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế. Khi phân tích theo hai nhóm ngành này, chúng ta cần
quan sát phương thức, công nghệ tạo ra sản phẩm. Khi nhóm ngành phi nông
nghiệp càng phát triển và chiếm tỷ trọng lớn thì nền kinh tê càng phát triển ở
trình độ cao. Nhóm ngành nông nghiệp gồm các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp; nhóm ngành phi nông nghiệp gồm các ngành công nghiệp,
xây dựng và dịch vụ. Đối với các nước đang phát triển thì việc xem xét cơ cấu
kinh tế theo cách này có ý nghĩa to lớn. Việc chuyển dân cư nông nghiệp sang
sống tại các độ thị và chuyển lao động nông nghiệp sang làm việc trong các
khu vực phi nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật tiến tới sự hiện đại; sự
chuyển dịch này đến một mức nào đó thì nền kinh tế được coi là đã phát triển.
Ở các nước đang phát triển các ngành nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn
trong nền kinh tế, khi đó công nghệ của nền kinh tế chưa cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Để xác định một quốc gia đã thuộc vào nhóm các nước phát triển hay
chưa, chúng ta cần dựa trên kết quả phân tích cơ cấu giữa các nhóm ngành
nông nghiệp và phi nông nghiệp. Theo nhiều nhà kinh tế, một nước khi các
ngành phi nông nghiệp chiếm trên 85% lao động xã hội và tạo ra khoảng 80%
GDP thì nước đó được coi là quốc gia phát triển.
Trong cách phân loại theo phương thức sản xuất, người ta còn chia các
ngành thành 2 nhóm sau đây:

có quan hệ khăng khít với nhau theo một tương quan nhất định. Đặc trưng tiêu
biểu nhất là các ngành dịch vụ phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất.
Khi xem xét cơ cấu ngành kinh tế, chúng ta cũng phải chú ý đến tỷ
trọng hay mức đóng góp của các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế, cũng như
của các sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao, hàm lượng chất xám cao.
Nếu như các sản phẩm này chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh tế càng tốt và
ngược lại. Một nền kinh tế được xem là phát triển phải có các ngành chế tác
chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên 30%). Mặt khác, chú ý đến cơ cấu nội bộ
của các ngành kinh tế. Tính hợp lý trong nội bộ của các ngành và cơ cấu
ngành kinh tế sẽ bảo đảm tính hiệu quả cho sự phát triển nền kinh tế. Cơ cấu
giữa hai nhóm ngành sản xuất vật chất và khối sản xuất sản phẩm dịch vụ cần
được nghiên cứu kỹ nhằm phát huy toàn diện, đầy đủ mối quan hệ giữa chúng
làm cho nền kinh tế có sức mạnh tổng hợp, phát triển cân đối, hài hòa giữa
các mặt, giữa đầu vào và đầu ra.
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ [8], [10]: Việc phân loại cơ cấu của nền kinh tế
theo lãnh thổ là để xem có bao nhiêu lãnh thổ tạo nên cấu trúc lãnh thổ của
nền kinh tế và các lãnh thổ liên kết với nhau ra sao, lãnh thổ nào có ý nghĩa
động lực. Các xí nghiệp được “sắp xếp” theo lãnh thổ và chúng gắn với nhau
tạo nên sức mạnh kinh tế của mỗi lãnh thổ. Ở đâu có những xí nghiệp quan
trọng, có ý nghĩa then chốt, đột phá thì ở đó lãnh thổ có vai trò động lực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ là kết quả của phân công lao động xã hội theo
lãnh thổ. Nếu có cấu ngành kinh tế được hình thành từ quá trình thực hiện
chuyên môn hóa sản xuất thì cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc phân bố sản
xuất theo không gian địa lý. Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế là hai
mặt của cơ cấu kinh tế. Bản chất của chúng đều là kết quả của sự phân công
lao động xã hội. Cơ cấu lãnh thổ hình thành đồng thời với cơ cấu ngành và
thống nhất trong vùng kinh tế. Trong một vùng cụ thể, cơ cấu lãnh thổ phản

chi phối bởi sức chứa của lãnh thổ; được quyết định bởi hiệu quả tổng thể
kinh tế, xã hội, môi trường; bị ảnh hưởng của các vùng khác; dễ bị tổn thương
do lao động và con người di chuyển giữa các vùng.
Một cơ cấu lãnh thổ được coi là hợp lý phải đạt được ba nhóm mục tiêu
[3]: (1) Đạt được những mục tiêu toàn vùng: Phải hoàn thành những nhiệm vụ
kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các
nguồn lực khác có trong vùng, hoàn thành cơ cấu kinh tế của vùng để phát
triển tối ưu kinh tế vùng trước mặt cũng như lâu dài, tạo cơ sở vật chất kỹ
thuât, những điều kiện kinh tế - xã hội khác cho việc phát triển nhanh chóng
kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng, bảo vệ môi trường; (2)
Đạt được những mục tiêu của ngành: Hoàn thành nhiệm vụ sản xuất những
sản phẩm chủ yếu, đáp ứng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, giảm
đến mức thấp nhất chi phí sản xuất, phối hợp hài hóa với các bộ phận khác
trong và ngoài ngành nằm ở các vùng khác; (3) Đạt được những mục tiêu của
nền kinh tế cả nước: thể hiện đúng chiến lược phát triển quốc gia.
Do các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, kết cấu hạ tầng của
mỗi quốc gia không được phân bố đồng đều nên có những vùng có nhiều điều
kiện thuận lợi hơn cho phát triển so với các vùng khác; việc đầu tư phân tán
cho các vùng sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trước thực tế đó, nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
quốc gia đã lựa chọn phướng thức đầu tư tập trung cho các vùng có nhiều
thuận lợi hơn, các vùng vốn đã có sự phát triển hơn so với các vùng lãnh thổ
khác để tạo điều kiện cho các vùng này phát triển nhanh hơn, mạnh hơn và trở
thành những trọng điểm phát triển, những đầu tàu tạo gia tốc phát triển chung
cho toàn bộ nền kinh tế. Với lý do đó, nhiều học giả cho rằng chính sách đầu
tư có trọng điểm theo lãnh thổ luôn góp phần quan trọng trong chiến lược
phát triển cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế [7].
Lý thuyết cực phát triển do các nhà kinh tế và địa lý kinh tế phương

đúng, phù hợp với hoàn cảnh của nhiều nước đang phát triển. Chủ trương
phát triển các lãnh thổ trọng điểm ở Việt Nam đã được nêu trong nghị quyết
các kỳ đại hội và đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền
Trung và phía Nam [5].
Cơ cấu thành phần kinh tế: Việc phân loại cơ cấu của nền kinh tế là để
xem có bao nhiêu loại hình kinh tế tồn tại, phát triển trong hệ thống kinh tế
đươi góc độ sở hữu; trong đó loại hình kinh tế nào có ý nghĩa quyết định đối
với nền kinh tế. Ở nước ta, trên cơ sở Cương lĩnh và Hiến pháp, đồng thời
thông qua tổng kết thực tiễn đổi mới ở các kỳ đại hội, Đảng ta đã chỉ rõ: “Phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức
sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức
phân phối Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các
tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển. Trong các hình thức sở hữu hỗn
hợp đó, chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần, cần khuyến khích phát triển để
các hình thức tổ chức kinh doanh này trở thành phổ biến trong nền kinh tế,
thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu. Phải tăng cường tiềm lực
và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền
kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô , phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status