ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGUYÊN THÀNH
¸P DôNG PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG THAM NHòNG
QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGUYÊN THÀNH
¸P DôNG PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG THAM NHòNG
QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - 2017
1.2.
Khái niệm, nội dung cơ bản và vai trò của pháp luật phòng,
chống tham nhũng ...................................................................................... 22
1.2.1. Khái niệm về pháp luật phòng, chống tham nhũng .......................... 22
1.2.2. Các văn bản về phòng, chống tham nhũng ....................................... 23
1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật phòng, chống tham nhũng ............... 24
1.2.4. Vai trò của pháp luật về phòng, chống tham nhũng ......................... 31
1.3.
Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng ...... 36
1.3.1. Áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng là một trong
những hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ...... 36
1.3.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng ................ 38
1.4.
Các tiêu chí ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật về
phòng, chống tham nhũng....................................................................... 40
1.4.1. Yếu tố pháp luật ................................................................................ 40
1.4.2. Ý thức pháp luật của cán bộ áp dụng pháp luật về phòng, chống
tham nhũng ........................................................................................ 41
1.4.3. Đạo đức, bản lĩnh của cán bộ áp dụng pháp luật về phòng,
chống tham nhũng ............................................................................. 43
1.4.4. Dư luận xã hội, tính tích cực pháp lý của người dân và các tổ
chức xã hội về phòng, chống tham nhũng ......................................... 44
1.5.
1.5.1.
1.5.2.
1.5.3.
Các điều kiện đảm bảo áp dụng pháp luật về phòng, chống
VỀ PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TẠI TỈNH THANH
HÓA THỜI GIAN TỚI ............................................................................83
3.1.
Quan điểm áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng
tại tỉnh Thanh Hóa .......................................................................... 83
3.1.1. Áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng phải bảo đảm sự
lãnh đạo toàn diện của các cấp ủy Đảng; phát huy sức mạnh
tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội ...................... 85
3.1.2.
Áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng phải góp phần
phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị và
khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong
sạch, vững mạnh................................................................................ 86
3.1.3. Áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng trên cơ sở vừa tích
cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh, trong đó
phòng ngừa là chính .......................................................................... 87
3.1.4. Áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng phải đáp ứng
yêu cầu của việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân .......................................................... 89
3.1.5. Áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng phải kế thừa
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương Thanh Hóa;
chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh
nghiệm của nước ngoài ..................................................................... 90
3.2.
Các giải pháp cơ bản áp dụng pháp luật phòng, chống tham
nhũng thời gian tới...................................................................................... 91
Hội đồng Nhân dân
KTXH :
Kinh tế - xã hội
MTTQ :
Mặt trận Tổ quốc
Nxb :
Nhà xuất bản
PCTN :
Phòng, chống tham nhũng
QPAN :
Quốc phòng - an ninh
TAND :
Tòa án Nhân dân
TTHC :
Thủ tục hành chính
Bảng 2.2a.
Thống kê số liệu thụ lý và kết quả xét xử các tội phạm
tham nhũng của hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa
1133
Bảng 2.2b.
Thống kê số liệu kết quả xét xử các tội phạm về tham
nhũng của hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa
1144
Bảng 2.3.
Tình hình tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công
tác PCTN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
1157
Bảng 2.4.
Kết quả thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện
Luật PCTN
118
Số hiệu
Đảng bộ thành phố Hà Nội). Những năm qua, trên địa bàn tỉnh đã và đang
triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án phát triển KTXH có tác động
lan tỏa, tạo động lực thúc đẩy phát triển. Thực hiện chủ trương, nghị quyết
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác PCTN ở Thanh Hóa đã có nhiều
chuyển biến tích cực; nhận thức của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính
trị và Nhân dân về PCTN được nâng lên. Tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ
làm công tác PCTN được bổ sung, hoàn thiện và từng bước đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ. Công tác thanh tra, kiểm tra, xây dựng và hoàn thiện các quy định
về công khai, minh bạch được quan tâm; các vụ việc tham nhũng được xử lý
nghiêm minh, đúng pháp luật, có tác dụng phòng ngừa cao, tạo được niềm tin
trong Nhân dân, góp phần tạo môi trường ổn định cho sự phát triển KTXH
của tỉnh, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình KTXH của
tỉnh còn gặp không ít khó khăn do địa bàn, địa hình phức tạp, giao thông gặp
nhiều trở ngại, trình độ dân trí không đồng đều, cơ sở hạ tầng, đời sống
Nhân dân đa phần còn khó khăn. Công tác PCTN, việc tuyên truyền để cán
bộ, đảng viên và Nhân dân thấy rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong việc
lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ngăn chặn và từng bước đẩy lùi
tham nhũng, lãng phí chưa thật sự đồng bộ. Một số địa phương, đơn vị, cấp
uỷ, chính quyền chưa thật sự quan tâm đúng mức công tác PCTN. Việc tiêu
cực, lãng phí, tham nhũng trên một số lĩnh vực như: Đất đai, xây dựng cơ
bản, quản lý tài nguyên - khoáng sản,... gây bức xúc trong Nhân dân, nhưng
phát hiện để xử lý còn ít. Việc phát hiện tham nhũng trong nội bộ các cơ
quan, đơn vị còn hạn chế; có nơi có biểu hiện né tránh hoặc ngại va chạm.
Sự phối hợp giữa cơ quan thanh tra và các cơ quan tư pháp trong xử lý tham
nhũng chưa kịp thời. Hoạt động của các cơ quan nội chính có lúc, có nơi
chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ…
3
nhũng ở nước ta”, Ban Nội chính Trung ương (1998); "Tội phạm kinh tế thời
mở cửa", Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Hòa Bình, Nxb Công an Nhân dân
(2003), Hà Nội; “Một số vấn đề về tệ nạn tham nhũng và những nội dung cơ
bản của luật PCTN” của Đinh Văn Minh, Nxb Chính trị quốc gia (2005);
"Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực trạng sai phạm, thất thoát, lãng
phí được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra nhằm góp phần ngăn
ngừa tham nhũng trong đầu tư xây dựng ở nước ta", Phạm Ngọc Đản, Đề tài
nghiên cứu khoa học, Văn phòng Chính phủ (2006), Hà Nội; "Công tác đấu
tranh PCTN trong xây dựng cơ bản", Lê Thế Tiệm và đồng nghiệp, Nxb
Công an Nhân dân (2006), Hà Nội; "Nhận diện tham nhũng và các giải pháp
PCTN ở Việt Nam hiện nay", của tác giả Phan Xuân Sơn, Nxb Chính trị quốc gia
(2010); "Một số vấn đề lý luận - thực tiễn 30 năm đổi mới (1986-2016) về tư
pháp - nội chính, PCTN, lãng phí", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2015); “Tội
phạm tham nhũng thực trạng và một số giải pháp” của đại tá, PGS,TS Đỗ Anh
Tuấn, Phó Cục trưởng Bộ Công an, Tạp chí Nội chính (2016). "Đấu tranh PCTN
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng" của Phan Đình Trạc, Tạp chí
Nội chính số 41 (2017); "Tăng cường công tác PCTN trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa" của Lê Nguyên Thành, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 255 (2017), Học viện
Hành chính Quốc gia; "Nâng cao vai trò của cấp ủy đảng trong công tác PCTN
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" của Lê Nguyên Thành, Tạp chí Nội chính số 46
(2017), Ban Nội chính Trung ương Đảng.
Thứ hai, một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu về PCTN, như: “PCTN từ
phương diện giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức bộ máy hành chính
Nhà nước” của Nguyễn Thị Kim Nhung, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
(2014); “Vai trò của Thanh tra nhà nước trong PCTN ở Việt Nam hiện nay”
của Lương Văn Liệu, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2011);“Một số
Hóa nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu thực tế đang đặt ra trong tiến trình hội
nhập quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
5
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích nêu trên luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật PCTN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật PCTN, tình trạng
tham nhũng và đấu tranh, PCTN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thời gian qua
thông qua việc tổng kết những kết quả đã đạt được, chỉ rõ thành công và hạn
chế cũng như nguyên nhân của thành công và hạn chế đó.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp bảo đảm đấu tranh PCTN trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về PCTN qua
thực tiễn tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng về áp dụng pháp luật
PCTN tại tỉnh Thanh Hóa trong 10 năm, từ năm 2007 đến hết năm 2016.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đặc biệt
là lý luận về áp dụng pháp luật đồng thời luận văn còn được thực hiện trên cơ
sở bám sát các chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng Sản
Việt Nam về nhà nước và pháp luật; về xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; về cải cách tư pháp trong
giai đoạn hiện nay; coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến, giáo
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT PHÕNG, CHỐNG
THAM NHŨNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tham nhũng
1.1.1. Khái niệm tham nhũng
Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính lịch sử, gắn bó
hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng nảy
sinh, tồn tại và phát triển do sự hư hỏng, biến chất, tha hóa của những người
có chức quyền đã làm biến dạng quyền hạn được trao quyền. Tham nhũng
thường gắn với quan liêu. Quan liêu là tiền đề của tham nhũng và thường là
để thực hiện tham nhũng.
Trong các dạng quyền lực xã hội thì quyền lực nhà nước là một dạng
quyền lực rất dễ bị lợi dụng để tham nhũng. Vì vậy, có thể khẳng định rằng
tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ xã hội với những biểu hiện và mức độ khác
nhau, tùy thuộc bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng
lãnh thổ trong từng giai đoạn phát triển. Tham nhũng luôn song hành với
quyền lực; nhiều người xem tham nhũng là “bóng tối vươn theo quyền lực”,
thậm chí là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Khi nào các hình thức quyền
lực chính trị còn bị “tha hóa”, quyền lực nhà nước còn bị lợi dụng thì nguy cơ
xảy ra tham nhũng còn hiện hữu.
Tham nhũng không phải là khái niệm nhất thành, bất biến. Trong tiếng
Anh là “corruption” với nghĩa thối nát, sai lệch, vi phạm, ý rằng những quan
chức nhà nước đã vi phạm luân thường đạo lý xã hội hoặc các luật lệ nhằm
tìm kiếm nguồn lợi cho bản thân, gia đình, bạn bè, đảng phái, hoặc các nhóm
Ở Việt Nam, trước năm 1990, khái niệm tham nhũng ít được sử dụng.
Trước đó, khi nói về tham nhũng, các chính trị gia, các nhà khoa học và Nhân
dân thường chỉ rõ các biểu hiện của tham nhũng dưới các dạng hành vi cụ thể
9
như tham ô, hối lộ, quan liêu… mà chưa khái quát thành một khái niệm chung
nhất. Văn bản pháp luật sớm nhất của Nhà nước sử dụng thuật ngữ “tham
nhũng”, quy định việc xử lý hành vi tham nhũng là Quyết đinh số 240-HĐBT,
ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về đấu tranh
chống tham nhũng. Tiếp đó các văn bản pháp luật khác quy định trực tiếp về
đấu tranh chống tham nhũng lần lượt được ban hành, như: Pháp lệnh chống
tham nhũng năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh
chống tham nhũng năm 2000; Luật PCTN năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật PCTN năm 2007, năm 2012.
Trong Từ điển tiếng Việt “Tham nhũng” được định nghĩa là: “Lợi dụng
quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của” [36, tr.910]. Theo định nghĩa
này, có lẽ đối tượng tham nhũng ở nước ta chưa được khái quát đầy đủ, vì ở
Trung Quốc, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a hay Sin-ga-po,…, người ta đều khẳng
định, công chức nhà nước nhận hối lộ cũng là tham nhũng. Nếu hiểu tham
nhũng như các nước đó định nghĩa thì đối tượng tham nhũng ở nước ta không
chỉ là những người có chức vụ “lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và
lấy của”, mà còn bao gồm cả những công chức, viên chức “nhận hối lộ” từ
các thành phần dân cư khác nhau trong xã hội để giải quyết các yêu cầu công
việc của họ có liên quan đến TTHC - pháp luật của Nhà nước.
Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam đưa ra khái niệm:
“Tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng
chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, tham ô, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái
chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính vì động cơ vụ lợi gây thiệt hại
Theo nghĩa rộng, "tham nhũng" bao gồm mọi hành vi của bất kỳ người
nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng
chức vụ, quyền hạn hoặc nhiệm vụ được giao để trục lợi cá nhân. Chủ thể của
hành vi tham nhũng có thể là cán bộ, công chức, viên chức hoặc người khác
thuộc khu vực công hay khu vực tư.
11
Theo nghĩa hẹp, "tham nhũng" là hành vi của người có chức vụ, quyền
hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Người có chức vụ, quyền
hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu vực công, tức là ở các cơ quan, tổ
chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách của nhà nước, vốn,
tài sản của nhà nước. Việc giới hạn trong khu vực công nhằm áp dụng các
biện pháp PCTN thích hợp, có trọng tâm, trọng điểm, góp phần nâng cao hiệu
quả đấu tranh PCTN.
Ở bất cứ quốc gia nào, quan niệm đúng đắn về tham nhũng và xác định
rõ ràng về các dấu hiệu của tham nhũng là một trong những yếu tố quan trọng
bảo đảm tính hiệu quả trong đấu tranh PCTN. Khái niệm về tham nhũng theo
quy định của Luật PCTN ở Việt Nam hiện nay là tương đối phù hợp với điều
kiện phát triển KTXH, phù hợp với tình hình tham nhũng và đặc điểm của
cuộc đấu tranh PCTN trong giai đoạn hiện nay. Nhưng trong xu thế hội nhập
quốc tế, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, thì
rất khó có thể phân biệt “khu vực công” và “khu vực tư”. Đặc biệt, trong quá
trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và việc xã hội hoá, chuyển giao
một số lĩnh vực cho các khu vực phi nhà nước tham gia thì càng khó xác định
ranh giới giữa “công” và “tư”.
Ngày nay, quan niệm phổ biến trên thế giới cho rằng tham nhũng là sử
dụng quyền lực “công” để phục vụ lợi ích “tư”, nhưng khái niệm “công” được
chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn được hiểu là người có một
vị trí nhất định trong xã hội, vị trí người đó có được có thể là “do bổ nhiệm,
do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc
không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền
hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ” (Khoản 2, Điều 227 BLHS 1999).
Người có chức vụ là người có một chức danh nhất định phù hợp với pháp luật
hoặc Điều lệ hoạt động của tổ chức, có thể được hưởng phụ cấp từ chức danh
13
đó. Người có quyền hạn được hiểu là người tuy không có chức danh nhưng có
quyền hạn nhất định do được giao một công việc cụ thể. Những chủ thể này
đã lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong hoạt động công vụ.
Người lợi dụng chức vụ thì sử dụng quyền hạn đó, người lạm dụng thì làm
những việc vượt ra ngoài phạm vi chức năng, nhiệm vụ (chức vụ, quyền hạn)
của mình. Họ đã coi chức vụ, quyền hạn của mình như là phương tiện, là thế
mạnh để thực hiện hành vi bất hợp pháp.
Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam không chỉ được
hiểu là những cán bộ, công chức giữ những chức vụ quản lý trong bộ máy nhà
nước hoặc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội. Theo Luật PCTN,
người có chức vụ, quyền hạn bao gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ; sỹ quan,
hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc công an Nhân dân;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước, cán bộ lãnh
đạo, quản lý người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
- Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
quyền hạn hay vị trí công tác của người có hành vi tham nhũng.
Thứ tư, mục đích của hành vi tham nhũng là “vì vụ lợi”, nhằm thu lợi
bất chính. Cái thôi thúc chủ thể tham nhũng thực hiện hành vi lúc này không
phải là chức trách, bổn phận, lợi ích của Nhà nước, xã hội hay Nhân dân, mà
là lợi ích của chính chủ thể - lợi ích bất hợp pháp. Thông qua rất nhiều thủ
đoạn khác nhau, chủ thể tham nhũng đã chiếm đoạt tiền, tài sản hoặc “nhận”
được một lợi ích vật chất nhất định. Mục đích vụ lợi có thể được hiểu là người
có chức vụ quyền hạn đã dùng ảnh hưởng của mình để mang lại lợi ích cho
vợ, con, người thân… Khái niệm vụ lợi biểu hiện rất đa dạng trong thực tế.
15
Lợi ích có thể là tiền, tài sản, nhưng cũng có thể là lợi thế về chính trị. Tính
điển hình của hành vi tham nhũng là biểu hiện tham ô, hối lộ, đút lót, làm trái
quy định của pháp luật về chấp hành nhiệm vụ được giao.
Thứ năm, tham nhũng là sự biến dạng theo hướng tiêu cực của hành vi
công vụ, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. Tham
nhũng là hành vi đối lập, đi ngược lại với hành vi nhằm thực hiện công vụ.
Chính vì vậy mà tham nhũng đã làm cho tính đúng đắn trong hoạt động của
các cơ quan, tổ chức bị xuyên tạc. Tham nhũng có thể cản trở hoạt động bình
thường của cơ quan, tổ chức, gây trì trệ hoặc làm cho các hoạt động đó vượt
ra ngoài phạm vi luật định. Tính đúng đắn trong hoạt động của cơ quan, tổ
chức bị xuyên tạc cũng đồng nghĩa với việc uy tín cơ quan, tổ chức bị giảm
sút. Trên bình diện xã hội, người ta coi tham nhũng như là một tệ nạn “tệ
tham nhũng”, “nạn tham nhũng”, bởi nó “tương đối phổ biến trong xã hội,
xấu xa và có tác hại lớn”. Do tính phổ biến rộng rãi và tác hại nhiều mặt của
tham nhũng về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, truyền thống, đạo lý mà ở
nước ta, tệ tham nhũng ngày nay đã được ví như là “quốc nạn”, cần phải đấu
tranh diệt bỏ nhằm đảm bảo một Nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh.
mực xã hội. Những người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi tham
nhũng là người hành động theo chiều hướng thứ hai.
Thứ hai, hệ thống chính trị chậm đổi mới, hoạt động của bộ máy Nhà
nước kém hiệu quả; những hạn chế trong quản lý, điều hành nền kinh tế và
trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội là nguyên nhân
phát sinh tham nhũng. Một quốc gia quản lý tốt phải có bộ máy nhà nước tốt.
Ở nước ta, sự quản lý, lãnh đạo, điều hành đất nước là sự thống nhất và phối
hợp giữa vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý của Nhà nước và sự
tham gia tích cực, có hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội thông qua
việc tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Tuy nhiên, sự không rõ ràng trong phân cấp, phân công vai trò, chức
17