ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU LONG
TRî GIóP PH¸P Lý T¹I TØNH THANH HO¸
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
1.1. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý 10
1.1.1. Khái niệm về trợ giúp pháp lý 10
1.1.2. Đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý 15
1.2. Những căn cứ, cơ sở để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động
trợ giúp pháp lý 26
1.2.1. Khái niệm chung về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 26
1.2.2. Các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 32
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
TẠI THANH HÓA (Từ 01/01/2007 đến nay) 34
2.1. Một số nét về đặc điểm kinh tế, xã hội ở tỉnh Thanh Hoá ảnh
hưởng đến hoạt động trợ giúp pháp lý 34
2.1.1. Về địa lý 34
2.1.2. Về dân cư 35
2.1.3. Về đặc điểm truyền thống 36
2.2. Hoạt động trợ giúp pháp lý ở Tỉnh Thanh Hoá 37
2.2.1. Thực trạng về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý 39
2.2.2. Thực trạng về đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý 44
2.2.3. Thực trạng về đối tượng được trợ giúp pháp lý 50
2.2.4. Thực trạng về các nguồn lực bảo đảm cho hoạt động trợ giúp pháp lý 52
2.2.5. Kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý 55
2.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 72
2.3.1. Hiệu quả đã đạt được 72
2.3.2. Những khó khăn, hạn chế trong hoạt động trợ giúp pháp lý tại
Thanh Hóa 76
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở THANH HÓA 82
3.1. Quan điểm chỉ đạo về nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp
pháp lý ở Thanh Hóa 82
3.1.1. Trợ giúp pháp lý nhằm đảm bảo thực hiện đường lối của Đảng,
pháp luật của Nhà nước về các vấn đề xã hội, bảo đảm công
công tác trợ giúp pháp lý 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BTXH: Bảo trợ xã hội
CLB: Câu lạc bộ
PT-TH : Phát tranh – truyền hình
TGPL: Trợ giúp pháp lý
UBND: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Tổng hợp số liệu về tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ trợ
giúp pháp lý từ năm 2007 đến 9/2014
48
Bảng 2.2:
Tổng hợp số liệu kinh phí hoạt động trợ giúp pháp lý từ
[25, tr.1].
Đáp ứng nhu cầu tất yếu của xã hội, đồng thời cụ thể hóa chủ trương
của Đảng vào cuộc sống, hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí cho người
nghèo và đối tượng chính sách được ra đời vào năm 1997 trên cơ sở Quyết
định số 734/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trải qua thời gian hình thành và
phát triển, đến nay công tác trợ giúp pháp lý đã phát triển cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu, đạt được những kết quả quan trọng và đang ngày càng khẳng định
được vị trí, vai trò và ý nghĩa của mình trong đời sống xã hội.
Tại Thanh Hóa, hoạt động trợ giúp pháp lý chính thức được hình
thành và đi vào hoạt động bằng việc ban hành Quyết định số 452/ QĐ - UB
ngày 23/3/1999 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc thành lập Trung tâm Trợ
giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách thuộc Sở Tư
2
pháp Thanh Hoá gọi tắt là Trung tâm Trợ giúp pháp lý Thanh Hoá [66].
Trung tâm có chức năng thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người
nghèo, người dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách và những người có
hoàn cảnh đặc biệt khác. Trải qua 15 năm hoạt động, công tác trợ giúp pháp
lý tại Thanh Hóa đã đạt được nhiều kết quả tích cực, được các cấp uỷ Đảng,
chính quyền và các tổ chức đoàn thể ghi nhận, đánh giá cao. Hoạt động trợ
giúp pháp lý cũng góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý, nâng cao hiểu biết pháp luật
cho người dân nói chung và các đối tượng được trợ giúp pháp lý nói riêng;
góp phần ổn định tình hình trật tự, an ninh xã hội, hạn chế, giảm thiểu các
tranh chấp mâu thuẫn ngay từ cấp cơ sở.
Với những cố gắng, nỗ lực không ngừng trong việc giải quyết các vụ
việc trợ giúp pháp lý liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người nghèo,
người có công, người dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách khác, tính
đến tháng 9/2014 Trung tâm Trợ giúp pháp lý đã thực hiện được 20.979 vụ
việc, trong đó có 18.924 vụ tư vấn, 964 vụ tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố
hoạt động tố tụng để vụ việc được giải quyết chính xác, khách quan, công
bằng và đúng pháp luật; tác động tích cực đến đời sống pháp luật của xã hội,
góp phần làm cho vai trò của pháp luật được phát huy, thực sự là công cụ bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần quan trọng vào sự
nghiệp cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Tuy đã đạt được những kết quả tích cực nêu trên nhưng so với yêu
cầu, nhiệm vụ đặt ra, hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
cũng còn tồn tại nhiều hạn chế cần phải được nghiên cứu và khắc phục trong
thời gian tới:
- Thanh Hoá có đặc điểm địa lý, dân cư như là một Việt Nam thu nhỏ
4
với đầy đủ các vùng miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển, có biên giới
giáp danh nước bạn Lào. Các đơn vị hành chính bao gồm 01 thành phố trực
thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện, trong đó có tới 11 huyện miền núi; diện tích
11.133,4km
2
; dân số 3,405 triệu người với 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái,
H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú, trong đó có trên 1 triệu đồng bào là người dân
tộc. Đặc điểm này cho thấy nhu cầu về trợ giúp pháp lý là rất lớn, trong khi
thực tế mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ cho một số ít đối tượng và
trong một phạm vi hạn hẹp;
- Mạng lưới Chi nhánh, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý còn chậm đưa vào
hoạt động, quá trình hoạt động còn lỏng lẻo, công tác kiện toàn chưa kịp thời
khi có thay đổi, chưa được theo dõi kiểm tra, giám sát chặt chẽ;
- Đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý còn thiếu về số lượng, yếu
về chất lượng; Cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho hoạt động còn thiếu thốn
và hạn chế chưa tương xứng với nhiệm vụ, số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý
bằng hình thức tham gia tố tụng còn rất ít, chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý
chưa cao; Công tác đánh giá chất lượng vụ việc còn nhiều hạn chế chưa được
động này trong thời gian tới.
- Đề tài "Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh trợ giúp
pháp lý" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do Viện Khoa học pháp lý - Bộ
Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS. Tạ Thị Minh Lý [71]. Đề tài
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý
thông qua việc phân tích, đánh giá, so sánh các vấn đề có liên quan đến việc
thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian qua. Tuy nhiên, Quốc
hội đã cho ý kiến nâng Dự án Pháp lệnh trợ giúp pháp lý lên thành Luật trợ
giúp pháp lý và đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2006.
Đến nay, Luật Trợ giúp pháp lý đã có hiện lưc thi hành đươc gần 8 năm.
6
Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ:
- Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý [32]. Luận án tập trung nghiên
cứu cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về
trợ giúp pháp lý; thực trạng điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý và
phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý trong
điều kiện đổi mới.
- Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người
nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Đỗ Xuân Lân [30].
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng các hình thức tiếp cận
pháp luật của người nghèo ở Việt Nam, các giải pháp nhằm bảo đảm người
nghèo ở Việt Nam luôn được tiếp cận với pháp luật.
- Luận văn thạc sĩ: "Phát triển trợ giúp pháp lý ở cơ sở" của tác giả
Đặng Thị Loan [31]. Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn
về các mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở và đưa ra các giải pháp để phát triển
các mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở.
- Luận văn thạc sĩ: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp
pháp lý” của tác giả Nguyễn Bích Ngọc [34]. Luận văn tập trung nghiên cứu
Nghiên cứu lập pháp [42]. Các bài viết, bài nghiên cứu nêu trên ở nhiều khía
cạnh, mức độ khác nhau đã phân tích, đánh giá về các vấn đề hiệu quả của
pháp luật nói chung và công tác phổ biến giáo dục pháp luật nói riêng; nghiên
cứu các chế định về quyền con người, quyền công dân, xã hội pháp quyền,
nhà nước pháp quyền, trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm quyền
con người, quyền công dân qua các bản Hiến pháp của Việt Nam
Những bài viết, công trình nghiên cứu nói trên đều có giá trị tham khảo
ở chừng mực nhất định đối với các nội dung có liên quan đến đề tài luận văn,
trong đó có các công trình đã nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt
động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách chuyên sâu và toàn diện về thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý ở
Thanh Hoá. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thanh
Hóa” là rất cần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn góp phần tìm ra
giải pháp, định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý tại Thanh
Hoá một cách toàn diện trong những năm tiếp theo.
8
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực
tiễn về tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp
lý ở Thanh Hóa hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các định hướng, giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý tại Thanh Hóa để đối tượng
được trợ giúp pháp lý nói chung có nhiều cơ hội được hưởng thụ dịch vụ trợ
giúp pháp lý miễn phí có chất lượng cao.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung chính sau đây:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý về tổ chức, hoạt động, hiệu
quả hoạt động trợ giúp pháp lý.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả tổ chức và hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Thanh Hóa trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó
động trợ giúp pháp lý; từ việc phân tích, đánh giá khách quan, khoa học về
thực trạng hiệu quả tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Thanh Hóa từ khi
Luật Trợ giúp pháp lý có hiệu lực (01/01/2007) đến nay, phát hiện những khó
khăn, hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động trợ giúp
pháp lý, Luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
trợ giúp pháp lý tại Thanh Hóa trong thời gian tới.
8. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn được kết cấu thành 03 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về trợ giúp pháp lý.
Chương 2: Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Thanh Hóa.
Chương 3: Các quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Thanh Hóa trong thời gian tới.
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm về trợ giúp pháp lý
Trước hết để có cơ sở lý luận xác định rõ nội hàm của khái niệm “trợ
giúp pháp lý”, cần phải hiểu khái niệm “Trợ giúp”. Theo Đại Từ điển tiếng
Việt - Nguyễn Như Ý, Nxb. Văn hoá - Thông tin, 1999 thì “Trợ giúp” là “sự
giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó
khăn, đang cần đến”. Theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam - Nguyễn Lân, Nxb.
Thành phố Hồ Chí Minh thì trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người
hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công. Với từ điển
tiếng Việt của Nxb. Khoa học xã hội, 1994 thì thuật ngữ “trợ giúp” được hiểu
là “giúp đỡ”. Thuật ngữ “giúp đỡ” lại được giải thích theo nghĩa tích cực là
giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai
giúp đỡ, hỗ trợ về các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật,
bảo vệ quyền và lợi ích được pháp luật quy định.
Ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
(1945) đã có những hoạt động mà xét về bản chất là việc giúp đỡ pháp lý
miễn phí dưới tên gọi “tư pháp bảo trợ” gắn với những quy định về quyền bào
chữa và bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo:
Trong việc đại hình, nếu trước Tòa án nhân dân phúc thẩm khu
hoặc thành phố một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ
cử một luật sư bào chữa cho hắn; các luật sư có quyền biện hộ trước
tất cả các Toà án, trừ Tòa án sơ cấp [15, Điều 44, 46].
“Nguyên cáo hoặc bị cáo trong một việc hộ có quyền xin tư pháp hỗ
trợ” [16]. Các hoạt động mang tính chất trợ giúp pháp lý xuất phát từ bản
12
chất chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo tư
tưởng của Hồ Chí Minh nhằm bảo vệ quyền công dân, quyền con người, đặc
biệt cho nhóm người yếu thế trong xã hội.
Tham khảo tài liệu của các nước trên thế giới và theo các nghiên cứu
trước đây, bản chất của hoạt động trợ giúp pháp lý được nhận diện ở những
đặc điểm sau đây:
- Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý, do những người
có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm phục vụ
để thoả mãn nhu cầu giúp đỡ pháp luật của người nghèo và đối tượng chính
sách thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố
tụng, giúp đỡ thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải
quyết khiếu nại
- Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý rõ nét bởi chính phương thức hoạt
động và mục đích hướng tới của nó. Trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ, hỗ trợ về
các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa
bảo vệ quyền và lợi ích cho các đối tượng trợ giúp pháp lý theo quy định, góp
pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ
công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp
và vi phạm pháp luật 45, tr.2.
Qua đó, đã khái quát hoá được bản chất, thể hiện đặc thù của hoạt động
trợ giúp pháp lý ở Việt Nam nhằm phân biệt với các hoạt động nghiệp vụ
pháp lý khác.
- "Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho
người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này": Dịch vụ pháp lý
miễn phí có chủ thể cung cấp (tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực
hiện trợ giúp pháp lý) và đối tượng cung cấp (người được trợ giúp pháp lý bao
14
gồm: người nghèo, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số và
những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác); dịch vụ được cung cấp là tư
vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải và thực hiện
những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động
khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đây là dịch vụ pháp lý miễn phí,
đối tượng thụ hưởng dịch vụ không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí nào, kể
cả lệ phí giấy tờ khi yêu cầu trợ giúp và việc thuê luật sư. Các chi phí sẽ do
ngân sách Nhà nước bảo đảm hoặc được huy động trong cộng đồng, sự hỗ trợ
của các tổ chức nước ngoài và quốc tế. Trợ giúp pháp lý miễn phí đã trở thành
nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý được quy định trong Luật Trợ giúp
pháp lý. Đây là điểm đặc thù nổi bật của trợ giúp pháp lý ở Việt Nam và là sự
nỗ lực lớn của chúng ta trong điều kiện đất nước còn khó khăn
- Trợ giúp pháp lý có mục đích giúp người được trợ giúp pháp lý bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn
trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật,
bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và
vi phạm pháp luật.
Khái niệm trợ giúp pháp lý nêu trên của Luật Trợ giúp pháp lý cũng
+ Tổ chức hành nghề luật sư (Văn phòng luật sư, Công ty luật theo quy
định của pháp luật về luật sư);
+ Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi
chung là tổ chức tư vấn pháp luật).
Người thực hiện trợ giúp pháp lý
Người thực hiện trợ giúp pháp lý là người cung cấp dịch vụ pháp lý cho
người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. Theo Điều 20, Luật
16
Trợ giúp pháp lý thì người thực hiện trợ giúp pháp lý gồm có Trợ giúp viên
pháp lý, Cộng tác viên trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật.
- Trợ giúp viên pháp lý:
Trợ giúp viên pháp lý là viên chức của Trung tâm được Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và cấp thẻ. Để trở thành Trợ giúp viên pháp
lý, viên chức của Trung tâm phải có bằng Cử nhân luật, có Chứng chỉ bồi
dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý sau khi đã hoàn thành khoá bồi dưỡng nghề
luật sư; có thời gian làm công tác pháp luật từ 02 năm trở lên; có phẩm chất
đạo đức tốt và có đủ sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Trợ giúp viên pháp lý thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng với
tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực
hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự;
người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính; đại diện ngoài tố tụng cho người được
trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật, hòa
giải và các hình thức trợ giúp pháp lý khác.
- Cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Cộng tác viên trợ giúp pháp lý là những người làm việc trên cơ sở hợp
đồng cộng tác với Trung tâm để thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ
giúp pháp lý. Cộng tác viên có thể là luật sư, Tư vấn viên pháp luật, người có
- Tư vấn viên pháp luật:
Tư vấn viên pháp luật làm việc tại các Trung tâm tư vấn pháp luật
thuộc các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội nghề nghiệp thực hiện trợ giúp pháp lý với tư cách là cộng tác
viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc tham gia trợ giúp pháp lý
khi Trung tâm tư vấn pháp luật có đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý hoặc
18
thực hiện trợ giúp pháp lý theo Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008
về tư vấn pháp luật.
Trên thế giới, các chức danh người thực hiện trợ giúp pháp lý tùy
thuộc mô hình trợ giúp pháp lý, thể chế kinh tế, chính trị, xã hội mà mỗi
nước quy định chức danh người thực hiện trợ giúp pháp lý khác nhau.
Nghiên cứu pháp luật các nước có thể khái quát những đối tượng sau được
thực hiện trợ giúp pháp lý:
- Luật sư công/Luật sư Nhà nước/Luật sư trợ giúp pháp lý: Là công
chức Nhà nước hoặc được Nhà nước tuyển dụng vào làm việc tại tổ chức trợ
giúp pháp lý để trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý, hưởng lương từ ngân sách
Nhà nước và thực hiện vụ việc theo sự phân công của tổ chức trợ giúp pháp
lý. Các chức danh này được nhiều nước áp dụng như: Anh và xứ Wales,
Philippine, Hà Lan, Mỹ, Litva, Israel, Hàn Quốc, Canada, Bang New South
Wales của Úc, Phần Lan….
- Luật sư hành nghề tự do theo pháp luật về luật sư: Các luật sư này là
thành viên của Hiệp hội luật sư (hoặc Đoàn Luật sư), tự nguyện tham gia thực
hiện trợ giúp pháp theo yêu cầu của khách hàng hoặc thực hiện trợ giúp pháp
lý theo yêu cầu của Chính phủ và được Chính phủ chi trả thù lao. Chức danh
này được sử dụng ở hầu hết các nước như Hàn Quốc, Mỹ, Nêpal, Thụy Điển,
Hà Lan, Mỹ, Singapore, Malaysia, Ailen, Thái Lan, Trung Quốc, Đức….
Những luật sư này sẽ ký hợp đồng với tổ chức trợ giúp pháp lý và thực hiện
các vụ việc theo sự phân công của tổ chức đó, khi thực hiện trợ giúp pháp lý