ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SINH HỌC
Trƣởng A Tài
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÔN TRÙNG NƢỚC Ở MỘT SỐ SUỐI THUỘC
LƢU VỰC SÔNG MÃ, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SINH HỌC
Trƣởng A Tài
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÔN TRÙNG NƢỚC Ở MỘT SỐ SUỐI THUỘC
LƢU VỰC SÔNG MÃ, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60420103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN VỊNH
Trang
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................2
1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc trên thế giới .............................................2
1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc ở Việt Nam ............................................15
1.3. Điều kiện tự nhiên, xã hội và đa dạng sinh học lƣu vực sông Mã thuộc tỉnh
Thanh Hóa .................................................................................................................24
1.3.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................24
1.3.2. Giá trị văn hóa - xã hội ....................................................................................28
1.3.3. Một số nghiên cứu về đa dạng sinh học lƣu vực sông Mã ..............................29
Chƣơng 2 - THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........31
2.1. Thời gian nghiên cứu .........................................................................................31
2.2. Địa điểm nghiên cứu ..........................................................................................31
2.3. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu ..............................................................36
2.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu......................................................................................36
2.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.................................................................................36
2.3.3. Xử lý số liệu ....................................................................................................39
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................................40
3.1. Thành phần loài côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên cứu...................................40
3.1.1. Thành phần loài của bộ Phù du (Ephemeroptera) ...........................................41
3.1.2. Thành phần loài của bộ Cánh lông (Trichoptera) ...........................................43
3.1.3. Thành phần loài của bộ Chuồn chuồn (Odonata) ...........................................43
3.1.4. Thành phần loài của bộ Cánh cứng (Coleoptera) ...........................................44
3.1.5. Thành phần loài của bộ Cánh nửa (Hemiptera) ..............................................44
3.1.6. Thành phần loài của bộ Hai cánh (Diptera) ....................................................45
3.1.7. Thành phần loài của bộ Cánh vảy (Lepidoptera) ............................................45
3.1.8. Thành phần loài của bộ Cánh úp (Plecoptera) ................................................46
3.1.9. Thành phần loài của bộ Cánh rộng (Megaloptera) .........................................46
Hình 3.5. Tỷ lệ % các nhóm dinh dƣỡng chức năng của côn trùng nƣớc tại khu vực
nghiên cứu .................................................................................................................61
MỞ ĐẦU
Côn trùng nƣớc là những loài côn trùng sống trong nƣớc hoặc có một giai
đoạn sống trong nƣớc trong vòng đời của chúng. Chúng chiếm số lƣợng loài cũng
nhƣ số lƣợng cá thể mỗi loài khá lớn trong môi trƣờng nƣớc, các loài côn trùng
nƣớc thích nghi với các dạng thủy vực nƣớc chảy và nƣớc đứng. Với các đặc điểm
đó nên trong môi trƣờng nƣớc tự nhiên chúng giữ một vai trò là các mắt xích trong
chuỗi và lƣới thức ăn, nhiều loài côn trùng nƣớc nhạy cảm với các biến đổi của môi
trƣờng nƣớc, chúng sống trong môi trƣờng nƣớc sạch nên từ lâu côn trùng nƣớc đã
đƣợc các nhà nghiên cứu sử dụng nhƣ là những sinh vật chỉ thị cho môi trƣờng
nƣớc.
Việt Nam nằm trong đới khí hậu nóng ẩm và có hệ thống sông suối dày đặc,
có số lƣợng côn trùng nƣớc phong phú nên thu hút sự quan tâm của các nhà khoa
học trong và ngoài nƣớc, tuy nhiên các nghiên cứu hầu hết chỉ tập trung chủ yếu ở
các khu bảo tồn và vƣờn quốc gia. Sông Mã là một trong những con sông lớn ở Việt
Nam lƣu vực sông có nhiều suối, cùng với hệ động động vật và thực vật phong phú
nên đã đƣợc các nhà khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu và xây dựng thành khu
bảo tồn thiên nhiên, tuy nhiên chƣa có nhiều nghiên cứu về côn trùng nƣớc ở khu
vực này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng côn
trùng nƣớc ở một số suối thuộc lƣu vực sông Mã, tỉnh Thanh Hóa”, nhằm mục
đích:
- Xác định thành phần loài côn trùng nƣớc tại một số suối trên lƣu vực sông
Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa.
- Đánh giá một số đặc điểm quần xã côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên cứu.
1
2
dƣỡng, đặc điểm về độ chiếu sáng cũng nhƣ môi trƣờng nền đáy. Ngoài ra ta còn
xác định các chỉ số đa dạng sinh học nhƣ chỉ số Shannon – Weiner của quần xã côn
trùng nƣớc tại các khu vực nghiên cứu, so sánh sự đa dạng của chúng ở các vị trí
nghiên cứu đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn, hoặc giữa các điểm khác nhau
trong khu vực nghiên cứu, các chỉ số đa dạng này đƣợc ứng dụng trong việc chỉ thị
chất lƣợng nƣớc tại khu vực đƣợc nghiên cứu.
Ở Pháp và một số khu vực ở Châu Âu, nghiên cứu của Mi - Young Song,
Fabien Leprieur và cộng sự (2008) [49] bằng việc đánh giá các chỉ số liên quan đến
4 bộ côn trùng nƣớc (Ephemeroptera, Plecoptera,Trichoptera, và Coleoptera
(EPTC)) cho thấy rằng các suối ở khu nông nghiệp có độ đa dạng về loài cũng nhƣ
mật độ thấp hơn so với các suối trong rừng.
Các nghiên cứu về đa dạng côn trùng nƣớc và ứng dụng trong chỉ thị chất
lƣợng nƣớc đƣợc nghiên cứu ở rất nhiều nƣớc trên thế giới, các nghiên cứu này đều
tập trung vào việc định loại côn trùng thuộc 9 bộ côn trùng nƣớc qua đó xác định
các chỉ số đa dạng sinh học tại các khu vực đƣợc nghiên cứu. Ở Châu Á nghiên cứu
đƣợc thực hiện rất nhiều ở Ấn Độ có thể kể đến các nghiên cứu của các tác giả
Jenila, RadhaKrishnan Nair (2013) [40], Rajnish Kumar Sharma and Nirupma
Agrawal (2012) [67], Sarmistha Jana và cộng sự (2009) [71]. Các tác giả ở Trung
Quốc nhƣ Chorng Bin Hsu, Ping - Shih Yang (2005) [27], Yang Lian Fang và cộng
sự (1992) [89], ở Malaysia có thể kể đến tác giả Mohd Rasdi và cộng sự (2010)
[50], ở Việt Nam các nghiên cứu về đa dạng quần xã côn trùng nƣớc đƣợc nghiên
cứu chủ yếu bởi Nguyen và cộng sự [54, 62, 70, 70].
Việc sử dụng các chỉ số sinh học trong đánh giá chất lƣợng nƣớc ngày càng
trở nên phổ biến, trong số hơn 50 chỉ số sinh học thì có 4 chỉ số liên quan đến côn
trùng nƣớc đó là: chỉ số phong phú loài (Taxa (Species) Richness), chỉ số phong
phú EPT (EPT Richness (Ephemeroptera, Plecoptera, and Trichoptera)), chỉ số sinh
học Hilsenhoff (Hilsenhoff Biotic Index), mô hình phần trăm tƣơng đồng (Percent
liệu về Phù du phù hợp với thực tiễn nghiên cứu.
Trong một nghiên cứu gần đây Ogden và Whiting (2005) [63] đã tổng hợp
những nghiên cứu về phân loại học của McCafferty và Edmunds đồng thời đƣa ra
4
giả thuyết mới về nguồn gốc phát sinh của Phù du dựa trên những nghiên cứu về
sinh học phân tử.
Ở châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du đƣợc thực hiện bởi các nhà
nghiên cứu đến từ châu Âu nhƣ: Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924) (dẫn
theo Nguyễn Văn Vịnh, 2003) [54]. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, những báo cáo về
Phù du chủ yếu quan tâm tới những vấn đề sinh thái học của ấu trùng Phù du trong
hệ sinh thái nƣớc ngọt và các khóa phân loại (Gose, 1979-1980, 1985; Uesno, 1980;
Yoon và Bae, 1988; Yoon, 1995) (dẫn theo Bae, 1997) [20]. Tại khu vực Đông
Nam Á, các nghiên cứu về Phù du đầu tiên là Ueno (1931, 1969) và Ulmer (1939).
Các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Thái Lan cũng đã công bố khá nhiều công
trình nghiên cứu về Phù du trong thời gian gần đây (Nguyen, 2003, Nguyen và Bae,
2003, 2004; Tungpairojwong và Bae, 2006; Tungpairojwong, 2007; Braasch
Boonsoong, 2009) [54, 56, 58, 59]. Kết quả nghiên cứu đến năm 2003 cho thấy ở
châu Á có khoảng 128 giống thuộc 18 họ của bộ Phù du (dẫn theo Nguyễn Văn
Vịnh, 2003) [54].
Các nghiên cứu về Phù du đến nay khá đầy đủ cả về giai đoạn ấu trùng và
trƣởng thành, không chỉ dừng lại ở việc định loại các loài Phu dù mà các hƣớng
nghiên cứu ứng dụng nhằm phục vụ cho lợi ích của con ngƣời và các vấn đề về sinh
thái cũng nhƣ bảo tồn đƣợc quan tâm rất nhiều. Các nghiên cứu điển hình trong các
hƣớng này nhƣ: nghiên cứu về sự sinh sản và biến động theo mùa của Phù du bởi
Neddham và cộng sự (1935), kết quả nghiên cứu của Lestage (1930) cho thấy
nhƣ̃ng thủy vƣ̣c nƣớc chảy mà ở đó cấ u trúc nề n đáy là các khố i đá với nhiề u kić h
thƣớc khác nhau và có chƣ́a mùn bã hƣ̃u cơ thì thành phầ n loài Phù du rấ t đa da ̣ng
ở cả giai đoạn thiếu trùng và trƣởng thành của bộ Chuồn chuồn thuộc khu vực Bắc
Mỹ.
Khu hệ Chuồn chuồn Bắc Mỹ đã xác định đƣợc khoảng 462 loài. Những
nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Chuồn chuồn Bắc Mỹ đƣợc thực hiện bởi
Muttkowski (1910), Needham và Heywood (1929), phần lớn các loài gần đây đƣợc
mô tả đều thuộc họ Gomphidae là họ có số lƣợng loài lớn và đa dạng nhất trong bộ
Chuồn chuồn (dẫn theo Merritt và Cummins, 1996) [48].
6
Ở khu vực châu Á, Chowdhury và Akhteruzzaman (1981) là những ngƣời
đầu tiên công bố công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn ở Bangladesh. Hai ông đã
mô tả chi tiết các ấu trùng của 13 loài Chuồn chuồn thuộc bộ phụ Anisoptera. Ngoài
ra còn một số công trình điển hình khác nhƣ: Nasiruddin và Begum (1985), Asahina
(1993), Subramanian (2005). Ở Việt Nam phải kể đến các công trình nghiên cứu về
Chuồn chuồn của Asahina (1969, 1996), Karube (1999, 2002) (dẫn theo Đặng Quốc
Quân, 2008 và Đỗ Mạnh Cƣơng, 2003) [1, 7].
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình
nghiên cứu về sinh học, sinh thái học và tập tính của Chuồn chuồn. Một trong
những nghiên cứu tiêu biểu là của Corbet (1999), Silsby (2001) nghiên cứu tập tính
bắt cặp giao phối, bắt mồi…Ngoài việc nghiên cứu các tác giả này còn tổng hợp rất
nhiều nghiên cứu trƣớc đây để tạo nên một công trình khá hoàn chỉnh về các đặc
điểm sinh học của Chuồn chuồn đặc biệt là về chu trình sống, tập tính sinh sản hay
sự di cƣ của loài (dẫn theo Đặng Quốc Quân, 2008) [7].
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Bộ cánh úp thƣờng phân bố ở nơi nƣớc chảy và đa dạng nhất là ở những suối
nhỏ và lạnh, nhiệt độ thƣờng không quá 25oC, thiếu trùng ít khi xuất hiện ở những
nơi nƣớc ấm [22, 37]. Các nghiên cứu về Cánh úp ngày càng nhiều, số loài đƣợc mô
tả ngày càng tăng, trong các nghiên cứu của Hynes (1976) và Zwick (1980) số loài
niên 80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988) cũng đƣa ra những nghiên
cứu về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á. Uchida và cộng sự (1988, 1989) mô tả một
vài loài thuộc Perlinae (Perlidae) ở Malaysia, Thái Lan và mô tả 2 giống thuộc
Peltoperlidae (Cryptoperla và Yoraperla) ở Nhật Bản và Đài Loan. Stark (1979,
1987, 1983, 1991, 1999) đã ghi nhận nhiều loài mới trong họ Peltoperlidae và
Perlidae ở châu Á. Gần đây, Du (1998, 1999, 2000) đã công bố những tài liệu liên
quan đến Perlidae ở miền Nam Trung Quốc (dẫn theo Cao Thị Kim Thu, 2002)
[23].
Morse, Yang Lianfang và Tian Lixin (1994) [52]; Merritt và Cummins
(1996) [48] khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả
8
đã xây dựng khóa định loại tới giống ấu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định
loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này.
Cánh úp đóng vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái suối, chúng đóng vai trò
là sinh vật tiêu thụ bậc 1, 2 đồng thời cũng là thức ăn của nhiều loài động vật không
xƣơng sống và cá; thiếu trùng bộ Cánh úp còn đƣợc sử dụng nhƣ là những chỉ thị
sinh học để đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc. Tuy nhiên, do sự suy giảm chất
lƣợng nguồn nƣớc và sự thay đổi về mặt vật lý của sông suối đặc biệt là ở các nƣớc
công nghiệp phát triển hay các nƣớc có mật độ dân số cao đã và đang làm giảm số
lƣợng loài Cánh úp (dẫn theo Romolo Fochetti và José Manuel Tierno de Figueroa,
2008) [69].
Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Côn trùng nƣớc bộ Cánh nửa phân bố rộng rãi ở hầu hết các lục địa trừ Nam
Cực, chúng bao gồm 2 nhóm chính là: Gerromorpha (nhóm sống trên màng nƣớc)
và Nepomorpha (nhóm sống dƣới nƣớc). Ngoài ra, còn có một nhóm nữa là
Leptopodomorpha, tuy không sống ở môi trƣờng nƣớc nhƣng kiếm ăn, bắt mồi ở
gần bờ nƣớc. Một số tác giả cũng tính nhóm này vào nhóm sống ở nƣớc. Năm 2008,
Ở Đông Á và Đông Nam Á, Esaki (trong giai đoạn 1923-1930) đã mô tả
nhiều loài thuộc bộ Hemiptera ở khu vực này và các vùng lân cận, đƣa thêm vào
bậc phân loại cao hơn mà ngày nay vẫn đƣợc tiếp tục nghiên cứu. Lundblad (1933)
đƣa ra tổng quan chung về bộ Hemiptera ở nƣớc, với danh lục những loài từ Ấn Độ
đến New Guinea và Nhật Bản [65]. Ở Malaysia, Fernando và Cheng (1974) đã lập
một danh lục gồm 102 loài thuộc 12 họ. Sau đó, nhiều loài khác vẫn đƣợc mô tả
hoặc ghi nhận. Hiện tại, bán đảo Malaysia và Singapore có 167 loài nƣớc ngọt
thuộc 64 giống, 18 họ đƣợc biết đến. Bộ Cánh nửa ở Borneo bao gồm khoảng 80
loài đặc hữu [88]. Gần đây Tran và Polhemus (2012) [81], đã mô tả 1 loài mới
thuộc giống Ranatra (Nepidae) ở khu vực Đông Nam Á.
Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũng quan
tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật, chủng loại phát
sinh, tập tính hay sự thích nghi của Cánh nửa ở nƣớc. Có thể kể đến công trình
nghiên cứu của Cobben (1968, 1978), Andersen (1982), Damgaard (2008). Cheng
(1965, 1966, 1976) đã công bố một số bài báo về sinh thái và địa lý sinh vật của
giống Halobates. Những nghiên cứu về vai trò của bộ Cánh nửa trong hệ sinh thái
10
cũng đƣợc quan tâm bởi các nhà khoa học nhƣ Keffer (2000), Spence và Andersen
(2000), Sites (2000), Yang et al. (2004), Chen et al. (2005)...[88]. Sự tiến hóa và
thích nghi của Hemiptera ở nƣớc cũng đã đƣợc nghiên cứu ở cấp độ sinh học phân
tử, hoặc kết hợp giữa các đặc điểm hình thái với sinh học phân tử, ví dụ nhƣ các
nghiên cứu của Damgaard et al. (2005) về Halovelia và Steinovelia, Damgaard
(2008) [29] về phân bộ Gerromorpha.
Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lƣợng loài phong phú. Ấu trùng và
nhộng của bộ này có thể sống cả ở những suối nƣớc lạnh và nóng nhiệt độ lên tới
340C, rất hiếm khi thấy có ở biển. Đến năm 2012 ƣớc tính trên thế giới có khoảng
cứu ở Đông Nam Á mới chỉ dừng lại ở giai đoạn trƣởng thành. Các khóa định loại
của bộ Cánh lông ở Đông Dƣơng (Lào, Campuchia và Việt Nam) dựa trên những
nghiên cứu của tác giả Wallace và cộng sự (1990), Edington và Hildrew (1995) và
Wiggins (1996) (dẫn theo Hoang D. H., 2005) [35].
Olash và Johanson (2010) đã công bố 19 loài mới thuộc họ Dipseudopsidae
cho khoa học từ các mẫu vật thu đƣợc tại Ấn Độ, Malaysia, Lào và Việt Nam. Tại
Nhật Bản, tác giả Ito và Ohakawa (2012) [38] đã ghi nhận sự xuất hiện lần đầu của
hai loài Cánh lông thuộc giống Ugandatrichia (Hydroptilidae) kèm theo những
miêu tả chi tiết cho giai đoạn ấu trùng, nhộng và trƣởng thành của các loài thuộc
giống này tại đây.
Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ có số lƣợng loài lớn nhất trong giới Động
vật. Hiện nay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 - 350.000 loài và
khoảng 18.000 loài trong số đó thuộc nhóm côn trùng nƣớc, 12600 loài (70%) đã
đƣợc mô tả (tính đến tháng 10 năm 2005) [39]. Hiện nay, các công trình nghiên cứu
về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa nhƣ: các
nghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969),
Nertrand (1973), Jach (1984). Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji
(1995, 1998) đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh
cứng ở châu Á (dẫn theo Morse, Yang và Tian, 1994) [52].
12
Trung Quốc có 601 loài (Wu và cộng sự), ở Nhật Bản đã định loại đƣợc 311
loài (Sato, 1988), Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài và White (1984)
đã phân loại đƣợc 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánh cứng (dẫn theo
Merritt và Cummins, 1996) [48].
Những nghiên cứu mới đây có thể kể đến nhƣ Čiampor Jr và cộng sự (2012)
đã cung cấp những thông tin về các loài thuộc giống Dryopomorphus (Elmidae) ở
khoảng 328 loài đã đƣợc mô tả, gồm hai họ: Corydalidae (247 loài) và Sialidae (81
loài) [28]. Ấu trùng của bộ này sống trong nƣớc trong khi giai đoạn nhộng, trƣởng
thành sống trên cạn và đều là các loài ăn thịt (Riek, 1970) (dẫn theo McCafferty,
1983) [47].
Có rất nhiều tài liệu phân loại về bộ này của các tác giả khác nhau: Contreras
và Ramos (1998), Liu và Yang ( 2006). Penny et al. (1997) công bố một danh lục
loài thuộc bộ Cánh rộng, sau đó là Oswald (2006). Bên cạnh đó, Bowles (2006)
cũng cung cấp những nghiên cứu về sự phân bố của các loài trong bộ này (dẫn theo
Cover và Resh, 2008) [28].
Ở châu Á, bộ này chỉ phân bố nhiều ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật
Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1938). Trong một thế kỷ qua, số loài mới
thuộc bộ Cánh rộng tăng lên nhanh chóng, đáng chú ý nhất là khu vực Trung Quốc
và khu vực châu Úc. Số lƣợng loài ƣớc tính sẽ tăng lên trong thời gian tới có thể
lên đến hơn 400 loài, bởi những khu vực nhiệt đới và vùng Đông Nam Á đang tiếp
tục đƣợc quan tâm nghiên cứu (dẫn theo Cover và Resh, 2008) [28].
Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Bộ cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và
Crambidae sống ở nƣớc. Giai đoạn trƣởng thành của bộ này đã đƣợc nghiên cứu từ
lâu và rất nhiều công trình đã đƣợc công bố cùng với các khóa phân loại đến loài.
Nhƣng ở giai đoạn ấu trùng, chỉ có một số công trình nghiên cứu, tiêu biểu là của
Merrit và Cummins (1984); Morse, Yang và Tian (1994) [52] đã đƣa ra khóa định
loại đến giống của ấu trùng bộ Cánh vảy.
14
Ở châu Á, những nghiên cứu về bộ Cánh vảy chủ yếu là về phân loại học
trong đó có các nghiên cứu của Rose và Pajni (1987), Habeck và Solis (1994),
Munroe (1995). Trong những nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành lập khóa
định loại cụ thể tới loài (dẫn theo McCafferty, 1983) [47].
tả hai loài cho khoa học đó là Thalerosphyrus vietnamensis Dang và
Neoephemeropsis cuaraoensis Dang (dẫn theo Nguyễn Văn Vịnh, 2003) [54].
Braasch và Soldan (1984, 1986, 1988) đã mô tả 10 loài mới thuộc họ
Heptageniidae cho khu hệ Phù du ở Việt Nam, có 2 giống mới là Asionurus và
Trichogeniella (dẫn theo Nguyễn Văn Vịnh, 2003) [54].
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) [8], khi xây dựng khoá định loại các
nhóm động vật không xƣơng sống nƣớc ngọt thƣờng gặp ở Việt Nam đã đƣa ra
khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du. Kết quả của công trình này là cơ sở khoa học
cho các nghiên cứu phân loại về Phù du cũng nhƣ việc sử dụng đối tƣợng này là
sinh vật chỉ thị cho các thuỷ vực nƣớc ngọt ở Việt Nam.
Nguyễn Văn Vịnh (2003) [54], đã xác định đƣợc 102 loài thuộc 50 giống và
14 họ Phù du ở Việt Nam. Trong đó, có 23 loài đã đƣợc biết đến trong các nghiên
cứu trƣớc, 30 loài lần đầu tiên đƣợc ghi nhận ở Việt Nam, 37 loài mới cho khoa
học và 12 loài dự đoán là loài mới cho Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả đã
xây dựng khóa định loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ
Phù du ở Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hƣớng nghiên cứu
tiếp theo về bộ Phù du ở nƣớc ta.
Những nghiên cứu gần đây về bộ Phù du chủ yếu tập trung nghiên cứu đa
dạng thành phần loài của bộ này ở các Vƣờn Quốc gia (VQG). Cụ thể Nguyễn Văn
Vịnh (2004) [12], khi nghiên cứu về Phù du ở VQG Tam Đảo đã xác định đƣợc 32
loài thuộc 24 giống, 8 họ. Trong đó, có 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ
động vật Việt Nam cũng nhƣ VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Nguyễn Văn Vịnh (2005) [13], trong dẫn liệu bƣớc đầu về Phù du ở VQG Ba
Vì, Hà Tây, đã xác định đƣợc 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ, trong đó, có một loài
mới cho khoa học là Polyplocia orientalis. Nguyễn Văn Vịnh (2005) [14], khi điều
16
tra thành phần loài Phù du ở một số suối tại Sapa, Lào Cai, tác giả cũng đã xác định
Nguyen and Bae (2013) [61] đã công bố hai loài mới ở Việt Nam:
Cincticostella magnusa, Cincticostella notata thuộc họ Ephemerellidae từ các mẫu
thu đƣợc ở Việt Nam năm 2000-2011.
So với nhiều bộ côn trùng nƣớc khác, bộ Phù du ở Việt Nam đã đƣợc nghiên
cứu một cách có hệ thống với nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nƣớc, đồng thời đây cũng là bộ có khóa định loại của ấu trùng tƣơng đối hoàn
thiện.
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Những nghiên cứu đầu tiên về Chuồn chuồn ở Việt Nam vào đầu thập niên
90 của thế kỷ XX dƣới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu ngƣời Pháp,
Martin (1904) trong báo cáo về danh sách các loài Chuồn chuồn ở Đông Dƣơng ông
đã công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae. Trong 139
loài, có 120 loài có mặt tại Việt Nam, đồng thời trong công bố này Martin đã mô tả
9 loài mới và một giống mới là Merogomphus (dẫn theo Đỗ Mạnh Cƣơng, 2004)
[1]. Các nghiên cứu về Chuồn chuồn ở Việt Nam phát triển rất chậm trong nhiều
thập kỷ, chỉ có rất ít các công bố (Fraser 1919; Asahina 1969; Pritykina 1992).
Tsuda (1991) đã liệt kê 144 loài Chuồn chuồn ở Việt Nam. Sự phát triển các nghiên
cứu về Chuồn chuồn ở Việt Nam phát triển mạnh vào cuối những năm 1980 khi
Việt Nam mở cửa cho du khách nƣớc ngoài và các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài vào
Việt Nam (dẫn theo Hämäläinen và Matti, 2004) [32].
Asahina trong hai cuộc khảo sát tại Việt Nam vào năm 1994 và 1995, ông đã
công bố 96 loài Chuồn chuồn ở Việt Nam trong đó có 18 loài mới (1995, 1996,
1997). Các nghiên cứu sau đó về Chuồn chuồn ở Việt Nam có thể kể đến nhƣ
Karube (1995, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003), Hämäläinen và Karube (2001).
Tsuda (2000) đã liệt kê đƣợc 199 loài ở Việt Nam. Cùng với số mẫu đƣợc lƣu giữ
tại các viện bảo tàng trên thế giới nhƣ tại Nhật Bản và Hà Lan tổng số loài Chuồn
chuồn của Việt Nam có hơn 250 loài (dẫn theo Hämäläinen và Matti, 2004) [32].
18