Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM MỦ
NHỰA CAO SU Ở CÔNG TY CAO SU HÀ TĨNH
I. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG MỦ CAO SU Ở CÔNG TY CAO
SU HÀ TĨNH
1.Về tiến bộ kĩ thuật có khả năng ứng dụng.
*Giống:
Cùng với việc phát triển của khoa học kỹ thuật , nhất là những tiến bộ về
sinh học những năm qua về giống cây trồng nói chung, giống cao su nói riêng đã
có những tiến bộ vượt bậc . Malaixia là nước đi đầu với những thành tựu trong
việc sản xuất các giống ưu tú như RRIM 2023, 2024, 2025, 2026 có sản lượng
gỗ cao , năm thứ 14 đạt đến 1,87 m3/cây và sản lượng trong 5 năm đầu tiên có
thể đạt từ 2,2-2,8 tấn/ha. Việt nam đứng hàng thứ 2 , hiện đã sử dụng các giống
PB235, PB260 là những giống mủ-gỗ và đưa vào các giống LH82/156, 82/158,
82/198, các giống có triển vọng như LH 83/85,83/283,83/732 và các giống ưu
thế lai trong giai đoạn tuyển non. Khả năng áp dụng những giống có năng suất
mủ cao , kết hợp giữa lấy mủ và gỗ phù hợp với từng vùng sinh thái ở nước ta là
thuận lợi.Hiện nay công ty cao su Hà Tĩnh đang đưa vào canh tác loại giống
RRIM2023, RRIM204
*Kỹ thuật canh tác:
Những tiến bộ về kỹ thuật canh tác : phân bón , thảm phủ, mật độ trồng ,
quy trình chăm sóc , khai thác đã có tiến triển , được áp dụng vào sản xuất đưa
năng suất cao su lên cao , nhất là kỹ thuật Rimflower nếu áp dụng sẽ cho phép
nâng năng suất cạo mủ lên 1,5 lần , giảm chi phí lao động 50% , mật độ trồng có
thể từ 800-1000 cây/ha, sau 15 năm khai thác gỗ đảm bảo đưa hiệu quả trồng
cao su lên cao.
*Công nghệ chế biến và bảo quản.
Những công nghệ chế biến sản phẩm cao su mủ khô, cao su thành phẩm ,
những sản phẩm từ gỗ cao su đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước . Nước ta
cũng đã có một số cơ sở áp dụng đưa vào sản xuất mang lại hiệu quả cao . Trong
những năm tới kỹ thuật chế biến luôn luôn được đổi mới với kỹ thuật hoàn hảo
của ngành.
*Về lao động :
Hà Tĩnh là nước có lực lượng lao động dồi dào , giá nhân công của Hà
Tĩnh hiện nay so với các nước trong khu vực, các vùng trong nước cùng sản
xuất cao su còn thấp . ở trong nước đã có lực lượng lao động trồng cao su có
kinh nghiệm , truyền thống và được đào tạo kỹ thuật khoảng 120 nghìn người
công ty cao su Hà Tĩnh có thể thu hút nguồn lao động này. Nước ta cũng đã có
hệ thống trường đào tạo nghiệp vụ , công nhân phục vụ cho yêu cầu phát triển
của ngành cao su (thuộc Tổng công ty cao su). Đây là yếu tố thuận lợi để nâng
2
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cao năng suất lao động cho ngành nói chung và cho công ty cao su Hà Tĩnh nói
riêng.
Lao động trong công ty chủ yếu là lao đông thủ công họ chưa nhận thức
được tầm quan trong của việc đảm bảo chất lượng và nâng cao năng suất. Ban
lãnh đạo của công ty có kinh nghiệm về quản lý nhưng chưa có điều kiện tiếp
xúc với sụ cạnh tranh khốc liệt của thị trường nên chưa thấy tầm quan trọng của
vấn đề nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
*.Về đường lối ,chủ trương chính sách phát triển:
Cùng với chính sách đổi mới, chú trọng phát triển kinh tế nước ta đã có
đường lối mới phát triển kinh tế tạo mọi điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư
phát triển của các nước , các tổ chức trong nước và quốc tế phát triển kinh tế
Việt nam trong đó có phát triển cao su.
Hiện nay đã có dự án đa dạng hoá cây trồng với nguồn vốn 84,28 triệu
USD, trong đó cho phát triển cao su tiểu điền 54 triệu USD của ADB và WB.
Tổng công ty cao su đã có dự án được duyệt vay vốn AFD để mở rộng diện tích
cao su thêm 26 nghìn ha với nguồn vốn vay 38 triệu USD . Chính phủ triển khai
các chương trình 5 triệu ha rừng , 135 , quyết định 09/2000/QĐ-CP ngày
Cao su nguyên liệu: trong nước sẽ tăng xấp xỉ 15%/năm đạt mức 70.000 tấn vào
năm 2005 và khoảng 100 nghìn tấn vào năm 2010 , xấp xỉ 20% sản lượng sản
xuất (tỷ lệ này không đổi so với hiện nay). Đối với sản phẩm này nước ta có
nhiều lợi thế như có nguồn sản phẩm dồi dào, đã có quan hệ với những doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp , và trong tương lai giữa ngành cao su với các nước
trong khu vực và thế giới , từ đó sẽ nâng cao sức cạnh tranh.
-Sản phẩm cơ khí : sẽ tăng tương ứng với mức tăng sản lượng . Với giá trị
thiết bị hiện nay khoảng 25 triệu USD, trong tương lai các chi phí thay thế trung
bình khoảng 2 triệu USD/năm và hàng năm phải đầu tư mới trung bình từ 2-2,5
triệu USD thì tổng nhu cầu thiết bị chế biến cao su sẽ lên đến trên 4 triệu
USD/năm . Nhu cầu khá lớn nhưng hiện nay phần lớn sản phẩm phải nhập khẩu
do các đơn vị cơ khí trong nước chưa sản xuất được các chi tiết có yêu cầu kỹ
thuật cao .
-Sản phẩm dịch vụ: tăng trưởng tương ứng với tốc độ đầu tư phát triển
trong ngành và cả nước . Với tốc độ tăng trưởng là 10%/năm và tốc độ đầu tư
phát triển duy trì như hiện nay thì tốc độ phát triển của ngành dịch vụ xây dựng
sẽ không dưới 10%/năm. Các doanh nghiệp dịch vụ trong ngành cao su có điều
kiện để cạnh tranh nếu có cơ chế quản lý phù hợp , hiện nay các doanh nghiệp
dịch vụ đang ở dạng nhỏ lẻ , phân tán nên chưa đủ sức tham gia vào các công
trình lớn . Yếu tố giới hạn chủ yếu là trang bị kỹ thuật và vốn đầu tư.
*.Tiềm năng về xuất khẩu:
• Lợi thế cạnh tranh trong sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt nam:
-Cây cao su phát triển chủ yếu ở khu vực Đông Nam á . Do đó điều kiện
đất đai , khí hậu Việt nam là lợi thế so sánh đầu tiên của đầu tiên của việc trồng
cao su ở Việt nam.
-Lợi thế thứ hai là nguồn lao động: cây cao su đòi hỏi lượng lao động lớn ,
giá rẻ . Giá lao động của Việt nam vào loại thấp nhất so với các nước trong khu
vực là ưu thế cho việc phát triển cao su thiên nhiên.
4
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
25-30 nghìn tấn mủ kem.
Ngoài ra , cao su Việt nam còn có thể bán tại các thị trường Iraq, EU ,
Singapore, Đài loan...
Đây tín hiệu khả quan cho công ty cao su Hà Tĩnh nhưng trong giai đoạn
bắt đầu đi vào sản xuất cần chú ý đến việc thiết kế sản xuất sản phẩm phù hợp
với nhu cầu củ người tiêu dùng .
II>ĐỊNH HƯỚNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỌNG SẢN PHẨM CAO SU
1. Về nâng cao chất lượng sản phẩm cao su
5
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*Định hướng về mặt hàng sản xuất :
Tầm quan trọng của các loại cây công nghiệp trong phát triển kinh tế xã
hội đã được Đảng và nhà nước ta nhìn nhận và đánh giá một cách đúng đắn . Đại
hội Đảng VIII đã đề ra phương hướng : “Phát triển mạnh các loại cây công
nghiệp ... có hiệu quả kinh tế cao ; hình thành những vùng sản xuất tập trung gắn
với công nghiệp chế biến tại chỗ . Trồng cây công nghiệp kết hợp với chương
trình phủ xanh đất trống, đồi trọc theo hình thức nông lâm kết hợp , coi trọng
các biện pháp thâm canh tăng năng suất ; áp dụng công nghệ sinh học…
Hiện nay trên thị trường nhu cầu sản phẩm sơ chế mũ tờ đang rất lớn
trong khi Việt Nam mới chỉ cung cấp 1,4% cho nhu cầu thị trưòng thế giới. Do
đó công ty cao su Hà Tĩnh đã đầu tư dây chuyền sản xuất mũ tò với công suất
9000 tấn / năm là hướng đi đúng đắn. Đến đầu quý 3 ăm 2006 dự án chính tố
thức đi vào thực hiện đến cuối năm 2007 dự án sẽ chính thức đi vào hoạt động.
Bên cạnh việc tăng diện tích , sản lượng và giá trị cây công nghiệp , cần
chú trọng nâng cao và ổn định năng suất , chất lượng cây công nghiệp nhằm đáp
ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước , mở rộng thị trường nội địa,
đồng thời phục vụ tốt cho xuất khẩu .
*Định hướng xuất khẩu mặt hàng cây công nghiệp:
Châu Phi 3 5 5
(Nguồn: Điểm tin kinh tế-số 232 ngày 24/10/2005)
Công ty cao su Hà Tĩnh cũng cần định hướng thị trường cũng như sản
phẩm sản xuất cho mình
2.Định hướng về sản xuất và xuất khẩu cao su:
2.1.Định hướng sản xuất :
Tổng quan phát triển ngành cao su Việt nam đến năm 2005 đã được phê
duyệt ngày 5/2/1996 trong đó có đề ta những định hướng về sản xuất cao su ở
Việt nam .Đến năm 2000, Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tiến hành
rà soát lại tổng quan cao su . Báo cáo rà soát tổng quan cao su của Viện đã đưa
ra một số thay đổi trong định hướng phát triển cao su ở nước ta.
Nghị quyết 09/2000/NQ-CP cũng đã chỉ rõ quan điểm chung để phát triển
cao su đến năm 2010 là: “Tập trung thâm canh 400 nghìn ha cao su hiện có đạt
năng suất cao , tiếp tục phát triển cao su ở những nơi thích hợp , đảm bảo sản
xuất kinh doanh có hiệu quả , chủ yếu ở Miền Trung và Tây Nguyên, nhất là
vùng biên giới , trong tương lai sản lượng cao su mủ khô đạt khoảng 1 nghìn tấn
vào năm 2010, phát triển ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ mủ cao
su nhằm nâng cao hiệu quả của cây cao su”.
Trong phương án I , cao su tư nhân và tiểu điền chiếm tỉ trọng 35,4% ,
trong phương án II chiếm tỉ trong 50%, ,trồng ở phương án II là 3000 ha. Tổng
diện tích trồng mới và tái canh trong phương án I là 4000 ha , trong phương án
II là nghìn ha.Để thực hiện định hướng này , từ nay đến hết năm 2006 cần phấn
đấu đạt diện tích vườn cao su là 4500 ha , còn diện tích 7500 ha là qui mô
khung của cao su Hà Tĩnh và sẽ phấn đấu đạt được mức này vào năm 2010.
Hiện nay , năng suất cao su Hà Tĩnh ở mức 0,53 tạ/ha thấp hơn nhiều so
với bình quân của cả nứơc. Để nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng cao su
chúng ta sẽ phải ứng dụng nhanh tiến bộ kỹ thuật về sinh học trước hết là giống ,
tập trung thâm canh vườn cây hiện có , mở rộng diện tích phù hợp với khả năng
của vốn và với phương châm vườn cây phải được thâm canh ngay từ đầu . Dự
7
như các thị trường mới tiếp cận.
Giá cao su quốc tế trong thời gian gần đây liên tục tăng , tuy nhiên không phải là lúc nào giá cao su
cũng ổn đinh. Nhu cầu của khách hàng luôn luôn thay đổi. Hơn nữa , giá cao su xuất khẩu của ta lại thường thấp
hơn giá quốc tế khoảng 15-20%. Như vậy, vấn đề thị trường và chất lượng sản phẩm sẽ là những vấn đề chính
trong chiến lược phát triển của công ty cao su trong thời gian tới. Chỉ có việc thực hiện thành công các biện pháp
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mới có thể tăng khả năng cạnh tranh của công ty cao su Hà Tĩnh.
Như thế bảo đảm được quyền lợi cho người sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu cũng như sự phát triển bền vững
của công ty cao su Hà Tĩnh
III>MỘT SỐ BIỆP PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
1.Một số pháp nhằm nâng cao chất lượng
1.1.Giải pháp khoa học công nghệ:
8
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo đánh giá của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì khoa học
công nghệ đã đóng góp tới 30-40% tăng trưởng sản lượng và nâng cao chất
lượng sản phẩm nông nghiệp trong thời gian vừa qua và ngày càng khẳng định
rõ vai trò , vị trí quan trọng như là yếu tố động lực trực tiếp của quá trình công
nghiệp hoá , hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp.Vì vậy trong thời gian tới, công
ty su cần tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và khuyến nông , áp dụng
những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất cây cao su:
-Tập trung đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và ứng dụng nhằm tạo một bước có
tính “đột phá” về năng suất, chất lượng cho cây cao su, đồng thời tiến hành
nghiên cứu kinh tế, ngiên cứu thị trường. Để thực hiện mục tiêu này cần đẩy
mạnh hơn nữa sự hợp tác với Viện nghiên cứu cao su theo hướng bám sát các
ứng dụng thực tế của ngành bao gồm từ lĩnh vực giống , phân bón , chế độ khai
thác , công nghệ chế biến sản phẩm (chuẩn hoá quy trình và tạo ra sản phẩm mới
)...
-Có cơ chế chính sách khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học
đồng đều để phát huy ưu thế của giống mới.
*Về chăm sóc và thu hoạch :
-Nghiên cứu và ban hành khuyến cáo cho từng vùng trong việc sử dụng phân
xanh , phân hữu cơ , với chế độ bón phân theo hướng tận dụng những thành tựu
về công nghệ sinh học và bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng . Mục tiêu bón
phân không chỉ làm ổn định sản lượng , không ảnh hưởng đến sinh thái mà còn
gia tăng sản lượng gỗ.
-Nghiên cứu xác định chế độ khai thác với từng bộ giống để tối ưu hoá chu kỳ
khai thác . Nghiên cứu xác định quy trình chuẩn đoán sinh lý để có cơ sở điều
chỉnh chế độ cạo và kích thích ; nghiên cứu sâu bệnh ảnh hưởng đến sản lượng.
*Về chế biến:
-Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chế biến cho từng loại sản phẩm , tận dụng
mọi nguồn vốn sẵn có trong nước như từ ngân sách nhà nước , của các ngành
hữu quan hay nguồn vốn nhàn rỗi trong dân...
-Đối với các nhà máy chế biến , cần áp dụng khoa học công nghệ thích hợp ,
xây mới nhà máy tại vùng nguyên liệu , đồng thời trong mỗi nhà máy cần cải
tiến công nghệ , đổi mới thiết bị để nâng công suất nhà máy chế biến .
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình đánh đông tại lô, tồn trữ nguyên liệu mủ
đông và chế biến mủ SVR 10, 20 từ nguyên liệu mủ đông.
-Đa dạng hoá sản phẩm chế biến , tăng sản phẩm chế biến loại SVR 10 và
SVR 20 để tiện tiêu thu vì thị trường thế giới hiện nay phần lớn tập trung tiêu
thụ 2 loại sản phẩm này , hạn chế chế biến các sản phẩm cao cấp như SVR 3L
và 5L vì khó tiêu thụ
-Áp dụng chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với hàng xuất
khẩu , để vừa thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa đến vấn đề công
nghệ (đặc biệt công nghệ sạch) vừa nâng cao uy tín cho hàng hoá Việt nam trên
thị trường thế giới .
-Tăng cường hợp tác quốc tế , trao đổi kỹ thuật và chuyển giao công nghệ với
các hiệp hội ,các công ty cao su trong nước, và các nước sản xuất và xuất khẩu
cao su trong khu vực và trên thế giới .
• Tìm kiêm thị trương cho sản phẩm cao su của công ty
Để phát huy tính nhất quán trong giao dịch , ccàn phải xác định thị trường
tiêu thụ sản phẩm cho công ty tìm hiểu nhu cầu của thị trường đẻ có chiến lược
kinh donh hợp lý phù hợp với từng giai đoạn phát triển của công ty.. Công tác
xuất , nhập vật tư , nguyên liệu , thiết bị , nói chung tất cả các loại phục vụ cho
sản xuất và kinh doanh đều phải tập trung vào một đầu mối .
• Đa dạng hoá sản phẩm , chuyển đổi chủng loại:
11
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Là những vấn đề cốt yếu cho sự vững bền của công ty cao su Hà Tĩnh .
Ngành vỏ xe sẽ tiếp tục sử dụng một phần rất lớn khoảng 70% sản lượng cao su
thiên nhiên được sản xuất ra vì tính chất kỹ thuật sẵn có của cao su thiên nhiên
so với cao su tổng hợp. Nhu cầu của ngành vỏ xe là loại TSR 10,20 và RSS3.
Khuynh hướng tương lai là tỷ trọng RSS3 sẽ giảm xuống và được thay bằng
TSR 20 và 10
• Cải thiện phương thức mua bán :
Sản lượng cao su thiên nhiên sẽ gia tăng với tốc độ 15%/năm do đó hướng
tới xuất khẩu là mục tiêu hàng đầu của công ty trong những năm tới . Bên cạnh
việc bảo đảm chất lượng , sản xuất theo yêu cầu kỹ thuật của khách hàng , cần
cải thiện các biện pháp mua bán. Các phương thức cần được xem xét là :
+Lập văn phòng, trạm giao dịch tại các nước mua hàng, trên quan điểm chủ đạo là thâm nhập vào các
thị trường mới như Mỹ , Trung đông ,
+Xúc tiến quảng bá và tiếp thị.
+Bảo đảm sự tin cậy của khách hàng bằng việc quản lý chất lượng: Các
đơn vị cần làm chủ được khâu quản lý của mình và công cụ chứng minh với bên
ngoài là chứng chỉ ISO 9000.
Ngoài ra cần có kế hoạch thâm nhập thị trường kỳ hạn : hiện nay cao su
thiên nhiên chỉ mới được giao dịch tại thị trường hàng hoá , người sản xuất chưa
cao su hiện nay chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng khó khăn
1.4.Giải pháp về tổ chức và quản lý sản xuất:
Để đạt được hiệu quả sản xuất cao hơn , công ty cũng cần tiến hành hoàn thiện hơn nữa các mô hình tổ
chức quản lý sản xuất cao su .
Công ty là các chủ thể độc lập được quyền quyết định kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Để giải quyết được vấn đề ,
cần tăng cường thêm một số chức năng về tổ chức kinh doanh ở công ty , đồng
thời đẩy nhanh cổ phần hoá doanh nghiệp , lúc đó công ty có trách nhiệm quản
lý phần vốn góp , sử dụng hiệu quả cổ tức thu được để không làm giảm vốn ,
việc đầu tư không chỉ dừng lại ở đầu tư cho cây cao su mà doanh nghiệp sẽ mở
rộng đầu tư vào những ngành có liên quan hoặc cho hiệu quả cao.tận dụng lợi
thế sẵn co của doanh nghiệp.
Trong tương lai , các tiểu điền và trang trại trong xu thế chung sẽ hình
thành các hợp tác xã hoặc các hiệp hội để tự bảo vệ quyền lợi của mình trước
doanh nghiệp , nhưng trước mắt các doanh nghiệp địa phương và đơn vị cơ sở sẽ
là động lực thúc đẩy phát triển chính và khi có chủ trương , cơ chế cho phép, các
doanh nghiệp có thể bỏ vốn để cao su tiểu điền phát triển. Từ những nhận định
trên , việc giữ nguyên hình thức phát triển đại điền như hiện tại , trước mắt sẽ có
hiệu quả hơn; đối với công ty mới thành lập , tuỳ theo quy hoạch về đất đai của
địa phương sẽ có một cơ cấu quy mô hợp lý cho từng doanh nghiệp. Công ty
cao su Hà Tĩnh sẽ không phát triển với quy mô quá lớn nhưng phải vừa đủ lớn
để bảo đảm nguồn nguyên liệu cho nhà máy chế biến ở quy mô có hiệu quả
(Quy mô này tối thiểu là 3 nghìn ha ở những công ty nhỏ và không vượt quá 10
nghìn ha ở khu vực Tây nguyên.và Trung Bộ)
Bên cạnh đó , cũng cần thiết phải hoàn thiện việc khoán vườn cây cao
su : có những phương án khoán trên từng loại vườn cây cụ thể như: khoán vườn
cây trồng lại trên đất thanh lý , khoán vườn cây kiến thiết cơ bản hiện có, khoán
13
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
13
thiện chất lượng cao su xuất khẩu. Từ đó tăng hàm lượng sản phẩm đã qua chế
biến trong cơ cấu xuất khẩu cao su và nâng cao được hiêụ quả kinh doanh.
- Đầu tư xây dựng dịch vụ thị trường từ khâu thu mua , vận chuyển bảo
quản cao su nguyên liệu đến khâu nghiên cứu , tiếp cận và thâm nhập các thị
trường xuất khẩu tiềm năng.
14
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Đầu tư đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học nông nghiệp nhằm cải
thiện được năng suất và chất lượng , tạo ưu thế cho hàng cao su xuất khẩu của
Việt nam khi thâm nhập thị trường thế giới.
- Đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực , nhằm xây dựng được
đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý sản xuất kinh doanh có trình độ để đưa nền
nông nghiệp của ta bắt kịp nhịp phát triển của các nền nông nghiệp trên thế giới.
2.Về phía Nhà nước
2.1. Nhóm biện pháp hỗ trợ về tài chính - tín dụng
* .Chính sách trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp hàng xuất khẩu là những ưu đãi tài chính mà Nhà nước dành cho doanh nghiệp xuất khẩu khi
họ xuất khẩu được hàng ra nước ngoài. Chính sách này nhằm giúp cho các đơn vị xuất khẩu tăng doanh thu,
nâng cao khả năng cạnh tranh, và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Chính sách trợ cấp hiện nay tồn tại duới hai
hình thức chủ yếu là:
- Trợ cấp trực tiếp: như áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng xuất khẩu, miễn hoặc giảm thuế đối với
nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, hoàn lại thuế, cung cấp miễn phí các dịch vụ như điện, nước,
vận tải, thông tin liên lạc, trực tiếp thưởng một khoản tiền nào đó cho các doanh nghiệp nếu thực hiện được một
thương vụ tốt có kim ngạch cao hoặc xuất sang một thị trường mới.
- Trợ cấp gián tiếp: Là hoạt động mà Nhà nước dùng ngân sách của mình để hỗ trợ gián tiếp cho
các nhà sản xuất, xuất khẩu như các hoạt động giới thiệu sản phẩm thông qua triển lãm, quảng cáo, hội chợ,
hay đào tạo chuyên môn, đào tạo kỹ thuật và quản lý miễn phí. Cũng có thể Nhà nước đứng ra ký kết các
hiệp định thương mại với các nước để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhằm mục đích đẩy mạnh và
mặt hàng nông sản chính, bao gồm cả cao su. Nhà nước nên áp dụng biện pháp này, đặc biệt là khi thị trường
nước ngoài có biến động bất lợi về giá cả. Khi đó, người sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có thể tránh
được rủi ro, thiệt hại khi thị trường biến động. Nhưng cũng cần lưu ý rằng đây là biện pháp mà các tổ chức
thương mại quốc tế và WTO cho là biện pháp tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Do vậy khi áp dụng biện
pháp này cần phải rất thận trọng và khéo léo làm sao có thể dung hoà được lợi ích của quốc gia với các quy định
và tập quán mậu dịch quốc tế.
* Chính sách áp dụng tỷ giá hối đoái linh hoạt
“Tỷ giá hối đoái là giá cả một loại tiền tệ được biểu hiện qua một loại tiền tệ khác”. Sự thay đổi tỷ giá
nhìn chung có ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu, cũng như nhập khẩu, đầu tư và du
lịch. Khi đồng nội tệ mất giá so với ngoại tệ sẽ làm cho hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn, có điều kiện để cạnh
tranh, xâm nhập vào thị trường nước ngoài dẫn đến xuất khẩu tăng. Nhưng hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn, vì
người nhập khẩu phải dùng số tiền nội tệ nhiều hơn để quy đổi ra ngoại tệ dùng cho việc nhập khẩu. Ngược lại,
khi đồng nội tệ tăng giá so với đồng ngoại tệ thì sẽ làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn, có sức cạnh tranh cao
hơn so với hàng nội. Điều này sẽ dẫn đến nhập khẩu tăng nhưng xuất khẩu giảm.
Liên quan đến việc điều chỉnh tỷ giá hàng hối đoái, ở nước ta đến ngày 1/1/1989, ngân hàng Nhà nước
Việt Nam tuyên bố xoá bỏ tỷ giá hối đoái nội bộ vốn vẫn được áp dụng từ trước năm 1989 và đưa ra hệ thống
một tỷ giá sát với giá thị trường. Đây chính là một biện pháp phá giá mạnh đồng tiền của mình nhằm kích thích
sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu. Việc Chính phủ thực hiện cải cách trong cơ chế điều hành tỷ giá, điều chỉnh linh
hoạt hơn tỷ giá giữa “USD-đồng tiền Việt nam”, phần nào đã khép dần khoảng cách giữa tỷ giá qui định của
Ngân hàng trung ương với thị trường tự do; song cần linh hoạt hơn nữa(không nên định giá quá cao đồng nội tệ),
tuy nhiên không nên áp dụng biện pháp đột ngột (tạo nên các cú xốc), mà cần sát với thị trường, nhằm khuyến
khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng kinh tế.
* Biện pháp tín dụng và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Trong những năm qua, chúng ta cũng đã quan tâm đến nhóm biện pháp này để kích thích sản xuất và
xuất khẩu phát triển bằng việc Nhà nước đứng ra ký các hiệp định vay nợ cho phát triển sản xuất hoặc lãi suất
cho vay liên tục được hạ thấp. Nguồn vốn vay phục vụ sản xuất và xuất khẩu cao su cũng phải chịu lãi suất
tương tự, trừ các trường hợp đặc biệt như vay vốn để thực hiện các dự án/chương trình xoá đói giảm nghèo hay
chương trình 135 chẳng hạn. Thường thời hạn vay vốn là ngắn hạn nên rất khó cho người sản xuất cao su đầu tư
phát triển lâu dài, đặc biệt là khi cây cao su đòi hỏi một thời gian sinh trưởng tới hơn 30 năm . Do vậy, chính
sách tín dụng thời gian tới cần cải tiến để đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cao su theo hướng sau:
chéo.
-Giảm thuế cho những doanh nghiệp xuất khẩu tìm được thị trường mới, hoặc
có kim ngạch xuất khẩu cao, vì chi phí thuế sẽ được tính vào vào giá bán làm
tăng giá xuất khẩu và giảm khả năng cạnh tranh của cao su nước ta, trong khi
đó, chính sách của nhà nước ta là đặc biệt ưu tiên đầu tư nhằm nâng cao kim
ngạch xuất khẩu và tạo điều kiện xâm nhập vào thị trường mới ở nước ngoài.
-Bỏ chế độ thu một số loại thuế đánh vào hàng cao su xuất khẩu, hành động
này trước mắt có thể không có lợi cho việc thu ngân sách nhưng về lâu dài sẽ
mang lại lợi ích lớn hơn nhiều cả về mặt hiệu quả kinh tế và phát triển xã hội vì
việc phát triển sản xuất xuất khẩu cũng đã góp phần đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hoá nông thôn ở Việt Nam.
- Miễn thuế nhập khẩu các loại tư liệu sản xuất quan trọng để nhập khẩu được
những loại giống tốt, những công nghệ chế biến tiên tiến, tạo sức chuyển biến
mới cho mặt hàng cao su xuất khẩu.
-Đánh thuế nhập khẩu cao vào những sản phẩm cao su từ nước khác như săm,
lốp các loại xe, đệm mút,... hiện đang xuất hiện rất nhiều trên thị trường Việt
Nam nhằm bảo vệ cho sản phẩm nội địa, đồng thời phải có biện pháp quản lý thị
trường và chống buôn lậu có hiệu quả, không để những mặt hàng nhập lậu trốn
thuế này đánh bại sản phẩm nội địa trên chính thị trường của chúng ta.
2.3. Đổi mới hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý hoạt động sản xuất và xuất khẩu
Đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý hoạt động ngoại thương là cần thiết và cấp bách vì
cần thống nhất quan điểm cho phù hợp với hệ thống kinh tế mở, với xu thế "tự do hoá hoạt động thương mại"
đang diễn ra với mức độ khác nhau ở nhiều nước trên thế giới. Trong khuôn khổ pháp luật nước ta, Nhà nước có
khả năng tiến hành các biện pháp và chính sách xúc tiến sản xuất và xuất khẩu, xoá bỏ các rào cản, nhất là về tổ
chức, cơ chế, thể chế và các thủ tục đang tác động đến hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu vật tư thiết bị phục vụ
cho sản xuất và chế biến,đồng thời cần hoàn thiện lại chính sách và cơ chế quản lý thương mại, phù hợp với yêu
cầu của AFTA/ ASEAN, của APEC và của WTO...để khuyến khích và đẩy mạnh xuất khẩu .
Trong cơ chế xuất khẩu hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu ngoài quốc doanh đang phải chịu những
một số bất lợi so với các doanh nghiệp xuất khẩu quốc doanh. Các hợp đồng xuất khẩu lớn và thuận lợi hoặc hợp
đồng trả nợ bằng sản phẩm đều do các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện. Trong thời gian tới, Nhà nước nên tổ
* Khi xúc tiến hoạt động thương mại vào thị trường nước ngoài cần triệt để sử dụng lợi ích của mạng
Internet bằng cách gửi e-mail, khai thác dữ liệu, tìm kiếm bạn hàng, quảng cáo và bán hàng trên mạng. Việc tổ
chức các đoàn doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài tìm hiểu thị trường cần thu xếp chu đáo vì chi phí khá tốn
kém. Tốt nhất là nên kết hợp đi thăm các hội chợ triển lãm ngành hàng. Hàng trong nước và hàng nhập khẩu có
thể trình bày thông qua các công ty và đại lý ở ở trên các thị trường tiềm năng, không nhất thiết phải sang tận
nơi. Có thể tổ chức các đoàn tham quan hội chợ triển lãm, đồng thời mang catalogue, hàng mẫu sang tiếp thị vì
thường các công ty trưng bày chính là các công ty nhập khẩu.
* Ngoài ra, cũng cần mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế từ cấp Chính phủ, Hiệp hội hay chính các
doanh nghiệp xuất khẩu. Thông qua các Hiệp định thương mại cấp Chính phủ, cao su xuất khẩu sẽ có điều kiện
tiếp cận và thâm nhập thị trường tốt hơn, nhất là đối với các thị trường cao cấp giàu tiềm năng. Hiệp hội cao su
cũng có thể mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, qua đó có thể thiết lập các mối quan hệ làm ăn, hợp tác hay trao
đổi thông tin với các tổ chức, hiệp hội cao su quốc tế hoặc của các quốc gia khác khác trên thế giới. Bằng cách
này các Hiệp hội sẽ có thể giúp cáp doanh nghiệp thành viên tiếp cận được với các thị trường bên ngoài và tìm
kiếm cơ hội mở rộng thị trường. Bản thân các doanh nghiệp cũng phải chủ động tìm kiếm và thiết lập quan hệ
bạn hàng lâu dài với các đối tác nước ngoài, đồng thời tìm kiếmkhả năng mở rộng thị trường và đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu bằng cách khai thác các mối quan hệ hợp tác này.
3.2. Đẩy mạnh hoạt động “marketing”quốc tế
Khi xúc tiến các hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng cả hai nhóm yếu tố
ảnh hưởng đó là: các yếu tố hạn chế và các yếu tố kích thích trao đổi quốc tế. Nhóm yếu tố hạn chế bao gồm các
vấn đề như: thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch và cấm vận, kiểm soát tỷ giá, hàng rào phi thuế quan, tính đa dạng
của thị trường bên ngoài... Nhóm nhân tố thúc đẩy trao đổi quốc tế bao gồm: các tổ chức quốc tế (WTO, IMF...),
các thực thể kinh tế (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, EU, ASEAN...), các chính sách và qui định của từng
quốc gia, xu hướng phát triển của nhu cầu thị trường, công nghệ mới, thông tin và vận tải...
* Nghiên cứu môi trường xuất khẩu
18
Đặng Tuấn Dũng - Lớp: QTCL - 44
18