NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VỚI
VIỆC PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Bản chất và vai trò của hệ thống báo cáo tài chính
1.1.1. Bản chất của hệ thống báo cáo tài chính
Trong lý thuyết hạch toán kế toán đã nêu rõ phương pháp tổng hợp, cân
đối kế toán là phương pháp khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh
doanh và các mối quan hệ kinh tế khác thuộc đối tượng hạch toán. Một trong
những hình thức biểu hiện cụ thể của phương pháp tổng hợp, cân đối kế toán là
hệ thống các bảng tổng hợp cân đối thường gọi là các báo cáo tài chính. Như
vậy, báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất là về tình hình tài sản,
vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của
doanh nghiệp. Để hiểu thêm về bản chất của báo cáo tài chính có thể xem xét
thêm một số quan điểm của nước ngoài khi xác định bản chất của báo cáo tài
chính.
Bản chất của báo cáo tài chính được Viện kiểm toán viên công chứng Hoa
Kỳ nêu lên như sau: Hệ thống báo cáo tài chính được lập nhằm mục đích phục
vụ cho việc xem xét, đánh giáđịnh kỳ báo cáo về quá trình hoạt động của nhà
quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết quảđạt được trong
kỳ. Hệ thống báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp những sự kiện kinh tế phát
sinh được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh,
những công bố và ghi chú trên thuyết minh báo cáo tài chính trên cơ sở những
nguyên tắc kế toán và những đánh giá, phán xét mang tính chất cá nhân, mà
trong đó những phán xét và các nguyên tắc kế toán được áp dụng cóảnh hưởng
chủ yếu đến việc ghi nhận, phân loại và trình bày các sự kiện kinh tế phát sinh
đó. Những đánh giá, phán xét đúng đắn tùy thuộc vào khả năng xét đoán trung
thực, liêm khiết của người lập báo cáo tài chính và các nhà quản lý doanh
nghiệp, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ với những nguyên tắc kế toán đang
có hiệu lực ở mỗi quốc gia.
Một số quan điểm khác của hai tác giả Bryan Carberg và Susan Dev của
Mỹđã nêu lên bản chất của báo cáo tài chính như sau: Hệ thống báo cáo tài
chính được thiết kế và trình bày kết quả những nghiệp vụ kinh tế phát sinh và
hoạt động kinh tế, tài chính, để nhận biết tình hình và kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực trạng tài
chính, tình hình về nhu cầu và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Dựa vào báo cáo tài chính để phân tích, phát hiện khả năng tiềm tàng về
kinh tế, tài chính, dựđoán tình hình và xu hướng hoạt động của doanh nghiệp để
từđóđề ra các quyết định đúng đắn và có hiệu quả.
- Cung cấp tài liệu, số liệu để tham khảo phục vụ cho việc lập kế hoạch
sản xuất, kinh doanh, kế hoạch đầu tư, các dựán sản xuất, kinh doanh cho phù
hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.
Đối với từng đối tượng sử dụng thông tin của báo cáo tài chính cóý nghĩa
và tác dụng cụ thể như sau:
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp, Hội đồng
quản trị, Ban giám đốc: báo cáo tài chính cung cấp thông tin để doanh nghiệp
phân tích, đánh giá tổng hợp về thực trạng và tiềm năng tài chính, khả năng
thanh toán, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình và thực trạng
quản lý kinh tế tài chính, để từđó hoạch định các chính sách quản lý và sử dụng
tài sản, chính sách huy động và sử dụng vốn, chính sách quản lý doanh thu, chi
phí và sử dụng các luồng tiền của doanh nghiệp.
- Đối với những đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp như các
nhàđầu tư, các chủ nợ, ngân hàng: thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp
họđánh giá tiềm năng và thực trạng tài chính, thực trạng hoạt động kinh doanh
và khả năng sinh lời, khả năng thanh táon và những rủi ro, để có những quyết
định hợp lýđối với việc đầu tư, mức độ và thời hạn cho vay, lãi suất cho vay; đối
với các nhà cung cấp và khách hàng thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp
họ có những đánh giá về triển vọng kinh doanh và khả năng cung cấp nguồn
hàng, khả năng thanh toán ngắn hạn, để có những quyết định đúng đắn về các
quan hệ kinh doanh, bạn hàng.
- Đối với người lao động: thông tin trên báo cáo tài chính giúp họ hiểu
được khả năng tiếp tục hoạt động, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán, chi
trả của doanh nghiệp để họ có những quyết định việc làm và thu nhập.
Ởđoạn này, kế toán được sử dụng chủ yếu để quản lý việc thu, chi ngân
sách, phục vụ cho yêu cầu quản lý, kiểm soát việc chấp hành kế hoạch bảo vệ
tài sản xã hội chủ nghĩa. Hệ thống báo cáo kế toán được ban hành lần đầu theo
Quyết định 122/CP ngày 01/12/1970 của Hội đồng Chính Phủ bao gồm 13 biểu
báo cáo: Bảng tổng kết tài sản; Tăng giảm tài sản và quỹ khấu hao; Vốn cơ bản;
Chi phí phục vụ, quản lý sản xuất; chi phí sản xuất theo yếu tố; Giá thành sản
phẩm so sánh được và toàn bộ sản phẩm theo khoản mục; Giá thành đơn vị các
sản phẩm chủ yếu; Những nhân tố làm tăng giảm giá thành; Tiêu thụ; Lãi lỗ và
các khoản thanh toán với Ngân sách.
Mục tiêu của hệ thống báo cáo này là nhằm hệ thống các số liệu và những
thuyết minh cần thiết nhằm thể hiện tình hình và kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh và sử dụng vốn của đơn vị kế toán trong một thời kỳ nhất định bằng
những chỉ tiêu tài chính đã quy định. Số liệu này được các cơ quan quản lý chức
năng của nhà nước sử dụng để nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch, kiểm soát việc tuân thủ các quy định vàđiều hành các tài nguyên giữa
các xí nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Hệ thống báo cáo tài chính trong giai đoạn này đã cung cấp thông tin toàn
diện về hoạt động của doanh nghiệp phục vụ cho yêu cầu quản lý tập trung có
tác dụng tích cực cho việc kiểm soát và chỉđạo của cơ quan chủ quản cũng như
của các cơ quan chức năng của Nhà nước để thực hiện yêu cầu kế hoạch hóa tập
trung, phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế còn rất nhiều
manh mún và kém phát triển. Tuy nhiên hệ thống báo cáo tài chính này bộc lộ
những nhược điểm:
- Cấu trúc của hệ thống báo cáo quá cồng kềnh ( 13 báo cáo) với quy định
và việc tính toán các chỉ tiêu phức tạp, đòi hỏi người lập và người đọc
báo cáo phải có một hiểu biết tương xứng về kế toán.
- Tần số báo cáo dày đặc ( tháng, quý, 6 tháng, năm) đã làm tăng khối
lượng kế toán một cách đáng kể.
Do vậy việc lập báo cáo thường chậm trễ, mang nặng tính đối phó không đảm
bảo tính trung thực của thông tin.
công tác quản lý.
Tóm lại, hệ thống báo cáo thời kỳ trước 1995 qua 3 giai đoạn có chiều
hướng giảm về số lượng báo cáo, các chỉ tiêu trình bày tăng tính tổng hợp, nội
dung các chỉ tiêu ngày càng phong phú, phản ánh đầy đủ hơn các nghiệp vụ
kinh tế mới của nền kinh tế thị trường về hình thức trình bày thông tin trên báo
cáo ngày càng thể hiện tính khoa học thông qua việc phân loại, sắp xếp các chỉ
tiêu. Hơn nữa, hệ thống báo cáo tài chính đã có sự chuyển hướng về xác định
đối tượng phục vụ, từđối tượng là phục vụ cho quản lý và kiểm soát của nhà
nước thì cuối giai đoạn này đã chuyển dần sang phục vụ thông tin cho nhiều đối
tượng khác hướng tới hội nhập với quốc tế về kế toán, làm tiền đề cho việc hội
nhập kinh tế.
1.2.2. Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam từ năm 1995 đến nay.
Giai đoạn này là giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh
tếđất nước, là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Trước yêu cầu đổi
mới của nền kinh tế cũng như sự hội nhập kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam
đòi hỏi phảI được đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ và triệt để cả nội dung
lẫn hình thức nhằm đáp ứng yêu cầu và nội dung của cơ chế quản lý kinh tế
trong nền kinh tế thị trường và từng bước hòa nhập với các nguyên tắc, chuẩn
mực, thông lệ chung về kế toán phổ biến của các nước trên thế giới và trong khu
vực. Do đó, hệ thống báo cáo tài chính ở giai đoạn sau 1995 luôn không ngừng
được hoàn thiện dần cho phù hợp với các chuẩn mực kế toán Việt Nam đãđược
ban hành.
Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp
bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo:Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính
Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế, yêu cầu chỉđạo điều hành các
ngành, các Tổng công ty… có thể quy định thêm các báo cáo tài chính chi tiết
khác.
Tuy nhiên, với sự ra đời của 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, hệ thống báo
toán trên thế giới và tạo được sự tin cậy cho các đối tượng bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp. Tuy nhiên vẫn có một số hạn chế nhất định về nội dung và
phương pháp lập. Vì thế, ngày 09/10/2002 Bộ tài chính đã ban hành thông tư số
89/2002/TT – BTC.
* Hệ thống báo cáo tài chính điều chỉnh theo thông tư số 89/2002/TT-
BTC ngày 09/10/2002 của Bộ tài chính:
Ngày 31/12/2001, Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành Quyết định số
149/2001/QĐ-BTC về việc ban hành và công bố 4 chuẩn mực kế toán đợt 1:
Chuẩn mực số 02: Hàng tồn kho
Chuẩn mực số 03: Tài sản cốđịnh hữu hình
Chuẩn mực số 04: Tài sản cốđịnh vô hình
Chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác
Và ban hành thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn kế toán
thực hiện 4 chuẩn mực kế toán đợt 1, theo đó hệ thống báo cáo tài chính với 4
mẫu biểu có những thay đổi ở Biểu 01-DN – Bảng cân đối kế toán và Biểu 02 –
DN – Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
* Hệ thống báo cáo tài chính điều chỉnh theo thông tư số
105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003:
Đến ngày 31/12/2006 06 chuẩn mực kế toán đợt 2 được ban hành theo quyết
định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 gồm:
Chuẩn mực số 01: Chuẩn mực chung
Chuẩn mực số 06: Thuê tài sản
Chuẩn mực số 10: ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
Chuẩn mực số 15: Hợp đồng xây dựng
Chuẩn mực số 16: Chi phíđI vay
Chuẩn mực số 24: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Tiếp theo đó, ngày 30/12/2003, Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành quyết định số
234/2003/QĐ-BTC công bố 06 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 3 gồm:
Chuẩn mực số 05: Bất động sản đầu tư
Chuẩn mực số 07: Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
Theo Chếđộ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, hệ
thống báo cáo tài chính hiện hành ở Việt Nam bao gồm báo cáo tài chính năm
và báo cáo tài chính giữa niên độ. (Phụ lục số 01)
- Báo cáo tài chính năm gồm:
+ Bảng cân đối kế toán Mẫu số B 01 – DN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B 02 – DN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B 03 – DN
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B 09 – DN
- Báo cáo tài chính giữa niên độ: báo cáo tài chính giữa niên độ gồm báo
cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng
tóm lược.
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:
+ Bảng cân đối kế toán giữa niên độ ( dạng đầy đủ) Mẫu số B 01a – DN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
(dạng đầy đủ)
Mẫu số B 02a – DN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (dạng đầy đủ) Mẫu số B 03a – DN
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính(dạng đầy đủ) Mẫu số B 09a – DN
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược, gồm:
+ Bảng cân đối kế toán giữa niên độ ( dạng tóm lược) Mẫu số B 01b – DN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
( dạng tóm lược)
Mẫu số B 02b – DN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( dạng tóm lược) Mẫu số B 03b – DN
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính ( dạng tóm lược) Mẫu số B 09b – DN
1.2.2.1. Bảng cân đối kế toán: Mẫu số B 01- DN
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn diện tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời
điểm lập báo cáo tài chính.
- Số dư cuối kỳ của các tài khoản tổng hợp và chi tiết tương ứng với các
chỉ tiêu được quy định trong bảng cân đối kế toán.
Trước khi lập bảng cân đối kế toán cần phải thực hiện một số việc: tiến
hành kết chuyển các khoản có liên quan giữa các tài khoản phù hợp với quy
định; kiểm kê tài sản và tiến hành điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán theo số
kiểm kê, đối chiếu số liệu giữa các sổ kế toán liên quan; khóa sổ các tài khoản
tổng hợp, chi tiết để xác định số dư cuối kỳ.
Theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “ Trình bày báo cáo tài
chính” từđoạn 15 đến đoạn 32, khi lập và trình bày Bảng cân đối kế toán phải
tuân thủ các nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính.
Nhằm đảm bảo tính chính xác của bảng cân đối kế toán, khi tính toán ghi
chép các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán phải tuân theo những nguyên tắc cơ
bản sau:
- Trước khi lập bảng cân đối kế toán, cần phải kiểm tra việc ghi chép trên
sổ kế toán xem đãđầy đủ, trung thực và chính xác chưa, bằng cách đối
chiếu, kiểm tra giữa sổ sách kế toán liên quan với nhau, giữa sổ kế toán
với thực tế.
- Cột sốđầu năm lấy số liệu ở cột cuối kỳ của bảng cân đối kế toán cuối
niên độ trước chuyển sang. Sốđầu năm không thay đổi trong suốt niên độ
báo cáo.
- Cột số cuối kỳ: theo nguyên tắc lấy số dư cuối kỳ trên các sổ kế toán tổng
hợp hoặc chi tiết tương ứng với chỉ tiêu đóđể lập.
- Những chỉ tiêu phản ánh tài sản thì căn cứ vào số dư cuối kỳ bên nợ của
các tài khoản phản ánh tài sản ( các tài khoản loại 1 và loại 2) để lập ở
phần tài sản của Bảng.
- Những chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn thì căn cứ vào số cuối kỳ bên có của
các tài khoản phản ánh nguồn vốn tương ứng ( các tài khoản loại 3 và loại
4) để lập phần nguồn vốn.
- Những chỉ tiêu có tính chất điều chỉnh giảm cho các khoản vốn ( các
khoản dự phòng, hao mòn tài sản cốđịnh…) được lập sau chỉ tiêu mà
nghiệp, chi tiết theo các loạ hoạt động chủ yếu.
Báo cáo kết quả hoạt đông kinh doanh cho biết toàn bộ kết quả hoạt động
trong kinh doanh của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định. Đồng thời bảng
báo cáo còn cho biết được các yếu tố liên quan đến việc tính toán xác định kết
quả kinh doanh của từng loại hoạt động ( sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính
và hoạt dộng khác).
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp cho người sử dụng
những thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận (hoặc lỗ) phát sinh từ hoạt
động kinh doanh thông thường; về thu nhập, chi phí và lợi nhuận khác phát sinh
từ những hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp
trong một kỳ kinh doanh. Đồng thời báo cáo kết quả kinh doanh còn phản ánh
chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận thuần của doanh nghiệp trong
kỳđó. Chi phí thuế thu nhập gồm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phảI nộp
trong kỳ và chi phí thuế thu nhập hoãn lại.
Thông tin cung cấp trên Báo cáo kết quả kinh doanh cùng với thông tin
trên BCTC khác giúp cho người sử dụng có những nhận xét, đánh giá về năng
lực kinh doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong kỳ, những nhân tố,
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và triển vọng hoạt động trong thời gian tới.
Phương pháp lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
- Việc lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ những
nguyên tắc kế toán cơ bản quy định trong Chuẩn mực kế toán số 01
“Chuẩn mực chung”, tuân thủ những yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày
BCTC quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày BCTC” và các
quy định hiện hành về BCTC.
- Các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải được phản
ánh trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xác định giá trị, ghi nhận và trình
bày có liên quan được quy định ở các Chuẩn mực kế toán cụ thể.
- Trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các loại chi phíđược trình bày
theo chức năng của chi phí ( theo khoản mục chi phí). Nhưng trong bản
thuyết minh BCTC doanh nghiệp phải cung cấp những thông tin bổ sung
tiền mặt khác, chi tiền mặt trả cho người bán hoặc người cung cấp, chi trả lương
nộp thuế, chi trả tiền lãi vay…
+Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt dộng đầu tư của doanh nghiệp. Các
khoan thu tiền mặt như bán tài sản, bán chứng khoán đầu tư, thu nợ các Công ty
khác, thu lại về phần đầu tư. Các khoản chi tiền mặt như mua tài sản, mua
chứng khoán đầu tư của doanh nghiệp khác…
+Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu, chi liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp bao gồm
các nghiệp vụ làm tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh
nghiệp góp vốn, vay vốn dài hạn, ngắn)hạn, nhận vốn liên doanh, phát hành trái
phiếu…
Có hai phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là phương pháp trực
tiếp và phương pháp gián tiếp. Mỗi báo cáo lập theo phương pháp khác nhau thì
tuân theo nguyên tắc cơ sở số liệu và cách lập các chỉ tiêu khác nhau.
Theo phương pháp gián tiếp, báo cáo lưu chuyển tiền tệđược lập bằng
cách điều chỉnh lợi nhuận trước thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh khỏi
ảnh hưởng của các nghiệp vụ không trực tiếp liên quan đến thu hoặc chi tiền đã
làm tăng, giảm lợi tức như khấu hao TSCĐ, lãi vay ngân hàng chưa thanh toán,
loại trừ các khoản lãi, lỗ của hoạt động tư và hoạt động tài chính đã tính vào lợi
nhuận trước thuế, điều chỉnh các khoản mục thuộc vốn lưu động.
Cơ sở lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp căn cứ
vào:Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả kinh doanh; Các tài liệu kế toán khác
có liên quan;
Theo phương pháp trực tiếp, báo cáo lưu chuyển tiền tệđược lập bằng
cách xác định và phân tích các khoản thực thu, chi bằng tiền trên các sổ kế
toánvốn bằng tiền theo từng hoạt động và theo nội dung thu chi.
Cơ sở lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp căn cứ
vào:Bảng cân đối kế toán; Sổ kế toán theo dõi thu chi vốn bằng tiền (tiền mặt và
tiền gửi); Sổ kế toán theo dõi các khoản phải thu, phải trả.
lập và trình bày báo cáo tài chính.
Các Tổng công ty, công ty có các đơn vị kế toán trực thuộc, ngoài việc phải lập
các báo cáo tài chính năm của Tổng công ty, công ty còn phải lập báo cáo tài
chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm dựa
trên báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán trực thuộc Tổng công ty, công ty.
- Đối với DNNN, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
còn phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ.
Các doanh nghiệp khác nếu tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ
thìđược lựa chọn dạng đầy đủ hoặc tóm lược.
Đối với Tổng công ty Nhà nước và DNNN có các đơn vị kế toán trực thuộc
còn phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất giữa
niên độ (*).
- Công ty mẹ và tập đoàn phải lập báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ(*)
và báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm theo quy định tại
Nghịđịnh số 129/2004NĐ-CP ngày 31/05/2004 của Chính Phủ. Ngoài ra còn
phảI lập báo cáo tài chính hợp nhất sau khi hợp nhất kinh doanh theo quy định
của Chuẩn mực kế toán số 11 “Hợp nhất kinh doanh”.
(*) Việc lập báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độđược thực hiện từ năm
2008)
Báo cào tài chính hợp nhất và tổng hợp
- Báo cáo tài chính hợp nhất:
Công ty mẹ và tập đoàn làđơn vị có trách nhiệm lập Báo cáo tài chính hợp nhất
để tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải
trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểm lập báo cáo tài chính; tình hình và kết
quả hoạt động kinh doanh trong kỳ báo cáo của đơn vị.
Hệ thống Báo cáo tài chính hợp nhất gồm 4 mẫu biểu báo cáo:
+ Bảng cân đối kế toán hợp nhất Mẫu số B 01 – DN/HN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất Mẫu số B 02 – DN/HN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất Mẫu số B 03 – DN/HN
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất Mẫu số B 09 – DN/HN