NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU NSNN VÀ VAI TRÒ CỦA KBNN TRONG VIỆC QUẢN LÝ THU NSNN - Pdf 68

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU NSNN VÀ VAI TRÒ CỦA KBNN TRONG
VIỆC QUẢN LÝ THU NSNN
1.1. Lý luận chung về thu NSNN.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thu NSNN:
Ngân sách Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng các quỹ
tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Thu NSNN là quá trình dùng các quyền lực có được của mình để phân
phối một bộ phận của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ về tay mình, hình thành
lên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Hay có thể nói thu NSNN nó bao gồm
các khoản thu từ Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà
nước, các khoản thu đóng góp của các tổ chức, cá nhân, các khoản viện trợ các
khoản khác theo quy định của pháp luật và các khoản do Nhà nước vay để bù
đắp bội chi ngân sách đều được dựa vào thu ngân sách.
Nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước là thuế. Theo quy định của
luật thuế có các loại thuế sau: Thuế lợi tức, thuế tài nguyên, thuế Nhà đất, thuế
môn bài, thuế sử đất, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất
nhập khẩu.. Để thuế là nguồn thu chủ yếu chiếm tỷ lệ khoảng 85% tổng thu
ngân sách Nhà nước thì Nhà nước, chính phủ ta phải có một chính sách về thuế
một cách toàn diện.
Về tỷ trọng, các khoản thu ngoài thuế hiện nay chiếm tỷ lệ khiêm tốn
trong thu ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, đây là nguồn thu quan trọng, nếu biết
phát huy, quản lý tốt và có các biện pháp để nuôi dưỡng, khai thác triệt các
nguồn thu thì nguồn thu đó là rất lớn chiếm một tỷ lệ không nhỏ cho ngân sách
Nhà nước.
Xét về nội dung ta thấy rằng thu NSNN một mặt chứa đựng các quan hệ
phân phối các hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước sử dụng
quyền lực chính trị, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia thành quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà nước. Mặt khác thu ngân sách Nhà nước lại gắn chặt với
thực trạng kinh tế đó là tổng sản phẩm quốc nội - GDP.
Thu NSNN là chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước và các chủ

trường khi phát triển đến một giai đoạn nhất định còn là tiền đề cho sự ra đời
của thị trường tài chính, thị trường sức lao động. Những đặc trưng cơ bản của
cơ chế thị trường cho thấy những bước phát triển mới, tiến bộ so với cơ chế bao
cấp. Bên cạnh đó, cơ chế thị trường còn bộc lộ nhiều mặt trái tác động tiêu cực
đến sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
- Về mặt xã hội: Trong cơ chế thị trường Nhà nước đảm bảo được sự
công bằng xã hội như các hình thức thuế, phí và lệ phí đảm bảo nhu cầu
chính đáng cho người lao động kích thích họ đầu tư vốn, đầu tư chất xám để
tăng năng suất hạ giá thành sản phẩm nâng cao tinh thần trách nhiệm với
người lao động.
- Về kinh tế: Sự phát triển của nhiều hình thức sở hữu, mở rộng quyền tự
chủ trong sản xuất kinh doanh sẽ dẫn đến cạnh tranh, tạo ra hàng hóa phong phú
đa dạng, đồng thời vì mục đích lợi nhuận mà nhiều nhà sản xuất cho ra những
sản phẩm không đảm bảo chất lượng trên thị trường hoặc tạo ra môi trường
cạnh tranh không bình đẳng.
Vì vậy muốn đạt được những mục đích về thị trường kinh tế và xã hội thì
cũng cần phải có sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước phải biết vận dụng các
công cụ tài chính, tiền tệ để tác động đến mọi mặt hoạt động của nền kinh tế xã
hội. Trong các công cụ đó thu NSNN được coi là công cụ quan trọng, chiếm
một vị trí không nhỏ góp phần làm ổn định nền tài chính, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Vì vậy, thu NSNN có vai trò rất quan trọng đó là:
Huy động các nguồn tài chính thông qua thu NSNN đảm bảo việc chi tiêu
của Nhà nước, như phục vụ cho bộ máy quản lý của Nhà nước và đảm bảo cho
việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội do Nhà nước đề ra. Xã hội muốn
phát triển đòi hỏi chi ngân sách mở cả về chiều rộng và chiều sâu do vậy thu
NSNN có hiệu quả sẽ góp phần cân đối thu chi đảm bảo cho xã hội phát triển.
Đây là vai trò không thể thiếu được của thu NSNN ở bất cứ một quốc gia nào.
Trong cơ chế thị trường thu NSNN không chỉ nhằm mục tiêu tạo nguồn tài
chính cho Nhà nước như trong cơ chế cũ mà nó có nhiệm vụ quan trọng trong
việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội. Thu NSNN góp phần làm lành

- Thuế thu nhập doanh nghiệp - Vay tín phiếu, trái phiếu
3 Thuế tài nguyên - Vay công trái xây dựng tố quốc
4 Thuế sử dụng đất nông nghiệp - Vay khác
5 Thuế môn bài 2 Vay nước ngoài khác
6 Thuế trước bạ C
Thu để lại ĐV chi QL qua NSNN
7 Phí và lệ phí khác
D Thu chuyển giao giữa các cấp NS
8 Tiền thuê mặt nước, mặt đất 1 Thu bổ sung từ NS cấp trên
9 Các khoản thu về nhà đất - Thu bổ sung cân đối
- Thuế nhà đất - Bổ sung có mục tiêu
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất BS có MT bằng nguồn vốn trong nước
- Tiền bán nhà và thuê nhà thuộc sở hữu NN 2 Thu NS cấp dưới nộp lên
10 Thu khác
E Các khoản tạm thu và vay khác
- Thu khác từ các cá nhân SXKD, HH, D vụ 1 Vay nước ngoài về cho vay lại
- Thu khác của NS 2 Thu nợ gốc , lãi cho vay NVNN về cho vay lại
II Thu dầu thô 3 Các khoản khác
III Thu hoạt động xuất nhập khẩu Trong đó: Vay Ngân hàng Nhà nước
IV Thu huy động quỹ dự trữ Tài chính Vay quỹ dự trữ tài chính
V Thu kế dư ngân sách năm trước Vay các quỹ khác
VI Thu chuyển nguồn năm trước Vay KBNN
VII
Thu viện trợ không hoàn lại Vay ngân hàng cấp trên
- Qua việc phân loại từ bảng trên ta thấy đã có sự thay đổi về quan niệm
sở hữu trong cơ chế thu NSNN, phân loại theo quan niệm đối tượng và lĩnh vực
thu nộp từ đó phân theo nội dung kinh tế. Trong luật NSNN năm 2002 với chính
sách khuyến khích sự phát triển của tất cả các thành phần kinh tế, sẽ không có
sự phân biệt đối xử giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh. Hệ thống
chính sách được áp dụng cho tất cả các ngành nghề. Các hình thức kinh doanh

Trong thời kỳ chống pháp Kho bạc Nhà nước đã được hình thành với tên gọi
là ngân khố Đông Dương trực thuộc phủ toàn quyền Đông Dương. Sau cách mạng
tháng tám thành công năm 1945, tổng nha ngân khố quốc gia trực thuộc Bộ Tài
chính với nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách NSNN là in tiền, quản lý tiền và các loại
tài sản quý hiếm của Nhà nước như vàng, bạc, kim khí quý, đá quý... Từ năm 1951
nhiệm vụ của ngân khố quốc gia được chuyển sang hệ thống Ngân hàng quốc gia
Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) được thành lập với nhiệm vụ chủ
yếu quản lý quỹ NSNN, in tiền, quản lý vàng bạc kim khí quý, đá quý... lúc này
Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý quỹ ngân sách và kinh doanh tiền tệ, đồng
thời thực hiện thêm nhiệm vụ là tập trung các nguồn thu của NSNN, tổ chức cấp
phát chi trả các khoản chi theo Luật phân phối của cơ quan Tài chính Nhà nước.Việc
phân phối cấp phát mang nặng tính bao cấp chủ yếu là để thanh toán cho các chỉ
tiêu hiện vật đã được cân đối. Do cơ quan Tài chính không trực tiếp quản lý quỹ
NSNN, không nắm được thường xuyên chính xác tình hình thu chi và tồn quỹ
NSNN nên không thể chủ động trong khâu cấp phát chi trả, thường xuyên xảy ra các
khoản chi cần thiết của NSNN đã được bố trí trong kế hoạch như chi lương, trợ
cấp xã hội, chi quốc phòng, an ninh...phải dừng lại, lúc này Chính phủ lại phải
phát hành thêm tiền cho nhu cầu chi tiêu của NSNN. Do yêu cầu đổi mới cơ
chế quản lý tài chính, tiền tệ, tín dụng đòi hỏi phải tách bạch phân định rõ vốn
của NSNN và vốn kinh doanh của Ngân hàng. Mặt khác, các chính sách tài
chính, đặc biệt là sự ra đời các luật thuế mới vừa chế độ quản lý tài chính của
các đơn vị, đòi hỏi phải thành lập hệ thống thu Nhà nước và phải có một hệ
thống quản lý thống nhất quỹ NSNN cho phù hợp nhằm nâng cao chất lượng
quản lý điều hành NSNN, nâng cao hiệu lực, trách nhiệm quyền hạn của hệ
thống tài chính quốc gia.
Trong số các phương tiện tài chính Kho bạc Nhà nước có một vị trí đặc
biệt quan trọng, vai trò của Kho bạc Nhà nước trong việc thực hiện chính sách
tài chính quốc gia . Do đó để đáp ứng tình hình và yêu cầu mới của công tác tài
chính, tiền tệ, tín dụng hệ thống Kho bạc Nhà nước Việt Nam được thành lập
theo Quyết định số 07/HĐBT ngày 01/04/1990 của Hội đồng Bộ trưởng nay là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status