THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY - Pdf 68

THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH
HÀ TÂY
I: Cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam.
1: Nhận định chung về DNNN ở Việt Nam.
Cũng như các nước trong phe XHCN trước đây Việt Nam xây
dựng mô hình kinh tế chỉ huy, vận hành theo cơ chế KHH tập trung.
Xác định một chủ thể kinh tế Nhà nước, các thành phần kinh tế khác
không được công nhận về mặt pháp lý và ngày càng thu hẹp lại. Hàng
loạt DNNN do quốc hữu hoá các xí nghiệp của tư bản dân tộc và tư sản
mại bản và thành lập mới. Nhà nước điều hành và quản lý DNNN trực
tiếp bằng các chỉ tiêu pháp lệnh, thực hiện chế độ bao cấp đối với
DNNN trên nguyên tắc tài chính thu đủ chi. Giá cả chỉ là công cụ để
tính toán cho việc cấp phát vật tư và giao sản phẩm. Chính cơ chế
KHH tập trung đã chi phối lớn đến cơ chế hoạt động và làm giảm hiệu
quả của Doanh nghiệp, biến DNNN thành đơn vị hành chính mất đi
tính chủ động của đơn vị sản xuất, kinh doanh. Cũng do chế độ bao
cấp các DNNN bằng mọi cách huy động tối đa các nguồn lực của Nhà
nước để thực hiện các chỉ tiêu được giao hơn là (tối thiểu hoá chi phí
sản xuất) để tối đa hoá lợi nhuận. Sản phẩm sản xuất ra đều giao nộp
cho Nhà nước dẫn tới các DNNN hoạt động trong môi trường không có
cạnh tranh và kém hiệu quả là không thể tránh khỏi.
Cơ chế quan liêu bao cấp tồn tại quá lâu đã làm cho DNNN làm
ăn ngày càng kém hiệu quả, trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà
nước. Nhìn chung các DNNN vẫn tồn tại các vấn đề cơ bản sau:
-
Tỷ suất lợi nhuận thấp.
-
Hiệu quả sử dụng vốn thấp.
-
Năng suất lao động thấp.

2.1: Giai đoạn thí điểm (1992-5/1996)Ngày 8/6/1992, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng(nay là thủ tướng
Chính Phủ) đã ban hành Quyết định số 202/CT về thí điểm chuyển một
số DNNN thành CTCP. Theo quyết định này, có 7 doanh nghiệp được
chọn tổ chức triển khai thí điểm CPH, nhưng đã xin rút khỏi danh
sách. Rút kinh nghiệm, sau đó chọn những Doanh nghiệp tự nguyện có
đủ điều kiện; đồng thời nhằm đẩy nhanh công tác thí điểm CPH, Thủ
tướng Chính Phủ cũng ban hành Chỉ thị 84/TTg ngày 4-8-1993 về xúc
tiến thực hiện CPH DNNN. Kết quả đã có 5 DNNN thuộc hai bộ, 2 địa
phương và 1 Tổng công ty chuyển thành CTCP. Tổng vốn điều lệ tại
thời điểm CPH là 38,393 tỷ đồng.
Nhìn chung, các DNNN tiến hành CPH trong giai đoạn này thuộc
loại vừa và nhỏ, vốn ít (dưới 10 tỷ đồng); phần lớn mang tính dịch vụ,
kinh doanh hiệu quả và không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100%
vốn, tập thể cán bộ công nhân viên tự nguyện tham gia thí điểm CPH.
Tuy nhiên, do còn nhiều vướng mắc nên cần tiếp tục nghiên cứu bổ
sung cho phù hợp với tình hình thực tế từ việc chọn Doanh nghiệp đến
xác định giá trị Doanh nghiệp; trách nhiệm quyền hạn của các bộ
ngành, địa phương. Để đẩy nhanh tiến trình CPH và có tính pháp lý
cao hơn, Chính Phủ đã ban hành văn bản thay thế Quyết định 202/CT.
2.2: Giai đoạn mở rộng thí điểm (từ cuối năm 1996 đến 6/1998)
Trên cơ sở đánh giá kết quả thí điểm, ngày 7/5/1996, Chính phủ
đã ban hành Nghị định 28/CP. Nghị định này ra đời đã tạo điều kiện
thúc đẩy CPH nhanh hơn. Đối tượng, mục tiêu CPH, nguyên tắc xác
định giá trị Doanh nghiệp, chế độ ưu đãi Doanh nghiệp và người lao
động được quy định cụ thể hơn. Kết quả sau hai năm thực hiện đã có
25 DNNN thuộc 2 bộ, 11 địa phương và 2 Tổng Công ty 91 tiến hành
CPH thành công với tổng số vốn điều lệ tại thời điểm CPH là 243,042

CTCP bước đầu được khơi dậy và phát huy, thể hiện rõ ở tinh thần
hăng say và tự giác làm việc, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tiết
kiệm trong sản xuất kinh doanh được nâng lên.Theo báo cáo của các
Doanh nghiệp CPH đã hoạt động trên một năm, các chỉ tiêu kinh tế của
hầu hết các Doanh nghiệp đều có mức tăng trưởng cao. Trong đó,
doanh thu bình quân tăng 1,4 lần, lợi nhuận tăng 2 lần, nộp ngân sách
tăng 22%, số lượng lao động tăng. Điều đáng chú ý là các DNNN CPH
trong thời gian qua rất ít người lao động bị đưa ra khỏi Doanh nghiệp
trừ những trường hợp tự nguyện. Đồng thời, thu nhập của người lao
động cũng tăng thêm so với trước khi CPH từ 200.000-500.000 đồng.
Tuy vậy do phần lớn các DNNN CPH thuộc diện vừa và nhỏ, vốn Nhà
nước dưới 10 tỷ đồng là phổ biến nên mục tiêu huy động vốn và cơ cấu
lại các nguồn vốn Nhà nước qua CPH còn hạn chế.
Để minh chứng ích lợi của mô hình CPH DNNN chúng ta hãy xét
một số điểm sáng về CPH:

Công ty cổ phần giấy Hải Phòng (HAPACO).
Công ty Cổ phần giấy Hải Phòng thành lập từ năm 1960 và đã từng
hai lần quỵ ngã: lần thứ nhất vào năm 1981-1982, lần thứ hai vào năm
1989-1990. Từ năm 1991 trở đi Doanh nghiệp này phục hồi và làm ăn
có lãi. Đến năm 1996 HAPACO là đơn vị thí điểm CPH. Đến 6/1998
HAPACO đã CPH một bộ phận của Doanh nghiệp và cho ra đời công
ty cổ phần Hải Âu. Đây được coi là giai đoạn CPH lần thứ nhất của
HAPACO. Người lao động mua 60% cổ phần, Nhà nước nắm 15%, còn
là cổ đông bên ngoài. Năm 1999, Hải Âu như “diều gặp gió” tăng
trưởng vùn vụt. Vốn điều lệ của Doanh nghiệp tăng hơn 3 lần, cổ tức
trả cho cổ đông bằng 100% vốn góp. Các chỉ tiêu như giá trị sản xuất,
doanh thu,sản phẩm,nộp ngân sách đều tăng từ 32-43%.
Vào thời gian này Công ty cổ phần Hải Âu và Công ty giấy Hải
Phòng (vẫn là DNNN cùng nằm trên một diện tích mặt bằng và cùng

Lợi nhuận sau thuế (triệu
đồng)
48
32,9
8.000
0,81
680
2.600
82,5
53,12
12.000
1,52
945
6.450
102,2
70,1
15.889
1,779
1.080
8.421
125,2
86
20.200
2,87
1.200
8.600
Nguồn: Công ty HAPACO

Công ty cổ phần Cáp và vật liệu viễn thông (SACOM).
Ngày 7/2/1998 bằng quyết định của tổng cục trường tổng cục bưu

4.
Lợi nhuận sau thuế
5.
Nộp ngân sách
6.
Lao động
7.
Cổ tức
Km đôi dây
Triệu đồng
Người
%
1000/Người/thá
130.665
55.436
8.268
5.558
4.969
120
576.000
150.000
32.000
32.000
13.866
151
16
440
270
389
575


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status