NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NHTM - Pdf 68

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRUNG VÀ DÀI
HẠN TẠI NHTM
I- HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ( NHTM)
1- Khái niệm và đặc điểm của hoạt động NHTM
1.1- Khái niệm
Khi nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến một trình độ nhất định, lưu thông
hàng hoá và lưu thông tiền tệ đã được mở rộng thì trong nền kinh tế cũng đồng thời
xuất hiện những người nắm giữ một khoản tiền tạm thời không dùng đến và những
người cần tiền trong một khoảng thời gian nhất định để kinh doanh. Trước tình
hình đó, vào nửa cuối thế kỷ 16 ở Châu Âu đã ra đời một số Ngân hàng đầu tiên
mà tiền thân là những tổ chức cho vay nặng lãi chuyển hoá thành. Lúc này hoạt
động của Ngân hàng mới chỉ là nhận giữ hộ tiền và cho vay.
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của NHTM
cững từng bước được củng cố và hoàn thiện, chuyển hoá dần theo hướng đa năng.
ở Việt Nam, theo Luật các Tổ chức Tín dụng, nhà lập pháp định nghĩa rằng “ Hoạt
động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng
các dịch vụ thanh toán”.
1.2- Đặc điểm của hoạt động NHTM
Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể được nhận dạng
thông qua một số đặc điểm sau:
* Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời
( bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng). Trong
đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới
các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với
mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng được biểu hiện
thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để
cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất
định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng
phí hay hoa hồng.
* Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện,

- Tiền gửi
- Tiền vay
- Vốn của ngân hàng
- Nguồn vốn khác

2.1- Các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản:
Bảng tổng kết tài sản của NHTM phản ánh ba lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là:
Huy động vốn, Sử dụng vốn và Nghiệp vụ môi giới trung gian.
2.1.1- Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ khởi đầu, tạo điều kiện cho mọi hoạt động của NHTM. Khi
một NHTM cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thể huy động ở
một số nguồn chính như : Nguồn từ chủ sở hữu, Nguồn tiền gửi, Nguồn vay mượn
và một số nguồn khác.
* Huy động từ chủ sở hữu:
Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ
sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng được hình thành trong quá trình kinh
doanh được thể hiện ở dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính ổn định cao,
NHTM không phải hoàn lại. Nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các
hoạt động mở rộng quy mô của các NHTM ( liên doanh, liên kết, mở rộng mạng
lưới,...). Các NHTM thường huy động nguồn này thông qua nghiệp vụ phát hành
cổ phiếu, trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu, nhận vốn cấp phát của Ngân
sách Nhà nước,... Nhìn chung việc huy động dưới hình thức nào là do tính chất sở
hữu của NHTM quyết định.
* Huy động từ tiền gửi:
Nguồn vốn từ chủ sở hữu thường có tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà NHTM sử
dụng trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy phần lớn là NHTM phải huy động từ
nguồn tiền gửi. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chỉ được quyền sử
dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những người
gửi tiền. Dựa vào tính khả dụng của vốn thì NHTM có thể huy động dưới các hình
thức sau:

tiền mặt) để thực hiện nghiệp vụ dự trữ. Mức dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc
vào qui mô hoạt động của NHTM, mối quan hệ thanh toán và chuyển khoản, thời
vụ của các khoản chi trả tiền mặt.
Tiền dự trữ bao gồm: Dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư. Chúng được hình
thành bởi các nguồn: Tiền mặt tại két của NHTM, Tiền gửi tại Ngân hàng trung
ương, Tiền gửi ở các tổ chức tín dụng, Tiền đang trong quá trình thu.
* Cho vay:
Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Nguồn thu từ
hoạt động cho vay thường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng.
Tuy nhhiên, nó cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro và phức tạp nhất.Rủi ro tín dụng có
thể do ý muốn chủ quan của ngân hàng như : Xây dựng chiến lược sai, Thẩm định
hồ sơ không chính xác, Cho vay không tuân theo nguyên tắc,... cũng có thể do
nguyên nhân khách quan như: Hoả hoạn, lũ lụt,... Hoạt động cho vay liên quan chặt
chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu dùng đến sản xuất kinh doanh.
Do vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa
dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện tăng lợi nhuận
cho ngân hàng. Các hình thức cho vay chủ yếu như: Cho vay ngắn hạn, Cho vay
trung và dài hạn, Cho vay có đảm bảo,...
* Đầu tư:
Hoạt động này bao gồm đầu tư chứng khoán và các hoạt động đầu tư khác:
- Đầu tư chứng khoán: Nghiệp vụ này mang lại cho NHTM một khoản lợi
nhuận tương đối lớn ( sau cho vay). Trong trường hợp chưa tìm ra khách hàng
đáng tin cậy để cho vay thì đầu tư chứng khoán là nơi giải quyết vốn một cách hữu
hiệu nhất cho NHTM. Tuy nhiên, nó cũng chứa nhiều rủi ro. Vì vậy NHTM cần
phân tích kỹ lưỡng trước khi lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu tư.
- Ngoài ra, NHTM có thể đầu tư bhằm mục đích sinh lợi nhiều hình thức khác
như góp vốn liên doanh, đầu tư vào trang thiết bị,...
2.1.3-Hoạt động môi giới trung gian
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển
theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng. Thực hiện các hoạt

Nam hiện nay.
3.1- Nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ( 2001-2005)
ở Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới, mục tiêu hàng đầu là
thông qua quá tình CNH, HĐH đất nước để phát triển kinh tế - xã hội. Để đạt được
mục tiêu đó thì điều quan trọng nhất là phải có một nguồn vốn đủ mạnh cho đầu tư
phát triển, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào lượng vốn mà
quan trọng hơn là phải có chính sách huy động, quản lý và sử dụng vốn một cách
có hiệu quả. Vấn đề huy động và sử dụng vốn không còn là vấn đề mới mẻ nhưng
vẫn là vấn đề mang tính chất thơì sự, đã và đang được các nhà kinh tế quan tâm.
Bở vì nhu cầu vốn ngày càng tăng nhanh theo kịp độ phát triển kinh tế xã hội.
Theo sự báo của Bộ kế hoạch đầu tư, trong giai đoạn từ 2001-2005 để đạt tốc
độ tăng trưởng 6-7%/năm và tổng GDP đạt khoảng 190 tỷ USD trong cả giai đoạn
thì Việt Nam cần phải huy động vốn cho đầu tư phát triển khoảng 50-60 tỷ USD
( ≈30% GDP) trong đó vốn trong nước khoảng 60%, vốn trung và dài hạn khoảng
từ 40-50% vốn đầu tư. Tỷ lệ tiết kiệm nội địa phải đạt khoảng 26% GDP.
Như vậy, nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất lớn. Vấn đề đặt ra là phải có cơ
chế, chính sách và giải pháp nhất quán, đồng bộ để khai thác và sử dụng có hiệu
quả. Hiện nay, trong điều kiện thị trường chứng khoán ở nước ta chưa hoàn thiện
thì NHTM vẫn đóng vai trò là một kênh huy động vốn trung và dài hạn rất quan
trọng trong nền kinh tế.
3.2- Vai trò của huy động vốn trung và dài hạn qua hệ thống NHTM.
* Đối với nền kinh tế:
- Góp phần thực hiện chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Trong nền kinh tế
thị trường, ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Kinh nghiệm các nước công
nghiệp cho thấy, để ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát, đòi hỏi Nhà nước phải
sử dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính và tiền tệ. Trong đó, giải pháp
khá hữu hiệu là không ngừng tăng cường huy động vốn trong nền kinh tế, đặc biệt
là huy động vốn qua hệ thống NHTM. Thông qua nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu,

- Đảm bảo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặc dù có thể chuyển hoán
nguồn vốn ngắn hạn để cho vay và đầu tư trung và dài hạn nhưng thông thường nó
bị hạn chế ở một tỷ lệ nhất định. Do đó không thể thiếu vốn trung và dài hạn trong
việc tài trợ cho nhu cầu tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng, đặc biệt là đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án dài hạn. Hơn nữa, trong quá
tình hoạt động, nhu cầu mở rộng mạng lưới liên doanh, liên kết là điều tất yếu xảy
ra. Vì vậy huy động vốn trung và dài hạn qua chủ sở hữu sẽ tạo ra nguồn vốn đáp
ứng tốt nhất cho vấn đề này.
- Góp phần làm tăng khả năng thanh khoản trong thanh toán cho ngân hàng.
Để đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của khách hàng thì về nguyên tắc
NHTM phải có nguồn vốn trung và dài hạn tương ứng để tài trợ, tạo nên sự phù
hợp về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản. Song, cùng với sự phát triển của hệ thống
tài chính, sự phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản không còn là vấn đề duy nhất
nhằm tạo ta thanh khoản cho NHTM. Thay vào đó, NHTM có thể thực hiện
chuyển hoán kỳ hạn của nguồn- dùng nguồn ngắn để cho vay và đầu tư trung và
dài hạn, nhằm gia tăng lợi nhuận mà vẫn đảm bảo tính thanh khoản. Tuy nhiên việc
chuyển hoá kỳ hạn phụ thuộc nhiều vào môi trường kinh doanh cũng như tiềm lực
của NHTM. Do đó về lâu dài thì có một nguồn vốn trung và dài hạn hợp lý sẽ làm
tăng khả năng an toàn thanh toán khi có một dòng tiền gửi bị rút ra.
- Ngoài ra, ở một số quốc gia, NHTM huy động vốn trung và dài hạn mang
tính chất như thực hiện nhiệm vụ cho Chính phủ giao cho trong việc đáp ứng nhu
cầu vốn tài trợ cho các chương trình kinh tế, các dự án trọng điểm, then chốt của
quốc gia. Bên cạnh đó, bằng nghiệp vụ nhận làm Ngân hàng đại lý, nhận tài trợ uỷ
thác đầu tư, NHTM còn được hưởng phí hay hoa hồng để tăng thêm thu nhập.
Tóm lại, huy động vốn trung và dài hạn qua hệ thống NHTM có vai trò rất
quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế cũng như đảm bảo hoạt
động kinh doanh của bản thân ngân hàng. Nó đóng vai trò là một kênh huy động
vốn hữu hiệu, khơi dậy mọi nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế cũng như góp
phần thu hút vốn nước ngoài để tập trung phục vụ cho đầu tư phát triển, tạo tiền đề
cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status