Một số giải pháp nhằm mở rộng huy động vốn trung và dài hạn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Pdf 29

Lời mở đầu
Vốn là một trong những nhân tố quyết định tới sự thành công hay thất bại
của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, đặc biệt là vốn trung và dài
hạn.Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu t : Trong giai đoạn từ năm 2001-2005,
để đạt đợc tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân từ 6%-7%/năm thì đòi hỏi lợng vốn
đầu t toàn xã hội khoảng 50-60 tỷ USD, trong đó vốn trung và dài hạn chiếm
khoảng 40%-50% vốn đầu t.
Trớc tình hình đó, công tác huy động vốn trung và dài hạn là một vấn đề rất
cần thiết. Trong khi Thị trờng chứng khoán Việt Nam cha hoàn thiện thì hệ thống
Ngân hàng thơng mại ( NHTM) Việt Nam vẫn giữ vai trò là một kênh huy động
vốn trung và dài hạn đặc biệt quan trọng. Là doanh nghiệp Nhà nớc hạng đặc biệt
Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam đã đạt đợc một số thành công đáng khích
lệ trong công tác huy động vốn trung và dài hạn trong giai đoạn từ năm 1998 -
2000. Qua đó đã góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế đồng thời
giữ vững vai trò là Ngân hàng chủ đạo trong lĩnh vực đầu t và phát triển. Song kết
quả đạt đợc vẫn còn rất khiêm tốn so với nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH,HĐH
đất nớc trong thời gian tới. Hơn nữa, để Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam
trở thành một Tập đoàn Tài chính- Tín dụng vững mạnh và hội nhập quốc tế trong
tơng lai thì việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để mở rộng huy động vốn trung
và dài hạn tại Ngân hàng trong thời gian tới là rất cần thiết.
Vì các lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài Một số giải pháp nhằm mở
rộng huy động vốn trung và dài hạn tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt
Nam .
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các nghiệp vụ huy động vốn trung và dài hạn
của NHTM trong nền kinh tế thị trờng; nghiên cứu thực trạng huy động vốn trung
và dài hạn tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam ( 1998-2000). Qua đó đa ra
các giải pháp và kiến nghị.
Bố cục: Ngoài lời nói đầu và kết luận, chuyên để gồm 3 chơng:
1
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn trung và dài hạn tại
NHTM.

Việt Nam, theo Luật các Tổ chức Tín dụng, nhà lập pháp định nghĩa rằng Hoạt
động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch vụ thanh toán.
1.2- Đặc điểm của hoạt động NHTM
Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể đợc nhận dạng
thông qua một số đặc điểm sau:
3
* Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời
( bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng). Trong
đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ đợc biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dới các
hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục
tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng đợc biểu hiện thông
qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam
kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định
nhằm mục đích thụ hởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dới dạng phí hay
hoa hồng.
* Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện,
nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp
luật quy định ( vốn pháp định, phơng án kinh doanh,...) thì mới đợc phép hoạt
động trên thị trờng.
Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều
so với các loại hình kinh doanh khác và thờng có ảnh hởng sâu sắc, mang tính chất
dây truyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói nh vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng,
đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động
vốn của ngời khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ
có thể đòi tiền của ngời vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi
ro cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi ro đối với ngời gửi tiền ở
NHTM, cũng nh rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng ở nhiều
quốc gia khác nhau trên thế gới thờng đợc điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt

một NHTM cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thể huy động ở
một số nguồn chính nh : Nguồn từ chủ sở hữu, Nguồn tiền gửi, Nguồn vay mợn và
một số nguồn khác.
* Huy động từ chủ sở hữu:
Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ
sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng đợc hình thành trong quá trình kinh
doanh đợc thể hiện ở dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính ổn định cao,
NHTM không phải hoàn lại. Nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các
5
hoạt động mở rộng quy mô của các NHTM ( liên doanh, liên kết, mở rộng mạng
lới,...). Các NHTM thờng huy động nguồn này thông qua nghiệp vụ phát hành cổ
phiếu, trái phiếu đợc chuyển đổi thành cổ phiếu, nhận vốn cấp phát của Ngân sách
Nhà nớc,... Nhìn chung việc huy động dới hình thức nào là do tính chất sở hữu của
NHTM quyết định.
* Huy động từ tiền gửi:
Nguồn vốn từ chủ sở hữu thờng có tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà NHTM sử
dụng trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy phần lớn là NHTM phải huy động từ
nguồn tiền gửi. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chỉ đợc quyền sử
dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những ngời
gửi tiền. Dựa vào tính khả dụng của vốn thì NHTM có thể huy động dới các hình
thức sau:
-Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi hoàn toàn theo mục đích khả dụng.
Mục đích của khách là muốn sử dụng các tiện ích của NHTM cung ứng. NHTM
có nhiệm vụ phải chi trả bất cứ lúc nào mà khách hàng yêu cầu.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự tham thoả thuận về thời gian rút
tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Trong thời gian này ngân hàng có quyền chủ
động sử dụng tiền do khách hàng ký gửi. Nếu khách hàng muốn rút tiền trớc hạn
phải đợc sự đồng ý của ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm: Đây là một bộ phận thu thập bằng tiền của các cá nhân
tạm thời nhàn rỗi đợc gửi vào NHTM dới nhiều hình thức: Tiết kiệm không kỳ

Tuy nhhiên, nó cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro và phức tạp nhất.Rủi ro tín dụng có
thể do ý muốn chủ quan của ngân hàng nh : Xây dựng chiến lợc sai, Thẩm định hồ
sơ không chính xác, Cho vay không tuân theo nguyên tắc,... cũng có thể do
nguyên nhân khách quan nh: Hoả hoạn, lũ lụt,... Hoạt động cho vay liên quan chặt
chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu dùng đến sản xuất kinh doanh.
Do vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa
dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện tăng lợi nhuận
7
cho ngân hàng. Các hình thức cho vay chủ yếu nh: Cho vay ngắn hạn, Cho vay
trung và dài hạn, Cho vay có đảm bảo,...
* Đầu t:
Hoạt động này bao gồm đầu t chứng khoán và các hoạt động đầu t khác:
- Đầu t chứng khoán: Nghiệp vụ này mang lại cho NHTM một khoản lợi
nhuận tơng đối lớn ( sau cho vay). Trong trờng hợp cha tìm ra khách hàng đáng tin
cậy để cho vay thì đầu t chứng khoán là nơi giải quyết vốn một cách hữu hiệu nhất
cho NHTM. Tuy nhiên, nó cũng chứa nhiều rủi ro. Vì vậy NHTM cần phân tích kỹ
lỡng trớc khi lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu t.
- Ngoài ra, NHTM có thể đầu t bhằm mục đích sinh lợi nhiều hình thức khác
nh góp vốn liên doanh, đầu t vào trang thiết bị,...
2.1.3-Hoạt động môi giới trung gian
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển
theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng. Thực hiện các hoạt
động trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các NHTM những khoản thu
nhập khá quan trọng. Điều cần lu ý là các dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp NHTM phát
triển toàn diện. ở các nớc phát triển, các NHTM cạnh tranh với nhau bằng con đ-
ờng phi giá, tức là luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách
hàng. Dịch vụ Ngân hàng càng phát triển thể hiện xã hội công bằng văn minh, nền
công nghiệp càng phát triển. Lợi nhuận của NHTM không chỉ ở đầu t, cho vay,
mà gần phần nửa ở các dịch vụ, nhng lại là lĩnh vực ít rủi ro.
Nghiệp vụ trung gian của NHTM ra đa dạng và phong phú nh : Dịch vụ

quan trọng hơn là phải có chính sách huy động, quản lý và sử dụng vốn một cách
có hiệu quả. Vấn đề huy động và sử dụng vốn không còn là vấn đề mới mẻ nhng
vẫn là vấn đề mang tính chất thơì sự, đã và đang đợc các nhà kinh tế quan tâm. Bở
vì nhu cầu vốn ngày càng tăng nhanh theo kịp độ phát triển kinh tế xã hội.
9
Theo sự báo của Bộ kế hoạch đầu t, trong giai đoạn từ 2001-2005 để đạt tốc
độ tăng trởng 6-7%/năm và tổng GDP đạt khoảng 190 tỷ USD trong cả giai đoạn
thì Việt Nam cần phải huy động vốn cho đầu t phát triển khoảng 50-60 tỷ USD (
30% GDP) trong đó vốn trong nớc khoảng 60%, vốn trung và dài hạn khoảng từ
40-50% vốn đầu t. Tỷ lệ tiết kiệm nội địa phải đạt khoảng 26% GDP.
Nh vậy, nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất lớn. Vấn đề đặt ra là phải có cơ
chế, chính sách và giải pháp nhất quán, đồng bộ để khai thác và sử dụng có hiệu
quả. Hiện nay, trong điều kiện thị trờng chứng khoán ở nớc ta cha hoàn thiện thì
NHTM vẫn đóng vai trò là một kênh huy động vốn trung và dài hạn rất quan trọng
trong nền kinh tế.
3.2- Vai trò của huy động vốn trung và dài hạn qua hệ thống NHTM.
* Đối với nền kinh tế:
- Góp phần thực hiện chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Trong nền kinh
tế thị trờng, ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Kinh nghiệm các nớc công
nghiệp cho thấy, để ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát, đòi hỏi Nhà nớc phải sử
dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính và tiền tệ. Trong đó, giải pháp khá
hữu hiệu là không ngừng tăng cờng huy động vốn trong nền kinh tế, đặc biệt là
huy động vốn qua hệ thống NHTM. Thông qua nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu, trái
phiếu,... NHTM sẽ huy động đợc khá lớn lợng tiền mặt trong nền kinh tế, thu hẹp
lợng tiền mặt trong lu thông. Qua đó góp phần làm giảm áp lực tăng giá cả hàng
hoá, ổn định mặt bằng lãi suất huy động của nền kinh tế.
- Góp phần tích cực trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nớc. Thông qua nghiệp
vụ huy động vốn trung và dài hạn của NHTM mà mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã
hội đợc khơi dậy, đảm bảo phục vụ mục tiêu đầu t phát triển, tăng năng lực sản

tình hoạt động, nhu cầu mở rộng mạng lới liên doanh, liên kết là điều tất yếu xảy
ra. Vì vậy huy động vốn trung và dài hạn qua chủ sở hữu sẽ tạo ra nguồn vốn đáp
ứng tốt nhất cho vấn đề này.
11
- Góp phần làm tăng khả năng thanh khoản trong thanh toán cho ngân hàng.
Để đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của khách hàng thì về nguyên tắc
NHTM phải có nguồn vốn trung và dài hạn tơng ứng để tài trợ, tạo nên sự phù hợp
về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản. Song, cùng với sự phát triển của hệ thống tài
chính, sự phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản không còn là vấn đề duy nhất
nhằm tạo ta thanh khoản cho NHTM. Thay vào đó, NHTM có thể thực hiện
chuyển hoán kỳ hạn của nguồn- dùng nguồn ngắn để cho vay và đầu t trung và dài
hạn, nhằm gia tăng lợi nhuận mà vẫn đảm bảo tính thanh khoản. Tuy nhiên việc
chuyển hoá kỳ hạn phụ thuộc nhiều vào môi trờng kinh doanh cũng nh tiềm lực
của NHTM. Do đó về lâu dài thì có một nguồn vốn trung và dài hạn hợp lý sẽ làm
tăng khả năng an toàn thanh toán khi có một dòng tiền gửi bị rút ra.
- Ngoài ra, ở một số quốc gia, NHTM huy động vốn trung và dài hạn mang
tính chất nh thực hiện nhiệm vụ cho Chính phủ giao cho trong việc đáp ứng nhu
cầu vốn tài trợ cho các chơng trình kinh tế, các dự án trọng điểm, then chốt của
quốc gia. Bên cạnh đó, bằng nghiệp vụ nhận làm Ngân hàng đại lý, nhận tài trợ uỷ
thác đầu t, NHTM còn đợc hởng phí hay hoa hồng để tăng thêm thu nhập.
Tóm lại, huy động vốn trung và dài hạn qua hệ thống NHTM có vai trò rất
quan trọng cho sự tăng trởng và phát triển của nền kinh tế cũng nh đảm bảo hoạt
động kinh doanh của bản thân ngân hàng. Nó đóng vai trò là một kênh huy động
vốn hữu hiệu, khơi dậy mọi nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế cũng nh góp
phần thu hút vốn nớc ngoài để tập trung phục vụ cho đầu t phát triển, tạo tiền đề
cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nớc.
II- Nghiệp vụ huy động vốn trung và dài hạn của Ngân hàng Th-
ơng mại
Vốn vừa mang tính chất tiền đề vừa là vấn đề xuyên suất cho quá tình hình
thành và phát triển của NHTM. Mục tiêu tổng quát của NHTM là an toàn và sinh

của một ngân hàng, nhng lại là nguồn vốn rất quan trọng, vì nó cho thấy thực lực,
13
quy mô của ngân hàng, nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu
tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa nguồn vốn này có tính ổn
định cao, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tài trợ cho các tài sản cố định
của NHTM, tài trợ cho hoạt động liên doanh liên kết, mở rộng mạng lới, hay để
chống rủi ro,...; Qua đó nhằm hớng tới mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng.
Theo đà phát triển, nguồn vốn này sẽ đợc gia tăng về số lợng tuyệt đối thông
qua các nghiệp vụ của mỗi NHTM có thể áp dụng nh sau:
- Tăng cờng và bổ sung thêm vốn điều lệ bằng cách huy động thêm vốn từ
các cổ đông, phát hành cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu,... Các
nghiệp vụ huy động này thờng đợc các NHTM cổ phần áp dụng. Tuy nhiên, việc
phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ gây áp lực
đối với các cổ đông cũ của ngân hàng, việc tăng thêm cổ phần sẽ kéo theo sự suy
giảm tơng đối về cổ tức đối với các cổ đông.
- Đối với NHTM quốc doanh hay NHTM liên doanh thì có thể tăng thêm vốn
tự có thông qua sự cấp thêm vốn của Chính phủ hay đóng góp thêm vốn của các
bên liên doanh.
- Ngoài ra, nguồn vốn tự có của NHTM còn đợc bổ sung thêm từ kết quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc trích lập các quỹ dự trữ và một số
quỹ khác.
Bên cạnh nguồn vốn tự có, ở một số quốc gia mà cụ thể là ở Việt Nam, một
số NHTM nh: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu t
và Phát triển Việt Nam còn đợc Chính phủ cấp vốn dới hình thức quỹ đầu t phát
triển để cho vay lại theo kế hoạch Nhà nớc chỉ định. Nguồn này có tính ổn định t-
ơng đối cao, trong thời gian ngắn Nhà nớc cha yêu cầu Ngân hàng trả gốc và lãi
cho khoản tiền này mà Ngân hàng chỉ phải trích lập quỹ để bảo toàn nguồn vốn
theo quy định. Uy tín và hiệu quả trong kinh doanh của Ngân hàng chính là cơ sở
để thu hút nguồn vốn ổn định này.
Tóm lại, nguồn vốn huy động từ chủ sở hữu là nguồn vốn trung và dài hạn

thoả thuận về kỳ hạn của khoản tiền đó.
15
Nh vậy về nguyên tắc, ngời gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã
thoả thuận. Tuy nhiên trên thực tế do quá trình cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động
ngân hàng ngày càng gay gắt và để thu hút nguồn này một cách tốt nhất, các
NHTM thờng cho phép khách hàng đợc rút tiền ra trớc hạn nhng không đợc hởng
lãi hoặc hởng lãi ở mức thấp hơn. Hầu hết các NHTM ở Việt Nam, nếu khách
hàng rút tiền trớc thời hạn đã thoả thuận thì chỉ đợc hởng theo lãi suất loại tiền gửi
không kỳ hạn.
Nguồn vốn này thờg có tính ổn định cao hơn tiền gửi ngắn hạn và tiền gửi
thanh toán. Do đó NHTM có thể sử dụng nguồn này một cách chủ động hơn trong
hoạt động kinh doanh, góp phần đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của
nền kinh tế. Vì vậy lãi suất huy động nguồn này cũng cao hơn các hình thức huy
động ngắn hạn khác. Bên cạnh đó, kỳ hạn của nguồn này cũng rất phong phú, có
loại tiền gửi 13 tháng, 18 tháng, 25 tháng,... từng bớc đáp ứng mọi nhu cầu gửi
tiền của khách hàng.
2.2- Tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn của khách hàng
Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. ở các
nớc công nghiệp phát triển, trong số các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi
tiết kiệm đứng vị thứ hai cả về mặt số lợng và tầm quan trọng.
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ( trong đó có Việt Nam) ngời ta
cho rằng vận động nhân dân gửi tiền tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm trung và dài
hạn là một trong các nghiệp vụ quan trọng của NHTM. Bởi lẽ nếu huy động đợc
nguồn vốn nhàn rỗi tiềm tàng trong các tầng lớp dân c sẽ có tiền cấp phát cho phát
triển công nghiệp, nông nghiệp góp phần quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội.
Các tầng lớp dân c gửi tiền tiết kiệm trung và dài hạn vào NHTM với mục
đích chủ yếu là tiết kiệm và sinh lời. Do đó, nguồn vốn này có tính ổn định khá
cao.
Để tạo thuận lợi cho khách hàng cũng nh ngân hàng, thủ tục gửi tiền cũng rất

Phát hành giấy tờ có giá với kỳ hạn dài là nghiệp vụ huy động vốn trung và
dài hạn của NHTM dới hình thức phát hành các chứng từ nh: Chứng chỉ tiền gửi
( kỳ phiếu), trái phiếu,...
Trong nghiệp vụ này, NHTM chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội
bằng việc phát hành các giấy tờ có giá trung và dài hạn nhằm bổ sung nguồn vốn
kinh doanh. Thông thờng việc phát hành đợc thực hiện sau khi đã tiến hành nên
cân đối toàn hệ thống của NHTM giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Các NHTM nhận thấy rằng, ngời gửi tiền rất nhạy cảm với những thay đổi
trong lãi suất huy động của ngân hàng. Vì vậy khi cần vốn, một NHTM có thể
phát hành giấy tờ có giá với một mức lãi suất hấp dẫn hơn các loại nghiệp vụ huy
động thông thờng khác nhằm huy động đợc kịp thời lợng vốn cần thiết. Mức lãi đ-
ợc trả cho các công cụ này sẽ đợc thoả thuận trực tiếp giữa NHTM và khách hàng
hoặc đợc ấn định ở một mức độ nhất định mà ngời gửi tiền có thể chấp nhận đợc,
đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng.
Thông thờng, phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn theo sáng
kiến riêng của từng NHTM với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu khách hàng và huy động đợc vốn cho ngân hàng. Để tìm hiểu kỹ hơn
chúng ta sẽ xem xét hai công cụ cơ bản là: Kỳ phiếu và Trái phiếu ngân hàng.
* Kỳ phiếu trung và dài hạn:
- ở các nớc phát triển nh ở Mĩ, chứng chỉ tiền gửi hay còn gọi là CD là một
công cụ thị trờng tiền tệ do ngân hàng phát hành. Một NHTM sẽ phát hành một
CD để tài trợ cho những cam kết nợ ngắn hạn hoặc nguồn vốn của mình. CD là
một chứng nhận về một khoản tiền gửi tại NHTM theo một thời hạn và lãi suất
nhất định. Ngời sở hữu CD có thể bán chứng chỉ này trên thị trờng thứ cấp hoặc đ-
ợc trả lại chứng chỉ tại thời điểm CD đến hạn và nhận lại toàn bộ số tiền gốc chứng
chỉ với lãi.
Một CD thờng phát hành đa dạng ghi sổ với mệnh giá đa dạng. Thời hạn của
các CD cũng rất phong phú: Thờng từ 7 ngày cho đến 5 hoặc 7 năm. Nhìn chung
18
không có quy định nào hạn chế về thời hạn của một CD đối với Ngân hàng phát

các NHTM quốc doanh áp dụng rất linh hoạt : Trả lãi trớc, Trả lãi sau hay Trả lãi
định kỳ sau các khoảng thời gian bằng nhau. Mức lãi đợc xác định trên nguyên tắc
đảm bảo kinh doanh, thời hạn càng dài, lãi suất càng cao.
Kỳ phiếu có mục đích thờng có hai loại chứng chỉ là loại có ghi danh và loại
không ghi danh. Ngời sở hữu loại vô danh có thể chuyển nhợng tự do, còn ngời sở
hữu loại có ghi danh mà muốn chuyển nhợng thì phải thông qua Ngân hàng.
Nhu cầu phát hành kỳ phiếu có mục đích thờng phát sinh khi ngân hàng
muốn có nguồn vốn đủ điều kiện để tài trợ các dự án có quy mô lớn, trọng điểm
nhằm phục vụ kịp thời cho đầu t phát triển của đất nớc hoặc vì mục đích kinh
doanh của ngân hàng nh: Đầu t chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà
các nguồn huy động khác cha đáp ứng đợc. Khi đó ngân hàng có thể xin phép phát
hành bằng từ trình gửi NHNN. Trong tờ trình Xin phép phát hành kỳ phiếu phải
trình bày đầy đủ các nội dung sau:
+ Lý do xin phát hành
+ Kế hoạch sử dụng và nhu cầu sử dụng vốn
+ Các loại kỳ phiếu xin phát hành ( về kỳ hạn, phơng thức trả lãi)
+ Thời gian phát hành
+ Tỷ lệ lãi cho từng loại kỳ phiếu
+ Tính toán hiệu quả kinh tế cho từng loại kỳ phiếu.
Phát hành kỳ phiếu có mục đích là một nghiệp vụ huy động vốn có tính hiệu
quả cao, hấp dẫn ngời mua và NHTM luôn chủ động trong việc bổ sung vốn trung
và dài hạn khi cần thiết.
* Trái phiếu trung và dài hạn:
- ở các nớc phát triển, trái phiếu ngân hàng trung và dài hạn là một loại
công cụ nợ do NHTM phát hành nhằm tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh cuả
20
ngân hàng. Thông thờng việc phát hành trái phiếu phải đợc sự cho phép của Ngân
hàng trung ơng. Kỳ hạn của trái phiếu rất phong phú: 7 năm, 10 năm, 20 năm,...
Chủng loại cũng rất đa dạng nh: Trái phiếu có lãi suất điều chỉnh, trái phiếu có lãi
suất thả nổi, trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có thể chuyển đổi sang cổ

của đơn vị đợc quản lý có hiệu quả
+ Có phơng án kinh doanh cụ thể
+ Cần phải có vốn điều lệ đủ lớn theo pháp định
+ Đợc phép bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc
Sau khi đã hội đủ các điều kiện cần thiết, NHTM phải làm thủ tục xin phép
NHNN về việc phát hành trái phiéu theo quy định của pháp luật.
Nguồn vốn huy động đợc từ nghiệp vụ phát hành trái phiếu không chịu sự
điều chỉnh của quy định dự trữ bắt buộc. Hơn nữa, nó là nguồn có tính ổn định
cao, đáng đợc quan tâm nếu muốn mở rộng nguồn vốn huy động trung và dài hạn
tại một NHTM. Bằng cộng cụ này, các NHTM có thể chủ động tạo đợc một khối l-
ợng vốn nh mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách
đầu t cho các công trình lớn của quốc gia.
3-2 - Vay trung và dài hạn trực tiếp:
Khi cần vốn trung và dài hạn mà các nguồn vốn khác cha đáp ứng thì các
NHTM có thể đi vay trực tiếp từ các tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng nớc ngoài,
từ công ty mẹ,... Nhng dù vay ở nguồn nào thì nhìn chung chi phí cho các khoản
vay trực tiếp thờng cao hơn chi phí phải trả cho các hình thức huy động vốn trung
và dài hạn khác.
ở Việt Nam, nguồn vay vốn trung và dài hạn của NHTM cũng khá phong
phú. Một NHTM có thể vay ở một số nguồn chính nh: Vay từ NHNN và Bộ Tài
chính (BTC), vay từ các NHTM khác và tổ chức tín dụng, từ nớc ngoài.
* Vay từ NHNN và BTC:
22
- Vay từ NHNN: Trong quan hệ giữa NHTM và NHNN thì NHNN có t cách
là Ngân hàng củ các Ngân hàng, là Ngời cho vay cuối cùng đối với các NHTM.
Thông thờng các NHTM chỉ đơch vay NHNN để bù đắp những thiếu hụt ngắn
hạn, tạm thời dới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn. Tuy nhiên, có
những trờng hợp đặc biệt, NHNN vẫn cho NHTM vay để cho vay lại nền kinh tế
theo kế hoạch của Nhà nớc với một mức lãi suất u đãi. Nhng khoản vay này thờng
bị hạn chế số lợng, đặc biệt là khi chính sách tiền tệ quốc gia đang thắt chặt.

tín dụng không quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó. Nhng hạn mức trên phải trừ đi
số nợ trớc cha trả đến thời điểm đến thời điểm vay mới. Nh vậy muốn tận dụng
hạn mức tín dụng của nớc ngoài, các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâu
hoàn trả.
Các khoản vay từ Ngân hàng nớc ngoài của các NHTM Việt Nam đều do
NHNN trực tiếp kiểm soát và quản lý. Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải quan
NHNN xét duyệt. Các NHTM đợc quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nớc
ngoài, qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh
ngân hàng.
4- Nhận uỷ thác tài trợ phát triển:
Đây là nghiệp vụ mang tính chất trung gian của NHTM. Trong đó, NHTM
nhận làm Ngân hàng đại lý, nhận uỷ thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nớc để cho vay trung và dài hạn để thực hiện những chơng trình và dự án có mục
tiêu định trớc trong sản xuất kinh doanh, cải tạo môi trờng. Thông qua nghiệp vụ
này Ngân hàng sẽ đợc hởng phí hoa hồng và NHTM không có trách nhiệm thẩm
định những đối tợng khách hàng này.
Nguồn vốn này rất đa dạng, phong phú với đặc điểm là lãi suất rất thấp và
thời gian trả nợ thờng dài ( đối với vốn ODA từ 30-40 năm). Đây là nguồn vốn mà
qua đó NHTM có thể đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn trong nền kinh tế.
Trong đó nguồn vốn ODA là quan trọng nhất, thông thờng vốn tài trợ gồm ba
khoản: Một khoản tài trợ không hoàn lại, một khoản cho vay với lãi suất thấp và
24
một thời gian ân hạn ( Thời gian từ lúc vay đến lúc bắt đầu trả nợ lãi suất coi nh
bằng 0), NHTM nhận làm đại lý sẽ trộn ba khoản trên để có một lãi suất hoà đồng
cộng với phí của Ngân hàng để cho vay lại nền kinh tế.
Nh vậy, nguồn vốn này khá hấp dẫn vừa có chi phí thấp, lại vừa không phải
tìm kiếm đầu ra. Vì vậy Ngân hàng cần có kế hoạch huy động và tăng cờng nguồn
vốn này, tích cực chủ động tìm kiếm nguồn tài trợ phát triển, tránh tính trạng phụ
thuộc quá nhiều vào sự chỉ định của Chính phủ và Bộ Tài chính nh hiện nay.
Tóm lại, để đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status