Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Vốn là một trong những nhân tố quyết định tới sự thành công hay thất bại
của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, đặc biệt là vốn trung và dài
hạn.Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu t : Trong giai đoạn từ năm 2001-2005,
để đạt đợc tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân từ 6%-7%/năm thì đòi hỏi lợng vốn
đầu t toàn xã hội khoảng 50-60 tỷ USD, trong đó vốn trung và dài hạn chiếm
khoảng 40%-50% vốn đầu t.
Trớc tình hình đó, công tác huy động vốn trung và dài hạn là một vấn đề rất
cần thiết. Trong khi Thị trờng chứng khoán Việt Nam cha hoàn thiện thì hệ thống
Ngân hàng thơng mại ( NHTM) Việt Nam vẫn giữ vai trò là một kênh huy động
vốn trung và dài hạn đặc biệt quan trọng. Là doanh nghiệp Nhà nớc hạng đặc biệt
Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam đã đạt đợc một số thành công đáng khích
lệ trong công tác huy động vốn trung và dài hạn trong giai đoạn từ năm 1998 -
2000. Qua đó đã góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế đồng thời
giữ vững vai trò là Ngân hàng chủ đạo trong lĩnh vực đầu t và phát triển. Song kết
quả đạt đợc vẫn còn rất khiêm tốn so với nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH,HĐH
đất nớc trong thời gian tới. Hơn nữa, để Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam
trở thành một Tập đoàn Tài chính- Tín dụng vững mạnh và hội nhập quốc tế trong
tơng lai thì việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để mở rộng huy động vốn trung
và dài hạn tại Ngân hàng trong thời gian tới là rất cần thiết.
Vì các lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài Một số giải pháp nhằm mở
rộng huy động vốn trung và dài hạn tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt
Nam .
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các nghiệp vụ huy động vốn trung và dài hạn
của NHTM trong nền kinh tế thị trờng; nghiên cứu thực trạng huy động vốn trung
và dài hạn tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam ( 1998-2000). Qua đó đa ra
các giải pháp và kiến nghị.
Bố cục: Ngoài lời nói đầu và kết luận, chuyên để gồm 3 chơng:
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn trung và dài hạn tại
NHTM.
đó, vào nửa cuối thế kỷ 16 ở Châu Âu đã ra đời một số Ngân hàng đầu tiên mà tiền
thân là những tổ chức cho vay nặng lãi chuyển hoá thành. Lúc này hoạt động của
Ngân hàng mới chỉ là nhận giữ hộ tiền và cho vay.
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của NHTM
cững từng bớc đợc củng cố và hoàn thiện, chuyển hoá dần theo hớng đa năng. ở
Việt Nam, theo Luật các Tổ chức Tín dụng, nhà lập pháp định nghĩa rằng Hoạt
động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch vụ thanh toán.
1.2- Đặc điểm của hoạt động NHTM
Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể đợc nhận dạng
thông qua một số đặc điểm sau:
* Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời
( bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng). Trong
đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ đợc biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dới các
hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục
tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng đợc biểu hiện thông
qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam
kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định
nhằm mục đích thụ hởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dới dạng phí hay
hoa hồng.
* Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện,
nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
luật quy định ( vốn pháp định, phơng án kinh doanh,...) thì mới đợc phép hoạt
động trên thị trờng.
Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều
so với các loại hình kinh doanh khác và thờng có ảnh hởng sâu sắc, mang tính chất
dây truyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói nh vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng,
2.1- Các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản:
Bảng tổng kết tài sản của NHTM phản ánh ba lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là:
Huy động vốn, Sử dụng vốn và Nghiệp vụ môi giới trung gian.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.1.1- Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ khởi đầu, tạo điều kiện cho mọi hoạt động của NHTM. Khi
một NHTM cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thể huy động ở
một số nguồn chính nh : Nguồn từ chủ sở hữu, Nguồn tiền gửi, Nguồn vay mợn và
một số nguồn khác.
* Huy động từ chủ sở hữu:
Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ
sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng đợc hình thành trong quá trình kinh
doanh đợc thể hiện ở dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính ổn định cao,
NHTM không phải hoàn lại. Nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các
hoạt động mở rộng quy mô của các NHTM ( liên doanh, liên kết, mở rộng mạng
lới,...). Các NHTM thờng huy động nguồn này thông qua nghiệp vụ phát hành cổ
phiếu, trái phiếu đợc chuyển đổi thành cổ phiếu, nhận vốn cấp phát của Ngân sách
Nhà nớc,... Nhìn chung việc huy động dới hình thức nào là do tính chất sở hữu của
NHTM quyết định.
* Huy động từ tiền gửi:
Nguồn vốn từ chủ sở hữu thờng có tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà NHTM sử
dụng trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy phần lớn là NHTM phải huy động từ
nguồn tiền gửi. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chỉ đợc quyền sử
dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những ngời
gửi tiền. Dựa vào tính khả dụng của vốn thì NHTM có thể huy động dới các hình
thức sau:
-Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi hoàn toàn theo mục đích khả dụng.
Mục đích của khách là muốn sử dụng các tiện ích của NHTM cung ứng. NHTM
có nhiệm vụ phải chi trả bất cứ lúc nào mà khách hàng yêu cầu.
vụ của các khoản chi trả tiền mặt.
Tiền dự trữ bao gồm: Dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng d. Chúng đợc hình
thành bởi các nguồn: Tiền mặt tại két của NHTM, Tiền gửi tại Ngân hàng trung -
ơng, Tiền gửi ở các tổ chức tín dụng, Tiền đang trong quá trình thu.
* Cho vay:
Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Nguồn thu từ
hoạt động cho vay thờng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng.
Tuy nhhiên, nó cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro và phức tạp nhất.Rủi ro tín dụng có
thể do ý muốn chủ quan của ngân hàng nh : Xây dựng chiến lợc sai, Thẩm định hồ
sơ không chính xác, Cho vay không tuân theo nguyên tắc,... cũng có thể do
nguyên nhân khách quan nh: Hoả hoạn, lũ lụt,... Hoạt động cho vay liên quan chặt
chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu dùng đến sản xuất kinh doanh.
Do vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa
dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện tăng lợi nhuận
cho ngân hàng. Các hình thức cho vay chủ yếu nh: Cho vay ngắn hạn, Cho vay
trung và dài hạn, Cho vay có đảm bảo,...
* Đầu t:
Hoạt động này bao gồm đầu t chứng khoán và các hoạt động đầu t khác:
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Đầu t chứng khoán: Nghiệp vụ này mang lại cho NHTM một khoản lợi
nhuận tơng đối lớn ( sau cho vay). Trong trờng hợp cha tìm ra khách hàng đáng tin
cậy để cho vay thì đầu t chứng khoán là nơi giải quyết vốn một cách hữu hiệu nhất
cho NHTM. Tuy nhiên, nó cũng chứa nhiều rủi ro. Vì vậy NHTM cần phân tích kỹ
lỡng trớc khi lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu t.
- Ngoài ra, NHTM có thể đầu t bhằm mục đích sinh lợi nhiều hình thức khác
nh góp vốn liên doanh, đầu t vào trang thiết bị,...
2.1.3-Hoạt động môi giới trung gian
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển
theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng. Thực hiện các hoạt
một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
3- Sự cần thiết của công tác huy động vốn trung và dài hạn qua NHTM ở
Việt Nam hiện nay.
3.1- Nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ( 2001-2005)
ở Việt Nam cũng nh tất cả các quốc gia trên thế giới, mục tiêu hàng đầu là
thông qua quá tình CNH, HĐH đất nớc để phát triển kinh tế - xã hội. Để đạt đợc
mục tiêu đó thì điều quan trọng nhất là phải có một nguồn vốn đủ mạnh cho đầu t
phát triển, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào lợng vốn mà
quan trọng hơn là phải có chính sách huy động, quản lý và sử dụng vốn một cách
có hiệu quả. Vấn đề huy động và sử dụng vốn không còn là vấn đề mới mẻ nhng
vẫn là vấn đề mang tính chất thơì sự, đã và đang đợc các nhà kinh tế quan tâm. Bở
vì nhu cầu vốn ngày càng tăng nhanh theo kịp độ phát triển kinh tế xã hội.
Theo sự báo của Bộ kế hoạch đầu t, trong giai đoạn từ 2001-2005 để đạt tốc
độ tăng trởng 6-7%/năm và tổng GDP đạt khoảng 190 tỷ USD trong cả giai đoạn
thì Việt Nam cần phải huy động vốn cho đầu t phát triển khoảng 50-60 tỷ USD (
30% GDP) trong đó vốn trong nớc khoảng 60%, vốn trung và dài hạn khoảng từ
40-50% vốn đầu t. Tỷ lệ tiết kiệm nội địa phải đạt khoảng 26% GDP.
Nh vậy, nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất lớn. Vấn đề đặt ra là phải có cơ
chế, chính sách và giải pháp nhất quán, đồng bộ để khai thác và sử dụng có hiệu
quả. Hiện nay, trong điều kiện thị trờng chứng khoán ở nớc ta cha hoàn thiện thì
NHTM vẫn đóng vai trò là một kênh huy động vốn trung và dài hạn rất quan trọng
trong nền kinh tế.
3.2- Vai trò của huy động vốn trung và dài hạn qua hệ thống NHTM.
* Đối với nền kinh tế:
- Góp phần thực hiện chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Trong nền kinh
tế thị trờng, ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Kinh nghiệm các nớc công
nghiệp cho thấy, để ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát, đòi hỏi Nhà nớc phải sử
dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính và tiền tệ. Trong đó, giải pháp khá
vốn trung và dài hạn cũng ngày càng đợc chú trọng và không ngừng đổi mới nhằm
phục vụ tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng với đầy đủ các tiện ích cần thiết và
tính thanh khoản cao nh : Kỳ phiếu có mục đích, Trái phiếu, Tiền gửi tiết kiệm có
thởng,...
- Đảm bảo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặc dù có thể chuyển hoán
nguồn vốn ngắn hạn để cho vay và đầu t trung và dài hạn nhng thông thờng nó bị
hạn chế ở một tỷ lệ nhất định. Do đó không thể thiếu vốn trung và dài hạn trong
việc tài trợ cho nhu cầu tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng, đặc biệt là đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án dài hạn. Hơn nữa, trong quá
tình hoạt động, nhu cầu mở rộng mạng lới liên doanh, liên kết là điều tất yếu xảy
ra. Vì vậy huy động vốn trung và dài hạn qua chủ sở hữu sẽ tạo ra nguồn vốn đáp
ứng tốt nhất cho vấn đề này.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Góp phần làm tăng khả năng thanh khoản trong thanh toán cho ngân hàng.
Để đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của khách hàng thì về nguyên tắc
NHTM phải có nguồn vốn trung và dài hạn tơng ứng để tài trợ, tạo nên sự phù hợp
về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản. Song, cùng với sự phát triển của hệ thống tài
chính, sự phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản không còn là vấn đề duy nhất
nhằm tạo ta thanh khoản cho NHTM. Thay vào đó, NHTM có thể thực hiện
chuyển hoán kỳ hạn của nguồn- dùng nguồn ngắn để cho vay và đầu t trung và dài
hạn, nhằm gia tăng lợi nhuận mà vẫn đảm bảo tính thanh khoản. Tuy nhiên việc
chuyển hoá kỳ hạn phụ thuộc nhiều vào môi trờng kinh doanh cũng nh tiềm lực
của NHTM. Do đó về lâu dài thì có một nguồn vốn trung và dài hạn hợp lý sẽ làm
tăng khả năng an toàn thanh toán khi có một dòng tiền gửi bị rút ra.
- Ngoài ra, ở một số quốc gia, NHTM huy động vốn trung và dài hạn mang
tính chất nh thực hiện nhiệm vụ cho Chính phủ giao cho trong việc đáp ứng nhu
cầu vốn tài trợ cho các chơng trình kinh tế, các dự án trọng điểm, then chốt của
quốc gia. Bên cạnh đó, bằng nghiệp vụ nhận làm Ngân hàng đại lý, nhận tài trợ uỷ
thác đầu t, NHTM còn đợc hởng phí hay hoa hồng để tăng thêm thu nhập.
đầu; Nếu là NHTM cổ phần, vốn pháp định do sự đóng góp của cổ đông dới hình
thức phát hành cổ phiếu; Nếu là NHTM liên doanh, vốn pháp định là vốn đóng
góp cổ phần của ngân hàng tham gia liên doanh.
Vốn điều lệ là vốn đợc ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ ít
nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHNN công bố vào đầu mỗi năm tài chính.
Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và
phạm vi hoạt động của ngân hàng đó ( vốn điều lệ bao hàm cả vốn pháp định).
Ngoài ra vốn tự có củaNHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng ( đây là các
quỹ buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng) nh:
Quỹ bảo toàn vốn, Quỹ phúc lợi, Quỹ khấu hao tài sản cố định,...
Nguồn vốn tự có của NHTM thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của một ngân hàng, nhng lại là nguồn vốn rất quan trọng, vì nó cho thấy thực lực,
quy mô của ngân hàng, nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu
tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa nguồn vốn này có tính ổn
định cao, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tài trợ cho các tài sản cố định
của NHTM, tài trợ cho hoạt động liên doanh liên kết, mở rộng mạng lới, hay để
chống rủi ro,...; Qua đó nhằm hớng tới mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng.
Theo đà phát triển, nguồn vốn này sẽ đợc gia tăng về số lợng tuyệt đối thông
qua các nghiệp vụ của mỗi NHTM có thể áp dụng nh sau:
- Tăng cờng và bổ sung thêm vốn điều lệ bằng cách huy động thêm vốn từ
các cổ đông, phát hành cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu,... Các
nghiệp vụ huy động này thờng đợc các NHTM cổ phần áp dụng. Tuy nhiên, việc
phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ gây áp lực
đối với các cổ đông cũ của ngân hàng, việc tăng thêm cổ phần sẽ kéo theo sự suy
giảm tơng đối về cổ tức đối với các cổ đông.
- Đối với NHTM quốc doanh hay NHTM liên doanh thì có thể tăng thêm vốn
tự có thông qua sự cấp thêm vốn của Chính phủ hay đóng góp thêm vốn của các
bên liên doanh.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đợc các đơn vị này gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. Khoản vốn này tạm
thời đợc giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhng cha có nhu cầu sử
dụng trong ngắn hạn.
Đây là nguồn chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn trung và dài
hạn cũng nh là trong cơ cấu vốn nói chung của NHTM. Bởi lẽ trong quá trình sản
xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp ít khi có một lợng vốn nhàn rỗi trong
một thời gian dài và nếu có chỉ là một lợng nhỏ mà thôi. Các tổ chức kinh tế- xã
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hội có vử khả quan hơn về mặt kỳ hạn nhng lợng vốn họ có lại không đủ lớn. Tuy
vậy nguồn vốn này vẫn không thể thiếu trong cơ cấu tạo nên nguồn vốn trung và
dài hạn của một ngân hàng. Cũng nh tiền gửi có kỳ hạn nói chung, các doanh
nghiệp và các tổ chức kinh tế- xã hội khi gửi tiền vào ngân hàng cũng phải có sự
thoả thuận về kỳ hạn của khoản tiền đó.
Nh vậy về nguyên tắc, ngời gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã
thoả thuận. Tuy nhiên trên thực tế do quá trình cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động
ngân hàng ngày càng gay gắt và để thu hút nguồn này một cách tốt nhất, các
NHTM thờng cho phép khách hàng đợc rút tiền ra trớc hạn nhng không đợc hởng
lãi hoặc hởng lãi ở mức thấp hơn. Hầu hết các NHTM ở Việt Nam, nếu khách
hàng rút tiền trớc thời hạn đã thoả thuận thì chỉ đợc hởng theo lãi suất loại tiền gửi
không kỳ hạn.
Nguồn vốn này thờg có tính ổn định cao hơn tiền gửi ngắn hạn và tiền gửi
thanh toán. Do đó NHTM có thể sử dụng nguồn này một cách chủ động hơn trong
hoạt động kinh doanh, góp phần đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của
nền kinh tế. Vì vậy lãi suất huy động nguồn này cũng cao hơn các hình thức huy
động ngắn hạn khác. Bên cạnh đó, kỳ hạn của nguồn này cũng rất phong phú, có
loại tiền gửi 13 tháng, 18 tháng, 25 tháng,... từng bớc đáp ứng mọi nhu cầu gửi
tiền của khách hàng.
2.2- Tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn của khách hàng
Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. ở các
nhập của khách hàng. Trong đó thông số đầu tiên đợc coi là quan trọng nhất. Vì
thế việc đa ra chiến lợc lãi suất nh thế nào, hình thức huy động ra sao để thu hút đ-
ợc vốn nhiều và kinh doanh có lãi là điều quan trọng hàng đầu, phản ánh khả năng
kĩ trị của các NHTM.
3- Vay trung và dài hạn:
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng khi d vốn, đủ vốn, thiếu vốn là lẽ tất
nhiên, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Khi một NHTM thiếu vốn trung và dài hạn
để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng hay cho mục đích đầu t phát triển mà các
nguồn khác cha đủ đáp ứng thì NHTM có thể đi vay. Nghiệp vụ vay vốn trung và
dài hạn của NHTM có thể chia thành hai loại chính: Vay trung và dài hạn thông
qua phát hành giấy tờ có giá, Vay trung và dài hạn trực tiếp.
3.1- Vay trung và dài hạn thông qua phát hành giấy tờ có giá:
Phát hành giấy tờ có giá với kỳ hạn dài là nghiệp vụ huy động vốn trung và
dài hạn của NHTM dới hình thức phát hành các chứng từ nh: Chứng chỉ tiền gửi
( kỳ phiếu), trái phiếu,...
Trong nghiệp vụ này, NHTM chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội
bằng việc phát hành các giấy tờ có giá trung và dài hạn nhằm bổ sung nguồn vốn
kinh doanh. Thông thờng việc phát hành đợc thực hiện sau khi đã tiến hành nên
cân đối toàn hệ thống của NHTM giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Các NHTM nhận thấy rằng, ngời gửi tiền rất nhạy cảm với những thay đổi
trong lãi suất huy động của ngân hàng. Vì vậy khi cần vốn, một NHTM có thể
phát hành giấy tờ có giá với một mức lãi suất hấp dẫn hơn các loại nghiệp vụ huy
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động thông thờng khác nhằm huy động đợc kịp thời lợng vốn cần thiết. Mức lãi đ-
ợc trả cho các công cụ này sẽ đợc thoả thuận trực tiếp giữa NHTM và khách hàng
hoặc đợc ấn định ở một mức độ nhất định mà ngời gửi tiền có thể chấp nhận đợc,
đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng.
Thông thờng, phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn theo sáng
kiến riêng của từng NHTM với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng nhằm thoả mãn tối
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- ở Việt Nam, các NHTM phát hành kỳ phiếu trung và dài hạn ( Kỳ phiếu có
mục đích) dựa trên quyết định số 220- NH/QĐ ngày 27/11/1991 của Thống đốc
NHNN về việc cho phép NHTM quốc doanh phát hành kỳ phiếu Ngân hàng có
mục đích. nh vậy chỉ có NHTM quốc doanh mới đợc phép phát hành loại chứng
chỉ tiền gửi này.
Theo văn bản trên, kỳ phiếu có mục đích là một loại giấy nhận nợ do NHTM
quốc doanh phát hành nhằm huy động vốn trong xã hội một cách linh hoạt để tài
trợ cho một mục đích cụ thể nào đó. Căn cứ vào mục đích, nhu cầu cụ thể mà ngân
hàng có thể phát hành kỳ phiếu bằng VNĐ hay USD.
Kỳ phiếu có mục đích thờng đợc phát hành với kỳ hạn trên 1 năm. vốn huy
động đợc từ nghiệp vụ này không phải là đối tợng để tính dự trữ bắt buộc. Lãi suất
kỳ phiếu này thờng hấp dẫn hơn kỳ phiếu ngắn hạn, tuỳ từng mục đích và thời kỳ
huy động mà Ngân hàng ấn định mức lãi suất cụ thể. Phơng thức trả lãi cũng đợc
các NHTM quốc doanh áp dụng rất linh hoạt : Trả lãi trớc, Trả lãi sau hay Trả lãi
định kỳ sau các khoảng thời gian bằng nhau. Mức lãi đợc xác định trên nguyên tắc
đảm bảo kinh doanh, thời hạn càng dài, lãi suất càng cao.
Kỳ phiếu có mục đích thờng có hai loại chứng chỉ là loại có ghi danh và loại
không ghi danh. Ngời sở hữu loại vô danh có thể chuyển nhợng tự do, còn ngời sở
hữu loại có ghi danh mà muốn chuyển nhợng thì phải thông qua Ngân hàng.
Nhu cầu phát hành kỳ phiếu có mục đích thờng phát sinh khi ngân hàng
muốn có nguồn vốn đủ điều kiện để tài trợ các dự án có quy mô lớn, trọng điểm
nhằm phục vụ kịp thời cho đầu t phát triển của đất nớc hoặc vì mục đích kinh
doanh của ngân hàng nh: Đầu t chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà
các nguồn huy động khác cha đáp ứng đợc. Khi đó ngân hàng có thể xin phép phát
hành bằng từ trình gửi NHNN. Trong tờ trình Xin phép phát hành kỳ phiếu phải
trình bày đầy đủ các nội dung sau:
+ Lý do xin phát hành
+ Kế hoạch sử dụng và nhu cầu sử dụng vốn
+ Các loại kỳ phiếu xin phát hành ( về kỳ hạn, phơng thức trả lãi)
Trái phiếu đợc các NHTM phát hành với kỳ hạn trên 1 năm. Tuy nhiên, thời
hạn cụ thể sẽ do các NHTM quyết định tuỳ theo phơng án sử dụng vốn. Trái phiếu
phát hành cùng một đợt đợc ghi cùng thời hạn và đợc thanh toán vào cùng thời
điểm đáo hạn. Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên trái phiếu lúc phát hành
và có giá trị tối thiểu là 50.000 VND. Các loại mệnh giá lớn hơn đợc xác định
bằng bội số của mệnh giá tối thiểu.
Lãi suất của trái phiếu do NHTM ấn định trên cơ sở quan hệ cung cầu về vốn
trên thị trờng sao cho có thể khuyến khích, động viên đợc ngời gửi vốn dài hạn,
ngời vay có thể chấp nhận đợc và NHTM đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Phơng
thức trả lãi cũng đợc các NHTM áp dụng một cách linh hoạt: Trả lãi trớc, Trả lãi
sau, Trả lãi định kỳ...
NHTM muốn đợc phép phát hành trái phiếu cần phải hội đủ các điều kiện
sau:
+ Hoạt động ổn định ít nhất 2 năm và chứng minh đợc hoạt động kinh doanh
của đơn vị đợc quản lý có hiệu quả
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Có phơng án kinh doanh cụ thể
+ Cần phải có vốn điều lệ đủ lớn theo pháp định
+ Đợc phép bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc
Sau khi đã hội đủ các điều kiện cần thiết, NHTM phải làm thủ tục xin phép
NHNN về việc phát hành trái phiéu theo quy định của pháp luật.
Nguồn vốn huy động đợc từ nghiệp vụ phát hành trái phiếu không chịu sự
điều chỉnh của quy định dự trữ bắt buộc. Hơn nữa, nó là nguồn có tính ổn định
cao, đáng đợc quan tâm nếu muốn mở rộng nguồn vốn huy động trung và dài hạn
tại một NHTM. Bằng cộng cụ này, các NHTM có thể chủ động tạo đợc một khối l-
ợng vốn nh mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách
đầu t cho các công trình lớn của quốc gia.
3-2 - Vay trung và dài hạn trực tiếp:
Khi cần vốn trung và dài hạn mà các nguồn vốn khác cha đáp ứng thì các
vốn cho hoạt động kinh doanh dựa trên nguyên tắc:
- Các NHTM phải hoạt động hợp pháp
- Thực hiện việc đi vay và cho vay theo hợp đồng tín dụng.
- Vốn vay phải đợc bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của
NHNN.
Nguồn vay mợn này thờng có chi phí cao, kỳ hạn trung hạn là chủ yếu, phụ
thuộc nhiều vào quan hệ cũng nh uy tín của NHTM đi vay.
* Vay trung và dài hạn từ nớc ngoài:
Theo tinh thần Nghị định 90/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 thì các NHTM có
thể vay vốn trung và dài hạn ở Ngân hàng nớc ngoài để cho vay lại trong nớc. Các
NHTM Việt Nam hiện có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với các
Ngân hàng trong khu vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá
thuận lợi. Lãi suất vay đợc áp dụng theo lãi suất trên thị trờng tiền tệ thế giới. Tuy
nhiên, khi vay thì các NHTM Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do
nớc ngoài quy định. Hạn mức này phải đợc Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo
lãnh. Theo Nghị định 90/CP, thì mức bảo lãnh vay vốn nớc ngoài cho một tổ chức
tín dụng không quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó. Nhng hạn mức trên phải trừ đi
số nợ trớc cha trả đến thời điểm đến thời điểm vay mới. Nh vậy muốn tận dụng
hạn mức tín dụng của nớc ngoài, các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâu
hoàn trả.
Các khoản vay từ Ngân hàng nớc ngoài của các NHTM Việt Nam đều do
NHNN trực tiếp kiểm soát và quản lý. Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải quan
NHNN xét duyệt. Các NHTM đợc quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nớc
ngoài, qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh
ngân hàng.
4- Nhận uỷ thác tài trợ phát triển:
Đây là nghiệp vụ mang tính chất trung gian của NHTM. Trong đó, NHTM
nhận làm Ngân hàng đại lý, nhận uỷ thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nớc để cho vay trung và dài hạn để thực hiện những chơng trình và dự án có mục
19
công tác huy động vốn trung và dài hạn của mình.
* Nhân tố khách quan:
- Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế: Động thái của nền kinh tế chính là
cơ sở đầu tiên để ngời gửi tiền ra quyết định nên gửi tiền vào Ngân hàng, tích trữ
vàng, USD hay mua sắm các tài sản khác. Trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định,
giá cả và sức mua của đồng tiền biến động mạnh thì ngời dân có xu hớng tích trữ
vàng, USD hoặc các dạng tài sản khác thay vì đem số tiền đó gửi kỳ hạn dài tại
NHTM. Ngợc lại, một nền kinh tế phát triển ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngời dân sẽ có cái nhìn khả quan hơn và xu hớng tiền gửi ở các NHTM tăng lên là
một điều tất yếu.
- Nhân tố tiết kiệm trong nền kinh tế: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ
rõ Để tạo vốn cho đầu t phát triển, giải pháp cơ bản và lâu dài là làm ăn có hiệu
quả, phát triển kinh tế, thực hành tiết kiệm kể cả trong chi tiêu của Nhà nớc, trong
sản xuất kinh doanh và trong tiêu dùng của dân c. Thực tế cho thấy, ngời dân có
thu nhập càng cao thì lợng tiền dành cho tiết kiệm có thể càng lớn, đặc biệt là khi
thu nhập bình quân đầu ngời đã đạt đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm
không phải tăng lên theo tơng quan tỷ lệ với sự gia tăng của thu nhập mà tăng với
một tỷ lệ lớn hơn so với thu nhập do nhu cầu thiết yếu lúc này đợc thoả mãn hoàn
toàn và lợng tiền d ra sẽ tăng nhanh. Tuy nhiên, lợng tiền tiết kiệm có đợc gửi vào
NHTM hay không còn phụ thuộc vào tâm lý tiêu dùng các dân c. Họ có thể đem
gửi Ngân hàng, giữ tiền mặt, vàng, ngoại tệ hoặc mua các tài sản khác.
Bên cạnh nguồn tiết kiệm từ dân c thì nguồn tiết kiệm từ các tổ chức kinh tế-
xã hội cũng rất quan trọng. NHTM có thể huy động nguồn vốn này thông qua
nghiệp vụ phát hành trái phiếu. Do đó để NHTM thực hiện tổ chức năng trung
gian tài chính, phục vụ đầu t phát triển thì đòi hỏi các tổ chức, cá nhân và cả nhà
nớc phải có chính sách tiết kiệm hợp lý và coi tiết kiệm là quốc sách hàng đầu.
- Chính sách của Nhà nớc:
Đây là một trong những nhân tố ảnh hởng rất lớn đến công tác huy động vốn
và thuận lợi nhất hay nói cách khác là có uy tín nhất đối với gời gửi tiền. Thông
thờng, ngời gửi tiền đánh giá uy tín của NHTM qua các tiêu thức cơ bản nh: Sự
hoạt động lâu năm, quy mô, trình độ quản lý, công nghệ,... Do đó các NHTM cần
nâng cao uy tín thông qua các nghiệp vụ của mình, từng bớc thoả mãn tối đa nhu
cầu của ngời gửi tiền. Khi đã tin tởng vào một NHTM nào đó, tất yếu họ sẽ tạm xa
rời vốn liếng của mình để gửi vào Ngân hàng hởng lãi. Không phải ngẫu nhiên mà
nhân dân ta có câu tục ngữ Chọn mặt gửi vàng, và trong hoạt động ngân hàng
chữ Tín và Lòng tin là rất quan trọng.
- Chính sách lãi suất cạnh tranh:
Bao gồm cả lãi suất huy động và cho vay. Đây là một chính sách quan trọng
của NHTM, nó đòi hỏi phải có sự linh hoạt, vừa hấp dẫn ngời gửi , đòng thời phải
đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Thông thờng, quy mô của tiền gửi
vào ngân hàng biến động tỷ lệ thuận đặc biệt thì quy luật này bị phá vỡ. Chẳng
hạn khi lãi suất huy động giảm nhng ngời gửi vẫn thu đợc một khoản lợi tức sau
khi đã trừ đi tỷ lệ trợt giá thì vốn huy động của ngân hàng vẫn có thể tăng lên. Nh
vậy có thể nói lãi suất huy động có ảnh hởng lớn đến quy mô tiền gửi vào NHTM,
đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm. Vì ngời dân thờng quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để
so sánh nó với tỷ lệ trợt giá của đồng tiền và khả năng sinh lời của các hình thức
đầu t khác nh cổ phiếu, trái phiếu,... Từ đó dân chúng sẽ đa ra quyết định có nên
gửi tiền vào ngân hàng hay không? Gửi bao nhiêu và dới hình thức nào?...
Đối với các tổ chức kinh tế- xã hội thì ít nhạy cảm hơn đối với lãi suất mà
NHTM huy động mà họ quan tâm nhiều tới công nghệ ngân hàng, thái độ phục vụ
của nhân viên ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất và tính tiện ích cũng nh thanh khoản
của trái phiếu ngân hàng cũng đợc các tổ chức này đặc biệt quan tâm.
- Chính sách sản phẩm:
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đa dạng hoá sản phẩm trong lĩnh vực ngân hàng đã khó, đa dạng hoá các
hình thức huy động vốn trung và dài hạn lại càng nan giải hơn. Tuy nhiên, các
NHTM đã cho ra đời nhiều sản phẩm vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính
hạn của NHTM còn chịu sự tác động của một số chính sách nh: Chính sách khách
hàng, các dịch vụ ngân hàng,... Trong đó các dịch vụ huy động vốn nh: T vấn,
chiết khấu,... kèm theo nghiệp vụ huy động vốn trung và dài hạn có vai trò hỗ trợ
quan trọng. Qua đó nhằm tạo ra những tiện ích hấp dẫn khách hàng và có thể tăng
sức cạnh tranh trong công tác huy động vốn trung và dài hạn của NHTM.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay và nhiều năm tới ở nớc ta, việc tạo lập và
tập trung mọi nguồn lực để phục vụ cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nớc là rất cấp
bách. Trong đó nguồn vốn trung và dài hạn có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc đáp ứng nhu cầu cho đầu t phát triển. Với vai trò là cầu nối giữa cung và
cầu vốn trong xã hội, thông qua các nghiệp vụ huy động vốn trung và dài hạn của
mình, các NHTM đã góp phần quan trọng trong việc khơi thông nguồn vốn nhàn
rỗi từ nền kinh tế đáp ứng cho nhu cầu tín dụng trung và dài hạn, góp phần đảm
bảo hiệu quả kinh doanh ngân hàng, thúc đẩy tăng trởng kinh tế- xã hội và thực
hiện Chính sách tiền tệ quốc gia.
chơng II
Thực trạng huy động vốn trung và dài hạn tại Ngân hàng
đầu t và phát triển Việt Nam ( từ 1998-2000)
I- Tổng quan về ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam ( BIDV)
1- Lịch sử hình thành và phát triển
* Lịch sử hình thành BIDV đợc thành lập theo quyết định số 177-TTg ngày
26/4/1957 của Thủ tớng Chính phủ, là doanh nghiệp nhà nớc hạng đặc biệt, bao
gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính,
công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong lĩnh vực kinh
doanh, tiền tệ, tín dụng, và các dịch vụ liên quan đến hoạt động tài chính, tiền tệ,
ngân hàng
Lịch sử xây dựng, trởng thành và đổi mới của Ngân hàng luôn gắn liền với sự
phát triển của đất nớc. Qua mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, tuỳ theo nhiệm vụ
của từng thời kỳ mà BIDV mang nhiều tên gọi:
huy động chỉ bó hẹp ở tiền gửi ở các tổ chức quốc doanh. Công tác huy động vốn
cha đợc thực thi theo đúng nghĩ của nó. Bên cạnh đó Ngân hàng sử dụng vốn cũng
rất thụ động, chủ yếu là đầu t theo kế hoạch nhà nớc; vốn ngân sách dót xuống sẽ
đợc cấp phát, cho vay theo thời hạn quy điịnh trong kế hoạch.
- Giai đoạn sau khi có pháp lệnh Ngân hàng:
Có thể khẳng định: Đây là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử phát
triển của BIDV. Trong điều kiện mới, BIDV đã xây dựng đợc cho mình một vị thế
khá vững trong môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các NHTM. Về cơ
bản BIDV có một số khó khăn và thuận lợi sau;
+ Những khó khăn:
Tuy là một trong những ngân hàng ra đời sớm nhng tới đầu năm 1995 BIDV
mới thực sự chuyển hẳn sang kinh doanh theo cơ chế thị trờng. Trong quá trình
chuyển này ngân hàng đã vấp phải một số khó khăn nhất định. Cụ thể là:
* Ngày 1-1-1995, TổngCục đầu t tách khỏi BIDV và chịu sự quản lý của Bộ
tài chính do đó, BIDV phải chuyển toàn bộ nguồn vốn cho ngân sách cấp trả về
Tổng cục đầu t trực thuộc Bộ tài chính. Điều này đã kéo theo một sự hẫng hụt ảnh
hởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
25