Nh÷ng vÊn ®Ò lý luËn vÒ ho¹t ®éng tµi trî
cho thuª t¹i c¸c c«ng ty cho thuª tµi chÝnh
1. Tæng quan vÒ ho¹t ®éng cho thuª tµi
chÝnh
1.1. lÞch sö ra ®êi cña ho¹t ®éng cho thuª
Theo các văn tự cổ, cho thuê (leasing) ra đời rất sớm. Khoảng 2800 năm trước
Công nguyên ở Sumerians
1
của người UR đã có hoạt động cho thuê về dụng cụ
nông nghiệp và công cụ cầm tay. Cho thuê đất nông nghiệp đã xuất hiện trong nền
văn minh Babylonia khoảng 1800 năm trước Công nguyên và ở Hy Lạp 370 năm
trước Công nguyên. Sau đó tài sản cho thuê được mở rộng sang nhiều loại khác
như: các thiết bị, máy móc, tàu thuyền và súc vật (bò kéo, bò sữa). Đến thế kỉ 19,
hoạt động cho thuê tài sản đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chủng loại
thiết bị, đã phát triển các loại tài sản cho thuê có giá trị lớn như toa xe, đầu máy tầu
hoả, đường ray ở Anh năm 1894 và ở Hoa Kỳ cuối thế kỉ 19.
Hoạt động cho thuê đã trải qua hàng nghìn năm, nhưng mãi đến giữa thế kỉ 20
mới trở thành ngành kinh doanh thực sự. Công ty chuyên hoạt động cho thuê đầu
tiên được thành lập tại Hoa Kỳ vào tháng 5/1952 đó là công ty cho thuê Hoa Kỳ
(United States Leasing Corporation). Năm 1960, Công ty cho thuê tài chính
Mercantile (đơn vị trực thuộc của tổ chức tín dụng Mercantile) ra đời. Từ đó hoạt
động cho thuê phát triển rộng rãi ở Mỹ và Châu Âu.
Ở Châu Á, Nhật là quốc gia có ngành kinh doanh cho thuê ra đời sớm nhất.
Công ty cho thuê đầu tiên của Nhật được thành lập vào năm 1963, đó là công ty
cho thuê Orient (Orient Leasing Corporation). Ở Nhật hoạt động của các công ty
cho thuê được sự hỗ trợ tích cực của các ngân hàng thương mại, các công ty
thương mại tổng hợp và các hãng sản xuất, vì vậy ngành cho thuê ở Nhật phát triển
khá nhanh. Năm 1970, tổng giá trị hợp đồng cho thuê của 31 công ty cho thuê lớn
nhất là 726 triệu USD, năm 1981 là 7.500 triệu USD, tăng hơn 10 lần so với năm
1970.
Đầu những năm 70, hoạt động cho thuê tài chính cũng bắt đầu xuất hiện ở
Cho thuờ vn hnh l loi cho thuờ ngn hn so vi ton b i sng hu
ớch ca ti sn v bờn i thuờ cú th hu b hp ng v bờn cho thuờ cú trỏch
nhim bo trỡ, úng bo him v thu ti sn.
Xut phỏt t cỏc c im trờn dn n tng chi phớ tin thuờ ca mt hp
ng nh hn nhiu so vi giỏ tr ca ti sn. Thụng thng khi kt thỳc hp ng
bờn cho thuờ cú th gia hn hp ng, ký hp ng mi hoc tỡm mt khỏch hng
cho thuờ khỏc.
Cho thuờ ti chớnh l loi cho thuờ trung v di hn, bờn thuờ khụng c
hu b hp ng. Bờn i thuờ chu trỏch nhim bo trỡ, úng bo him v thu ti
sn. Phn ln cỏc hp ng cho thuờ ti chớnh, bờn i thuờ c quyn gia hn hp
ng hoc c quyn mua t ti sn sau khi thi hn hp ng kt thỳc. Thc
cht cho thuờ ti chớnh l mt hỡnh thc ti tr vn, trong ú theo yờu cu s dng
ca bờn i thuờ, bờn cho thuờ tin hnh mua ti sn v chuyn giao cho bờn i thuờ
s dng.
Theo Điều 1 - Chương I - Nghị định số 16/2001/NĐ-CP của Chính phủ, ngày
02/05/2001, cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua
máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của
bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài
sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả
thuận.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê
hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài
chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định trong hợp đồng cho thuê tài
chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
1.2.2. ph©n biÖt cho thuª tµi chÝnh vµ cho thuª vËn hµnh
Thông thường cho thuê tài chính và cho thuê vận hành có các điểm khác
nhau cơ bản sau:
Bảng 1: Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và vận hành
Không có thoả thuận
chuyển quyền sở hữu
hoặc bán lại tài sản
cho bên đi thuê
Trách nhiệm rủi ro liên
quan đến tài sản
Bên đi thuê chịu phần
lớn các rủi ro, kể cả rủi
ro không phải do mình
Bên đi thuê chịu phần
lớn các rủi ro, chỉ trừ
rủi ro do lỗi của bên đi
gây ra thuê gây ra
Những điểm khác biệt trên đây thực chất là khác biệt mang tính phổ biến của
hai loại cho thuê nói trên. Tuy nhiên, trong đời sống thực tế người ta có thể vận
dụng hết sức linh hoạt, vì vậy nhiều lúc ranh giới giữa hai loại cho thuê này cũng
không rõ ràng. Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên mà các cơ quan quản lý Nhà
nước thường ban hành các tiêu chuẩn để làm cơ sở phân biệt giữa giao dịch cho
thuê vận hành và cho thuê tài chính. Hiện nay phần lớn các nước đã đưa ra các tiêu
chuẩn dựa trên các tiêu chuẩn do Ủy ban Tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC) đã
quy định để xác định một hợp đồng giao dịch được gọi là hợp đồng cho thuê vận
hành hay hợp đồng cho thuê tài chính. Theo quy định của IASC, bất cứ một giao
dịch cho thuê nào thoả mãn ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn sau đây đều được coi
là cho thuê tài chính:
1. Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi chấm dứt thời hạn hợp đồng.
2. Hợp đồng có quy định quyền chọn mua.
3. Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời gian hoạt động của tài sản.
4. Hiện giá của các khoản tiền thuê lớn hơn hoặc gần bằng giá trị tài sản.
1.3. c¸c lo¹i h×nh cho thuª tµi chÝnh
Hiện nay, cho thuê tài chính đã trở thành một trong những phương thức tài trợ
dựng.
Phương thức tài trợ này thường do các công ty kinh doanh bất động sản và
các công ty sản xuất máy móc thiết bị thực hiện, như các nhà đầu tư xây dựng cao
ốc văn phòng, các chung cư, sau đó ký các hợp đồng cho thuê với khách hàng. Các
tổ chức tài chính rất ít áp dụng phương thức tài trợ này.
Phương thức tài trợ cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên được
thực hiện như sau:
Hình 1: Mô hình tài trợ cho thuê hai bên
Chuyển giao quyền sử dụng (2a) Ký hợp đồng thuê (1)
Giao tài sản (2b)
Thanh toán tiền thuê (3)
1. Bên cho thuê và bên đi thuê ký hợp đồng cho thuê
2a. Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho bên đi thuê
2b. Bên cho thuê giao tài sản cho bên đi thuê
3. Theo định kỳ bên đi thuê thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê1.3.1.2- Cho thuª tµi chÝnh ba bªn
Theo phương thức này, bên cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo
yêu cầu của bên đi thuê và đã được hai bên thoả thuận theo hợp đồng thuê. Quy
trình tài trợ có sự tham gia của ba bên, bao gồm: Bên cho thuê, bên đi thuê và bên
Bên đi thuêBên cho thuê
(leasor)
Bên cung cấp
(supplier)
Bên đi thuê
( leasee)
biệt đối với cho thuê thiết bị. Trên thế giới 80% hợp đồng cho thuê áp dụng theo
phương thức này.
1.3.2. c¸c lo¹i cho thuª tµi chÝnh ®Æc biÖt
1.3.2.1- T¸i cho thuª (lease-back)
Tái cho thuê hay còn gọi là bán và thuê lại (sale and leases back) là một
dạng đặc biệt của phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên. Trong hoạt
động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp vốn lưu động để khai thác tài sản cố định
hiện có, nhưng lại không đủ uy tín để vay vốn lưu động ở các ngân hàng. Trong
trường hợp đó, họ buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho ngân hàng hoặc
công ty tài chính, sau đó thuê lại tài sản để sử dụng và như vậy sẽ có thêm nguồn
tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động. Đôi lúc các định chế tài chính cũng áp
dụng phương thức tài trợ này như là một biện pháp giải quyết nợ quá hạn mà
không phải dùng biện pháp thanh lý, tức là đề nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp
khi lâm vào tình trạng khó khăn tài chính. Cần lưu ý rằng khi dùng phương thức
này như là một biện pháp giải quyết nợ quá hạn các định chế tài chính còn kèm
theo các biện pháp khác như kiểm soát các khoản thu, chi về ngân quỹ, tư vấn
trong quản trị kinh doanh, khuyến cáo về việc bán các tài sản chưa cần dùng, tham
gia vào quản trị doanh nghiệp…
Phương thức tái thuê áp dụng trong hai trường hợp trên là sự chuyển hoá từ
cho vay ngắn hạn sang tài trợ trung và dài hạn. Nhưng tại sao các định chế tài
chính lại chấp nhận tài trợ trung và dài hạn hơn là cho vay ngắn hạn? Như phần
trên đã trình bày, cho thuê tài chính là kỹ thuật cấp tín dụng ít rủi ro, vì vậy định
chế tài chính có thể sử dụng nó để thay thế cho vay ngắn hạn khi mà không còn
bản nói trên. Trong cho thuê hợp tác, bên cho thuê đã vay phần lớn vốn từ các ngân
hàng hoặc từ các định chế tài chính khác để mua tài sản cho thuê. Đối với tài sản
thuê có giá trị lớn, một bên cho thuê không đủ vốn để tài trợ hoặc sợ rủi ro vì tập
trung vốn quá lớn vào một khách hàng. Trong trường hợp này, một hoặc một số
bên cho thuê hợp tác với một hoặc nhiều bên cho vay khác để cùng tài trợ. Tuy
nhiên, hình thức hợp tác này không phải là phương thức cùng tài trợ mà bên cho
thuê vẫn là trái chủ trong quan hệ cho thuê hay nói cách khác, vốn tài trợ trong
phương thức này bao gồm hai phần, một phần là vốn của bản thân bên cho thuê và
một phần là vốn vay được cung cấp từ các bên cho vay.
Thông thường, bên cho vay bao gồm: các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ
đầu tư. Còn bên cho thuê là các công ty cho thuê tài chính và các tổ chức khác hợp
tác với công ty cho thuê. Trong trường hợp có nhiều bên cho thuê thì họ có thể uỷ
thác cho một tổ chức để ký kết các hợp đồng và quản lý vốn; nếu có nhiều bên cho
vay cũng có thể làm tương tự.
Đối với các hợp đồng thuê có giá trị lớn và phức tạp, bên cho thuê và bên
cho vay cùng uỷ thác cho một tổ chức tài chính đứng ra đảm nhiệm các công việc
và bên này được gọi là bên thụ uỷ trọn gói. Thông thường, bên thụ uỷ trọn gói là
một công ty cho thuê tài chính độc lập hoặc một ngân hàng.
Trong thời gian qua, Tổng công ty hàng không Việt Nam đã thực hiện một
số hợp đồng theo phương thức cho thuê hợp tác với các tổ chức tài chính nước
ngoài. Ví dụ: Năm 1989, Hãng hàng không Việt Nam đã thuê hai máy bay hành
khách ATR 72 của Công ty Stock Leasing LTD và công ty này lại được các ngân
hàng của Pháp cho vay để thực hiện hợp đồng cho thuê này với Hãng hàng không
Việt Nam.
Hình 4: mô hình cho thuê hợp tác
1c
3b
2b 2a
1b 1a 2c 3a
như vậy đòi hỏi phải áp dụng phương thức cho thuê giáp lưng.
Cho thuê giáp lưng là phương thức mà trong đó, thông qua sự đồng ý của
bên cho thuê, bên đi thuê thứ nhất cho bên đi thuê thứ hai thuê lại tài sản đó. Trên
thực tế, thực chất bên đi thuê thứ nhất chỉ là bên trung gian giữa bên cho thuê và
Bên cho thuê
(leasor)
Bên cho vay
(lender)
Bên đi thuê
(leasee)
Bên cung cấp
(supplier)
bên đi thuê thứ hai, nhưng về mặt pháp lý thì bên đi thuê thứ nhất phải chịu trách
nhiệm về việc thực hiện hợp đồng với bên cho thuê. Với phương thức thuê này,
mặc dù doanh nghiệp không đủ điều kiện để trực tiếp thuê với bên cho thuê, vẫn
thuê được tài sản để sử dụng cho kinh doanh.
Hình 5: Mô hình cho thuê giáp lưng
3b 1a 2
3a
1b
1a. bên cho thuê và bên đi thuê thứ nhất ký hợp đồng cho thuê
1b. bên đi thuê thứ nhất và bên đi thuê thứ hai ký hợp đồng cho thuê
2. bên cho thuê hoặc bên cung cấp chuyển giao tài sản cho bên đi thuê thứ hai
3a. bên đi thuê thứ hai trả tiền thuê cho bên đi thuê thứ nhất
3b. bên đi thuê thứ nhất trả tiền thuê cho bên cho thuê
Cần lưu ý rằng, tiền thuê mà bên đi thuê thứ hai phải trả thường cao hơn tiền
thuê mà bên đi thuê thứ nhất trả cho bên cho thuê. Phần chênh lệch giữa hai
khoảng tiền thuê đó bên đi thuê thứ nhất được hưởng, coi như là hoa hồng trách
nhiệm. Ngoài ra, cho thuê giáp lưng cũng áp dụng trong trường hợp bên đi thuê thứ
nhất đã thuê tài sản và sử dụng tài sản đó nhưng sau đó không có nhu cầu sử dụng
Thông qua hoạt động tài trợ cho thuê, các loại máy móc, thiết bị có trình độ
công nghệ tiên tiến được đưa vào các doanh nghiệp, góp phần nâng cao trình độ
công nghệ của nền sản xuất trong những điều kiện có khó khăn về vốn đầu tư.
Ngay cả đối với các nền kinh tế phát triển cao như Mỹ, Nhật, Pháp, v.v… cho thuê
tài chính vẫn phát huy tác dụng cập nhật hoá công nghệ hiện đại cho nền kinh tế.
Đối với các quốc gia chậm phát triển nếu có những biện pháp đúng đắn,
đồng bộ và toàn diện… thì tác dụng của nó còn mạnh mẽ hơn nhiều. Nhất là trong
thời đại bùng nổ công nghệ ngày nay, việc đầu tư công nghệ hiện đại một cách kịp
thời, nhanh chóng đối với các nền kinh tế chậm phát triển gặp rất nhiều khó khăn.
Nếu có chính sách đúng đắn, hoạt động tài trợ cho thuê có thể đáp ứng được nhu
cầu đổi mới công nghệ nhanh chóng.
Song mặt khác, trên bình diện vĩ mô cũng cần có chính sách quản lý chặt
chẽ, biện pháp khoa học để khắc phục những mặt trái của hoạt động cho thuê tài
chính, nhất là đối với các quốc gia chậm phát triển. Do thông tin thiếu, trình độ
quản lý yếu, luật pháp không rõ ràng…, và nhất là trong xu hướng các nước phát
triển đang muốn chuyển giao công nghệ lỗi thời gây ô nhiễm môi trường, hao tốn
nguyên liệu, sử dụng nhiều lao động, điều kiện an toàn không đảm bảo, sản xuất ra
sản phẩm có chất lượng kém, v.v… sang các quốc gia đang phát triển. Do đó, nếu
không có chiến lược chính sách công nghiệp hoá - hiện đại hoá đúng đắn, khoa
học; hoạt động tài trợ cho thuê sẽ “góp phần” gây lãng phí nguồn ngoại tệ hiếm hoi
của quốc gia, biến đất nước thành “bãi rác thiết bị công nghiệp”.
1.4.2. ®èi víi ngêi cho thuª
Những tính chất riêng biệt của hoạt động tài trợ thuê mua mang lại nhiều
thuận lợi và lợi ích cho các nhà tài trợ so với các hình thức tài trợ khác.
1.4.2.1. Tài trợ cho thuê là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao
Do quyền sở hữu tài sản cho thuê mua vẫn thuộc người cho thuê nên họ có
quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài sản. Nếu có những biểu hiện đe doạ sự an
toàn cho giao dịch thuê mua đó, người cho thuê có thể thu hồi tài sản ngay lập tức.
Nhờ vậy, họ có thể tránh được những thiệt hại, mất vốn tài trợ. Trong khi đó, đối
với nhiều hình thức tài trợ khác, người tài trợ khó có thể thực hiện được các biện
móc, thiết bị phục vụ yêu cầu của sản xuất và sau một số năm có thể có được một
số tài sản tích luỹ nhất định.
1.4.3.2. Hoạt động tài trợ cho thuê không ảnh hưởng bất lợi đối với các hệ số
kinh doanh của doanh nghiệp
Trừ Mỹ và Mexico có những điều kiện trong các đạo luật quy định phải
hạch toán tài sản thuê mua vào Bảng tổng kết tài sản như một khoản vay nợ, hầu
hết các quốc gia đều quy định phần tiền thuê trả cho người cho thuê được đưa vào
phần giải trình của Bảng tổng kết tài sản. Như vậy, tài sản thuê mua được hạch
toán ngoại bảng và được coi như một khoản nợ phát sinh trong năm tài chính. Do
đó, không làm thay đổi các hệ số phân tích tài chính của doanh nghiệp theo chiều
hướng bất lợi.
1.4.3.3. Những doanh nghiệp không thoả mãn các yêu cầu vay vốn của các
ngân hàng cũng có thể nhận được vốn tài trợ
Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ hay
những doanh nghiệp mới thành lập, chưa có uy tín với các ngân hàng thường rất
khó thoả mãn các điều kiện chống rủi ro nên thường bị các tổ chức này từ chối cho
vay. Trong khi đó, đặc thù của cho thuê tài chính là người cho thuê nắm quyền sở
hữu pháp lý đối với tài sản và họ có thể trực tiếp kiểm soát theo dõi việc sử dụng
tài sản, tình hình kinh doanh của người thuê. Do đó, các công ty cho thuê tài chính
có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu tư của khách hàng ngay cả khi vị thế tài
chính, uy tín của họ có những hạn chế.
Hơn nữa, do chuyên biệt kinh doanh thuê mua các loại tài sản thiết bị nên
các công ty cho thuê tài chính thường có mạng lưới hoạt động rộng rãi, có trình độ
chuyên sâu về thiết bị, công nghệ cao nên họ có thể cải tiến, điều chuyển các loại
tài sản cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng ở các khu vực thị trường khác
nhau. Bởi vậy, họ không quá bi quan khi một giao dịch tài trợ cho thuê bị đổ vỡ
như các ngân hàng nghi ngại bị "xù nợ".
1.4.3.4. Đi thuê tài sản có thể giúp doanh nghiệp đi thuê không bị đọng vốn
trong tài sản cố định.
Thông qua nghiệp vụ bán và tái thuê, các doanh nghiệp có thể chuyển
triển đối với các doanh nghiệp phải tự xuất vốn hay vay vốn để đầu tư. Thông qua
đi thuê, các doanh nghiệp có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới hay nhận được
lời khuyên nên áp dụng trình độ công nghệ ở mức nào cho phù hợp với doanh
nghiệp, thị trường và môi trường kinh tế vĩ mô. Thông qua đi thuê, việc thay đổi
công nghệ của doanh nghiệp diễn ra có ưu thế hơn các hình thức tài trợ khác do
đặc điểm của nó là thiết bị thuộc quyền sở hữu của người cho thuê nên mọi rủi ro
về mặt pháp lý và những rủi ro hao mòn vô hình đều thuộc về phía người cho thuê.
Người cho thuê thường phải sử dụng những khả năng chuyên biệt về nghiệp vụ
thuê mua để khắc phục những rủi ro này.
1.4.3.7. Đi thuê tài sản cho phép người thuê hoãn thuế
Các khoản tiền thuê phải trả hàng năm được tính vào chi phí của doanh
nghiệp. Do đó, chúng làm giảm mức lợi nhuận của doanh nghiệp bằng chính
những khoản chi phí đó. Khoản chi phí này được nhân với tỷ lệ chiết khấu sau thuế
của doanh nghiệp và nhân với lãi suất cho vay của ngân hàng, sẽ cho ta biết tỷ lệ
tiết kiệm do hoãn thuế bởi đi thuê tài sản đem lại cho doanh nghiệp, và doanh
nghiệp có thể sử dụng khoản tiền hoàn thuế này đầu tư cho sản xuất mà không phải
đi vay ngân hàng và không phải trả lãi vay.
Song bên cạnh đó, các doanh nghiệp đi thuê cũng có những bất lợi mà cần
phải xem xét, đo lường trước khi ra quyết định:
- Phí tài trợ thông qua cho thuê tài chính thường cao hơn mức lãi suất cho vay
của các hính thức tài trợ vốn khác trên cùng một thị trường vốn.
- Ở giai đoạn cuối của thoả thuận thuê mua, dù đã trả gần đủ số tiền thuê nhưng
người thuê vẫn chưa được quyền sử dụng tài sản vào mục đích khác.
- Trong trường hợp hợp đồng có dự liệu quyền mua tài sản với giá tượng trưng
bị phá vỡ, người thuê sẽ bị thiệt hại do mất quyền ưu tiên này, bởi trong phí thuê
đã tính gộp cả phần tiền trả cho quyền chọn mua.
Tóm lại, phương thức giao dịch cho thuê tài chính diễn ra rất đa dạng, phong
phú tạo nên nhiều hình thức rất phức tạp. Các hình thức này đan xen vào nhau tạo
ra những biến thể rất sinh động đòi hỏi cần được xem xét từ nhiều góc độ. Việc
Thuế trước bạ (có quốc gia coi là phí công chứng tài sản) thường do người
cho thuê chịu dù tài sản được đem ra cho thuê với bất cứ phương thức thuê mua
nào. Mức thuế dao động từ 0,03% đến 0,06% giá trị tài sản thuê.
1.5.2.2- ThuÕ doanh thu
a. Đối với người cho thuê
Hầu hết các quốc gia đều cho người cho thuê hưởng thuế doanh thu theo
quy chế thuế tín dụng. Do đó mức thuế doanh thu thấp hơn thuế của các ngành
kinh doanh, chế tạo hay thương mại. Việc áp dụng quy chế thuế tín dụng đối với
các công ty cho thuê tài chính cho phép hoạt động tài trợ cho thuê có thể cạnh
tranh bình đẳng với các hình thức tài trợ khác cho sản xuất.
b. Đối với người thuê
Trong các đạo luật khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, các quốc gia
đều cho người thuê hưởng các ưu đãi giảm thuế doanh thu trên doanh số do tài sản
thuê tạo ra như các quy định ưu đãi đầu tư đối với tài sản mua. Các ưu đãi đặc biệt
áp dụng đối với các vùng, ngành cần khuyến khích đầu tư, hay khu chế xuất đều áp
dụng đối với tài sản thuê.
1.5.2.3- ThuÕ lîi tøc
Đa số các quốc gia đều khuyến khích hoạt động tài trợ cho thuê bằng việc
cho phép áp dụng mức khấu hao nhanh (accelerated depreciation) hơn tài sản mua.
Mức khấu hao này làm giảm lợi tức chịu thuế của doanh nghiệp thuê trong những
năm đầu, song Nhà nước sẽ thu lại bằng lợi tức chịu thuế tăng nhanh trong những
năm đã khấu hao hết giá trị của tài sản. Quy chế này đem lại cho người thuê phần
lợi nhuận hoãn thuế.
Thuế suất thuế lợi tức của các công ty cho thuê tài chính thường thấp hơn
các hoạt động kinh doanh khác. Chẳng hạn, thuế suất thuế lợi tức của các công ty
cho thuê tài chính Trung Quốc là 30%, cộng 3% phụ thu của địa phương, trong khi
đó, các công ty thương mại có thuế suất từ 50-55%. Đối với những công
ty cho thuê tài chính chuyên hoạt động trong các ngành, vùng cần khuyến khích