THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ Ở CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THANH TRÌ - Pdf 68

: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ Ở CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THANH TRÌ - HÀ NỘI
I. GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG
Ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của Ngân hàng ĐT&PT Việt
Nam, Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Hà nội là một trong những thành viên lớn
của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam (Bank for Investment and Development of Viet
Nam).
Tiền thân của Ngân hàng đầu tư và phát triển là Ngân hàng kiến thiết Việt
nam ra đời theo quyết định 177/TTg ngày 26-4-1957 thay thế cho Vụ cấp phát
vốn kiến thiết cơ bản với chức năng vừa là cơ quan tài chính vừa là ngân hàng
trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Với sự phát triển của đất nước, Ngân hàng kiến
thiết Việt nam trực thuộc bộ tài chính đã được chuyển thành Ngân hàng đầu tư
và xây dựng Việt nam theo quyết định số 259/CP ngày 14/6/1981. Đây là một
ngân hàng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trong nền
kinh tế quốc dân, nằm trong hệ thống Ngân hàng nhà nước quản lý. Cùng với sự
phát triển của ngân hàng, nhu cầu của đất nước Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ra
quyết định số 401/CT chuyển Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt nam trở thành
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam.
Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Hà Nội là một Ngân hàng thương mại quốc
doanh và quốc tế , hoạt động chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng,
đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư phát triển. Với 45 năm kinh nghiệm (26/4/1957 –
26/4/2002), Ngân Hàng có một địa bàn hoạt động rộng rãi trên địa bàn Hà Nội
với ba chi nhánh khu vực và 6 quỹ tiết kiệm và phòng giao dịch trực thuộc.
Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Thanh trì là một trong ba chi
nhánh khu vực của Ngân hàng ĐT&PT Hà Nội, nằm ở phía nam thành phố tại
Km 8 Đường Giải Phóng Thanh trì -Hà nội. Cùng với bước phát triển của Ngân
hàng ĐT&PT Hà Nội, Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Thanh trì Hà Nội đã tạo
dựng một nền tảng vững chắc và đạt được những bước phát triển lớn góp phần
vào sự nghiệp của đất nước.
1. Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Trì Hà
Nội.

Phòng vi tính
2. Tình hình hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Trì Hà
Nội trong những năm qua.
Chuyển từ hoạt động cấp phát vốn nhà nước sang hoạt động kinh doanh
tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Thanh Trì đã vượt qua khó khăn, thách thức đáp ứng được nhu cầu phát
triển của nền kinh tế. Trong những năm qua, với một đội ngũ cán bộ công nhân
viên trẻ, có trình độ, đầy lòng nhiệt huyết hoạt động của ngân hàng đã đạt được
những kết quả đáng ghi nhận.
Là một Ngân hàng chi nhánh khu vực thuộc Ngân hàng ĐT&PT Hà Nội,
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Trì được điều hoà vốn trong hoạt động
kinh doanh. Song Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Trì đã không ngừng
nâng cao nguồn vốn hoạt động của mình thông qua việc thu hút khách hàng, làm
tốt các hoạt động và các chiến dịch thu hút vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam như phát hành các đợt
trái phiếu ngắn dài hạn... nguồn vốn của Ngân hàng đã tăng liên tục.
Bảng 1: Tình hình nguồn vốn của Ngân hàng Thanh Trì
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Tổng vốn trên cấp - - -
Tổng vốn huy động 213.014 254.708 428.130
Tổ chức tài chính 68.465 61.043 141.296
Dân cư 144.549 193.665 286.834
Nguồn vốn của Ngân hàng tăng trưởng cao, tính riêng nguồn vốn tự huy
động tăng 50:60% đáp ứng được nhu cầu xin vay, ngân hàng cấp trên không phải
cấp vốn. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Trì đã tự lo được nguồn vốn phát
triển của mình.
Quy mô hoạt động của ngân hàng được mở rộng thể hiện qua số khách
hàng đên giao dịch với ngân hàng ngày một tăng:
Bảng 2: Số lượng khách hàng giao dịch với ngân hàng

dài hạn tăng chậm, hoạt động bảo lãnh tăng nhanh năm sau gấp đôi gấp ba năm
trước. Doanh số thu hồi nợ đạt 80-90% doanh số cho vay.
Hoạt động bảo lãnh của ngân hàng tương đối hiệu quả, ngân hàng thực
hiện các nghiệp vụ bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng đã đáp ứng
được nhu cầu của các doanh nghiệp trong địa phận cũng như những doanh nghiệp
có nhu cầu tìm đến ngân hàng, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Dư đến
31/12/1999
Giá trị
%/98
Dư đến
31/12/2000
Giá trị
%/99
Dư đến
31/12/2001
Giá trị
%/2000
Tổng số vốn huy động:
Các tổ chức kinh tế
Dân cư
213.014
68.465
144.549
+51.5
+36.3
+59.9
254.708

+99.7
+50.1
Doanh số trả nợ
Ngắn hạn
Trung, dài hạn
112.290
75.359
36.931
+34
+7.78
+166
178.146
164.142
14.004
+58.6
+117.8
-62.1
398.057
384.547
13.600
+123.4
+134.3
-2.88
Số dư cuối kỳ
Ngắn hạn
Trung, dài hạn
114.867
92.534
22.333
+30

nhà nước ngân hàng đã tự tìm cho mình những dự án mới, tìm khách hàng cho
mình. Ngân hàng đã chủ động tìm dự án, phối hợp với chủ đầu tư ngay từ khâu
thẩm định dự án trước khi trình duyệt cho vay. Nhiều hợp đồng đầu tư dự án đã
được ký kết góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân
hàng được quản lý chặt chẽ và thống nhất giữa cán bộ thẩm định, trưởng phòng
và giám đốc nên không có trường hợp nợ khó đòi. Chất lượng sản phẩm tín dụng
của ngân hàng được đánh giá là đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với thủ tục
đơn giản, thời gian xem xét cho vay nhanh, số tiền vay như mong muốn, lãi suất
có thể chấp nhận được. Tuy nhiên sự tăng lên của hoạt động tín dụng ngắn hạn
nhanh hơn là hoạt động tín dụng trung và dài hạn.
Bảng 4: Hoạt động đầu tư phát triển của Ngân hàng ĐT&PT Thanh Trì
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 %/98 Năm 2000 %/99 Năm 2001 %/2000
Doanh số cho
vay đầu tư
phát triển
21.074 -13% 10.572 -49% 15.873 +50%
Theo KHNN 10.574 +14% 1.762 -83% 4.535 +157%
Dự án tự tìm
kiếm
10.500 +15% 8.810 -16% 11.338 +29%
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Chúng ta xem xét trên hai góc độ sau:
3.1 Những nhân tố khách quan:
3.1.1 Môi trường pháp lý :
Môi trường pháp lý, đó là những quy định của pháp luật làm căn cứ để
ngân hàng có thể hoạt động bình đẳng với các tổ chức khác. Nó quy định vị trí
quyền hạn và trách nhiệm của ngân hàng trong quan hệ giao dịch kinh tế. Sự
minh bạch rõ ràng của các quy định chỉ thị đã tạo điều kiện tốt cho ngân hàng
thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình một cách linh hoạt và nhanh chóng.

kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của khách hàng.
Do đó, xây dựng một chiến lược khách hàng tốt là mục tiêu quan trọng ngăn ngừa
rủi ro tín dụng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cần chú trọng đến các yếu
tố : tư cách pháp lý, năng lực của người vay, khả năng hoạt động chất lượng
khách hàng...để có một thị trường hoạt động hiệu quả của ngân hàng.
Hoạt động của ngân hàng còn chịu sự tác động của những biến động về thị
trường, điều kiện tự nhiên...nơi dự án hoạt động.
3.2 Những nhân tố chủ quan:
3.2.1 Sự lãnh đạo của ban giám đốc:
Con người là trung tâm của mọi hành động. Mọi quyết định về hoạt động
kinh doanh của ngân hàng như việc thu thập thông tin xử lý thông tin, quyết định
cho vay, quản lý ...đều do con người đảm nhiệm. Do đó, hoạt động của ngân hàng
trước tiên phụ thuộc vào người thực hiện nó. Đặc biệt phải nói đến sự lãnh đạo
của ban giám đốc đối với hoạt động của ngân hàng. Ban giám đốc đóng một vai
trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, đó là đầu tàu đảm bảo cho hoạt
động của ngân hàng được phát triển đúng hướng hay không. Sự chỉ đạo kịp thời
của ban giám đốc tác động đến sự hoàn thành tốt các hoạt động của ngân hàng
trên tất cả các mặt: công tác huy động vốn, sử dụng vốn, quản lý vốn. Mỗi ban
giám đốc có sự chỉ đạo khác nhau đến hoạt động của ngân hàng, đưa ra những
biện pháp nhanh chóng kịp thời chính xác để đối phó với những tình huống xấu,
đặc biệt là hoạt động của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ như: mở rộng khách
hàng, tìm kiếm khách hàng, quyết định cho vay, quản lý vốn vay, theo dõi khách
hàng...Với quy mô hoạt động của chi nhánh, ban lãnh đạo gồm một nữ giám đốc
và nữ phó giám đốc đã chỉ đạo kịp thời hoạt động của ngân hàng đạt được những
kết quả tốt trong kinh doanh (xem bảng 3).
3.2.2 Sự chỉ đạo kịp thời và có hiệu quả của ngân hàng cấp trên:
Đó chính là sự chỉ đạo hướng dẫn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội. Mọi hành động đều phải có
phương hướng rõ ràng. Trên cơ sở những quy định của pháp luật, ngân hàng cấp
trên đã đôn đốc hướng dẫn thực hiện kịp thời để ngân hàng có thể đáp ứng tốt

II. THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THANH TRÌ HÀ NỘI.
1. Tình hình thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Thanh trì Hà Nội.
1.1 Tổ chức thẩm định ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh trì Hà nội:
Hoạt động thẩm định dự án đầu tư là một bước quan trọng trong quy trình
tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh trì. Phòng kinh doanh chịu
trách nhiệm về hoạt động thẩm định cho vay và có trách nhiệm theo dõi các dự án
vay vốn thu lãi cho ngân hàng. Hiện nay ngân hàng vừa tiến hành thẩm định cho
các dự án vay vốn theo kế hoạch nhà nước, vừa tiến hành thẩm định các dự án
vay vốn thương mại.
Theo quyết định số 49/QĐ-TCCB ngày 6/4/1998 về thành lập phòng thẩm
định và tư vấn đầu tư, căn cứ quyết định hoạt động của ngân hàng, các văn bản
pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng hoạt động thẩm định của ngân
hàng được phân chia trách nhiệm rõ ràng cho các cán bộ tín dụng.
Hiện tại, phòng kinh doanh của chi nhánh chỉ có 7 cán bộ làm nhiệm vụ tín
dụng kiêm thẩm định dự án (chi nhánh chưa có bộ phận thẩm định). Phần lớn cán
bộ đều mới tốt nghiệp ở các trường Quản lý kinh tế về công tác thời gian dưới 5
năm. Với thời gian trực tiếp làm tín dụng ít như vậy phần nào ảnh hưởng đến
chất lượng thẩm định cho vay nói chung và thẩm định dự án vay đầu tư nói riêng.
Các cán bộ chuyên môn chịu trách nhiệm thực hiện việc thẩm định dự án
với các đơn vị khách hàng được phân công phụ trách. Khi có nhu cầu vay vốn cán
bộ tín dụng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng làm thủ tục, cung cấp đầy đủ
hồ sơ hợp lệ rồi tiến hành thẩm định và làm thủ tục xin vay vốn trình trưởng
phòng và giám đốc hoặc phó giám đốc thông qua quyết định cho vay .
Trách nhiệm của mỗi cán bộ thẩm định được quy định rõ ràng, không
chồng chéo làm tăng hiệu quả hoạt động của công tác tín dụng.
Đưa yêu cầu, giao hồ sơ vay vốn
Tiếp nhận hồ sơ vay vốn
Nhận hồ sơ đề nghị thẩm định

Những dự án đến vay vốn của Ngân hàng có thể chia thành:
* Theo mục đích sử dụng
Dự án xây mới
Dự án đầu tư mở rộng
Dự án cải tạo
* Theo quyết định đầu tư
Dự án theo chỉ thị của chính phủ
Dự án tự tìm kiếm
* Theo thành phần kinh tế
Dự án cho vay quốc doanh
Dự án cho vay ngoài quốc doanh
Để đảm bảo tính an toàn trong kinh doanh, đảm bảo nghiệp vụ tín dụng,
bảo lãnh và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của khu vực Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Hà Nội phân quyền phán quyết cho vay ở các chi nhánh theo công văn
mới nhất số 642 ngày 12/11/2001 (xem thêm phần phân cấp thẩm định).
Việc phân cấp thẩm định thống nhất trong toàn chi nhánh đảm bảo tính
khoa học, phù hợp với năng lực của chi nhánh, đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Trong giới hạn cho phép, cán bộ tín dụng có quyền xem xét thẩm định và chịu
trách nhiệm thẩm định những nội dung chính sau:
- Năng lực pháp lý của khách hàng
- Tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính năng lực hoạt động kinh
doanh của khách hàng.
- Thẩm định biện pháp đảm bảo tiền vay.
- Thẩm định hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án.
- Thẩm định mặt kinh tế kỹ thuật của dự án.
Cán bộ tín dụng làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ, chuyển hồ sơ lấy ý kiến của
các phòng chức năng khác: lấy ý kiến tham gia về khả năng đáp ứng nguồn vốn
đối với nhu cầu vốn của dự án, lãi suất cho vay, tài khoản của doanh nghiệp.
Quá trình thẩm định cho vay thường xuyên được tổng kết và phải báo cáo
lên Hội sở chính thông qua các báo cáo hoạt động kinh doanh tháng. Từ đó Ngân

phát triển chiếm 90-95% số dự án đến với ngân hàng. Thời gian vay của các dự
án cũng tăng lên từ 3 năm đến 5 năm và 7 năm. Quyết định cho vay là khách quan
chứ không chịu sự chi phối chủ quan của một cá nhân nào. Những dự án được
vay đã phát huy tác dụng trong nền kinh tế: tăng thêm nguồn thu cho ngân sách,
tăng lợi nhuận, tạo điều kiện việc làm cho người lao động...
2. Thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Trì -
Hà Nội
2.1 Trình tự thực hiện thẩm định dự án ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Thanh Trì.
Trên cơ sở hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi đến ngân hàng, cán bộ tín
dụng tiến hành thẩm định phương án đầu tư qua hai bước sau:
Điều tra thực tế về doanh nghiệp: Đây là một hoạt động rất quan trọng
trong việc chấp nhận đối tác cho vay. Cán bộ tín dụng của Ngân hàng chủ động
tiếp xúc với khách hàng để tìm hiểu về năng lực pháp lý của khách hàng theo quy
định của pháp luật, năng lực hành vi dân sự của khách hàng, tình hình sản xuất
khả năng kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng.
Thẩm định dự án đầu tư: đây là cơ sở quyết định cho vay của ngân hàng.
Trên cơ sở những thông tin mà khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng có thể lấy
thông tin từ các đối thủ của khách hàng, các tổ chức có quan hệ với khách hàng.
Cán bộ tín dụng lập báo cáo thẩm định trình trưởng phòng tín dụng xem xét
kiểm soát. Dự án được giám đốc xét duyệt cho vay hay không.
2.2 Nội dung thẩm định dự án đầu tư ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh
Trì Hà Nội.
Thẩm định dự án đầu tư là một phần quan trọng trong quy trình tín dụng
của ngân hàng. Tuỳ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động mà mỗi ngân hàng
có cách thức thẩm định khác nhau. Nhìn chung nội dung mà ngân hàng quan tâm
khi tiến hành thẩm định cho vay một dự án đầu tư bao gồm 5C:
- Character (tính cách): vay có nghiêm túc trả không. Chi nhánh xem xét
lịch sử tín dụng của khách hàng như dư nợ trung, dài hạn, mục đích của các
khoản vay, các khoản vay, thu nợ, mức độ tín nhiệm. Tính minh bạch hay những

liệu phân tích dựa trên kết quả hoạt động của khách hàng trong 3 năm gần nhất.
Mục đích của thẩm định là để có những đánh giá chính xác về khả năng hiện tại
của dự án, xác định nhu cầu vay vốn , mục đích vay vốn có hợp lý hay không.
Đối với những khách hàng vay vốn từ lần thứ hai trở đi thì có thể bỏ qua
các tài liệu liên quan đến năng lực pháp lý trừ trường hợp có sự thay đổi, bổ sung
vốn điều lệ, địa chỉ... thì doanh nghiệp phải gửi đến ngân hàng để kịp thời bổ
sung hồ sơ và cán bộ thẩm định tiện theo dõi, đánh giá.
Đánh giá dự án vay vốn: dự án đầu tư được xem xét trên các khía cạnh.
Tổng vốn đầu tư và tính khả thi của phương án nguồn vốn: Tổng vốn đầu tư
được xác định dựa trên phê duyệt của nhà nước. Tổng vốn đầu tư được xác định
dựa trên hạng mục và biểu giá do nhà nước quy định bao gồm:
Vốn xây lắp: bao gồm chi phí khảo sát, thiết kế, xây dựng và lắp đặt thiết
bị.
Vốn thiết bị: bao gồm cả chi phí vận chuyển thuế đối với hàng nhập khẩu
nếu có.
Vốn lưu động cho dự án
Nguồn vốn: bao gồm vốn tự có và đi vay, chi phí của từng loại nguồn vốn,
tỷ trọng của từng loại nguồn vốn. Từ kết quả phân tích tình hình tài chính của chủ
đầu tư để đánh giá khả năng tham gia của nguồn vốn chủ sở hữu. chi phí của từng
loại nguồn vốn, các điều kiện vay đi kèm của từng loại nguồn vốn. Cân đối giữa
nhu cầu vốn đầu tư với khả năng tham gia tài trợ của các nguồn vốn dự kiến để
đánh giá tính khả thi của các nguồn vốn thực hiện dự án từ đó có kế hoạch bỏ vốn
kịp thời nhanh chóng.
Đánh giá tổng quát dự án: cán bộ tín dụng nắm bắt mục tiêu của dự án, sự
cần thiết phải đầu tư dự án thông qua các khía cạnh sau:
Địa điểm xây dựng: địa điểm xây dựng là nơi dự án sẽ phát huy tác dụng,
cơ sở vật chất, hạ tầng hiện có của địa điểm xây dựng có những thuận lợi gì cho
dự án.
Quy mô sản xuất của dự án: quy mô của dự án thể hiện ở công suất thiết
kế, quy cách phẩm chất, mẫu mã của sản phẩm, tay nghề của công nhân. Quy mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status