Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần đầu tư phát triển hạ tầng ALV - Pdf 68

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI”
--------o0o--------

NGUYỄN THỊ LIỄU

KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ALV



“LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI”
--------o0o--------

NGUYỄN THỊ LIỄU

KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ALV

“CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60.34.03.01



toán trưởng, kế toán tổng hợp cùng các cán bộ kế toán viên của Công ty Cổ phần
đầu tư phát triển hạ tầng ALV đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá
trình khảo sát thực tế, thu thập tài liệu phục vụ cho quá trình viết luận văn.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn trường Đại học Thương mại, các thầy
giáo, cô giáo, cán bộ Khoa sau đại học, khoa Kế toán trường Đại học Thương
mại, bạn bè, gia đình, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khích lệ và chia sẻ với
tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!


iii

MỤC LỤC
HÀ NỘI - 2019........................................................................................................... i
HÀ NỘI - 2019.........................................................................................................ii
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................ii
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất xây lắp.................................................................9
1.3.2.1.Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.............................................................20
1.3.2.2.Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.....................................................................21
1.3.2.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công.................................................................22
1.3.2.4.Kế toán chi phí sản xuất chung.............................................................................25
1.3.2.5. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất.......................................................................26
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ....................................................................................................14
GIÁM ĐỐC....................................................................................................................14
Phó Giám Đốc kỹ thuật.................................................................................................14
Phó Giám Đốc kinh doanh............................................................................................14
Đội Xây lắp I..................................................................................................................14



CP SXC
Chi phí sản xuất chung
CP SXKDD
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
DD ĐK
Dở dang đầu kỷ
DDCK
Dở dang cuối kỳ
DN
Doanh nghiệp
DNXL
Doanh nghiệp xây lắp
GTSP
Giá thành sản phẩm

Hợp đồng
HMCT
Hạng mục công trình
KPCĐ
Kinh phí công đoàn
KTQT
Kế toán quản trị
KTTC
Kế toán tài chính
NC
Nhân công
NVL
Nguyên vật liệu

Quyết định

mạnh mẽ theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành
viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Điều này đã đặt các doanh
nghiệp trước một thử thách to lớn, với những cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Do đó,
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải sử dụng hàng loạt các công cụ
quản lý như: Tài chính doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp, kế toán quản trị… Kế
toán với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý, có vai trò
quan trọng đối với công tác quản lý kinh tế tài chính trong doanh nghiệp và trở
thành công cụ không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp muốn
tồn tại và vươn lên khẳng định vị trí của mình cần phải năng động trong tổ chức
quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt cần làm tốt công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành nhằm giảm thiểu chi phí, từ đó hạ giá thành
sản phẩm song vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng sản phẩm.
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, một trong các
vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp là làm thế nào để đạt được lợi
nhuận tối đa, là sản phẩm có giá thành thấp nhất, giá bán hợp lý nhất, sản phẩm tiêu
thụ được nhiều nhất. Muốn vậy doanh nghiệp phải luôn đổi mới công nghệ sản xuất,
nâng cao chất lượng sản phẩm, phải tìm cách tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá
thành sản phẩm.
Cũng như các doanh nghiệp khác, Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Hạ
Tầng ALV muốn đứng vững và tồn tại lâu dài, nhất thiết phải tìm mọi biện pháp để
ngày càng hoàn thiện bộ máy tổ chức, quy trình sản xuất đặc biệt là công tác kế
toán. Hiệu quả của quá trình sản xuất là nhân tố chính để đem lại hiệu quả của toàn
bộ công ty. Trên cơ sở tiềm lực có hạn, để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải cân nhắc, tìm mọi biện pháp với mục đích hạ
thấp chi phí thông qua việc sử dụng tiết kiệm đầu vào, tận dụng tốt nguồn lực sản
xuất hiện có, kết hợp các yếu tố sản xuất một cách tối ưu ... giúp quản lý chi phí, giá
thành theo từng công trình, từng giai đoạn. Từ đó đối chiếu, so sánh với số liệu định
mức, tình hình sử dụng lao động, vật tư, chi phí dự toán để tìm ra nguyên nhân
chênh lệch, kịp thời ra các quyết định đúng, điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh
doanh theo mục tiêu đã đề ra

chi phí sản xuất và giá thành chưa khoa học, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin
cho các nhà quản trị. Vì vậy tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Hạ
Tầng ALV”.
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. Qua quá trình tìm hiểu, tác giả
đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứ về đề tài kế toán chi phí sản xuất và giá


3

thành sản phẩm xây lắp. Mỗi công trình nghiên cứu đều có những nét đặc thù riêng
tuỳ thuộc vào thực trạng của từng đơn vị. Các tác giả đã có những đóng góp nhất
định cho công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và` giá thành sản
phẩm xây lắp nói riêng. Một số công trình cụ thể sau:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quỳnh Phương (2016) bảo vệ tại Trường
Đại học Lao Động – Xã Hội với đề tài luận văn thạc sĩ “ Kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công Ty Cổ Phần Thiết Bị và Vật Liệu Xây
Dựng Hancorp”. Luận văn đã hệ thống lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp. Nghiến cứu của đề tài dưới hai góc độ kế toán tài
chính và kế toán quản trị. Luận văn đã đưa ra được nhưng ưu nhược điểm và những
giải pháp trên hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị để vận dụng vào công
tác tại Công Ty. Tuy nhiên, luận văn chưa nêu được mối quan hệ mật thiết của công
tác kế toán dưới hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị, các giải pháp còn
mang tính độc lập.
Luận văn thạc sĩ của Tác giả Phạm Thu Hương ( 2017) bảo vệ tại Trường Học
Viện Tài Chính với đề tài luận văn “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công Ty Cổ Phần Tư vấn và Xây Dựng Phú Xuân. Luận văn đã
đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản

phẩm xây lắp tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Hạ Tầng ALV.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
xây lắp tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Hạ Tầng ALV.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Để thu thập các thông tin, hệ thống lý luận
chung về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng và thực trạng
công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công Ty Cổ Phần Đầu
Tư Phát Triển Hạ Tầng ALV, tác giả đã thực hiện qua nhiều kênh khác nhau như:
nghiên cứu các quy định của chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán hiện hành, tham
khảo các đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết trên các tạp chí về kinh tế - xã hội,
các văn bản pháp luật liên quan và sổ sách kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm của Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Hạ Tầng ALV.
+ Phương pháp điều tra: tác giả tiến hành khảo sát ở Công Ty Cổ Phần Đầu Tư
Phát Triển Hạ Tầng ALV để thu thập thông tin..
+ Phương pháp phỏng vấn: tác giả thực hiện phỏng vấn trực tiếp giám đốc, kế
toán trưởng, kế toán viên và các nhân viên trong Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát
Triển Hạ Tầng ALV.
+ Phương pháp quan sát thực tế: tác giả quan sát môi trường làm việc, quan sát
việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp,… Trên cơ sở đó thấy được
các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp xử lý thông tin:
Nguồn dữ liệu sau khi được thu thập được, tác giả đã tiến hành sắp xếp, sàng
lọc, phân tích, xử lý dữ liệu. Sau đó lựa chọn những thông tin phù hợp để phục vụ
cho công việc nghiên cứu đề tài. Từ đó, rút ra nhận xét và đưa ra các giải pháp, kiến


5

nghị phù hợp với thực tiễn.

GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp có ảnh
hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Xây dựng cơ bản và đầu tư Xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức
năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới ,
mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định. Nó làm tăng sức mạnh về
kinh tế, quốc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Một đất nước có
một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy
việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hành trước một bước so với các
ngành khác.
Sản phẩm xây dựng là các công trình sản xuất, hạng mục công trình, công
trình dân dụng có đủ điều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Sản phẩm của
ngành xây dựng cơ bản luôn được gắn liền với một địa điểm nhất định nào đó. Địa
điểm đó là đất liền, mặt nước, mặt biển và có cả thềm lục địa. Vì vậy ngành xây
dựng cơ bản là một ngành khác hẳn với các ngành khác. Các đặc điểm kỹ thuật đặc
trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của
ngành. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp được thể hiện cụ thể như sau:
Một là sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc rõ rệt, mỗi sản phẩm là một
công trình hay hạng mục công trình được xây lắp theo thiết kế kỹ thuật, mỹ thuật,
kết cấu, hình thức, bản vẽ thi công, phương pháp thi công, địa điểm thi công khác
nhau, riêng biệt theo từng hợp đồng giao thầu xây lắp của bên giao thầu, đặc biệt
sản phẩm được sản xuất ngay nơi tiêu thụ. Do vậy, việc hạch toán kế toán và
phương pháp kế toán quản trị nhất thiết phải có các dự toán thiết kế thi công. Điều
này giúp cho các doanh nghiệp xây lắp có thể quản trị tương đối chính xác về giá trị
công trình, từ đó lên kế hoạch về tài chính cũng như giám sát các chi phí phát sinh
đối với từng công trình.
Bên cạnh đó, do mỗi sản phẩm xây lắp có tính chất đơn chiếc, riêng lẻ và được
sản xuất theo các hợp đồng giao nhận thầu xây lắp nên chi phí bỏ vào sản xuất thi
công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công
theo các thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở những địa điểm khác nhau với các

nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí… điều này làm cho vốn đầu tư xây
dựng công trình và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bị ứ động lâu tại công
trình đang xây dựng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải lựa chọn phương
án có thời gian xây dựng hợp lý, phải thường xuyên kiểm tra chất lượng chặt chẽ,
phải có chế độ thanh toán giữa kỳ và dự trữ vốn phù hợp, đồng thời khi lập kế
hoạch xây dựng doanh nghiệp phải cân nhắc thận trọng để thấy rõ được các yêu cầu
về vật tư, tiền vốn, nhân công của công trình, quản lý, theo dõi các khoản mục chi
phí trong quá trình sản xuất thi công chặt chẽ nhằm đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm.
Mặt khác do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thành không xác
định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp thông thường mà được xác định


8

tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình được thể hiện qua phương
pháp lập dự toán và phương thức thanh toán giữa hai bên giao thầu và nhận thầu.
Cũng do chu kỳ sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài nên đối tượng tính giá thành có
thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước là điểm dùng kỹ thuật
hợp lý. Sản phẩm xây lắp có kích thước và trọng lượng lớn nên đòi hỏi số lượng lao
động, số lượng nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất lớn, khác nhau,
vì vậy giá thành sản phẩm xây lắp rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng
giai đoạn. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ
đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất, đánh giá đúng đắn
tình hình quản lý thi công trong từng thời kỳ nhất định.
Bốn là hoạt động xây lắp thường tiến hành ngoài trời, chịu tác động trực tiếp
bởi điều kiện môi trường thiên nhiên và thường bị gián đoạn do những thay đổi bất
thường của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc. Năng lực sản xuất của doanh
nghiệp xây lắp không được sử dụng hài hòa trong quá trình xây dựng sẽ gây khó
khăn cho việc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tư nhiều hơn. Do đặc
điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp trong quá trình thì công cần quản lý lao

Bảy là sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do điều
kiện của địa điểm xây dựng đem lại.
Cùng một loại công trình xây dựng nhưng nếu nó được tiến hành xây dựng ở
những nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng, nhân công và cơ sở cho thuê
máy xây dựng thì nhà thầu có nhiều cơ hội thu được lợi nhuận cao hơn so với các
địa điểm xây dựng khác. Do đó quản lý chi phí trong xây dựng không thống nhất
được cho mọi công trình. Việc thống nhất hóa, điển hình hóa các mẫu mã sản phẩm
và các công nghệ chế tạo sản phẩm xây dựng gặp nhiều khó khăn.
1.2. Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.1. Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất xây lắp
1.2.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp
Quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây lắp là quá trình biến đối
một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào dưới tác dụng của máy móc
thiết bị cùng với sức lao động của công nhân. Nói cách khác, các yếu tố tư liệu lao
động, đối tượng lao động và sức lao động. Hao phí của những yếu tố này biểu hiện
dưới hình thức giá trị gọi là chi phí sản xuất
Như vậy, chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao
động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra để
tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳ nhất định.
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại, nhiều khoản,
khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí…trong quá trình kinh
doanh. Vì vậy để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí sản xuất ,
doanh nghiệp cần phải phân loại chi phí sản xuất.
Việc phân loại một cách khoa học, thống nhất không những mang lại ý nghĩa
quan trọng đối với công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp


10


được phân chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm giá toàn bộ chi phí nguyên vật
liệu chính, phụ hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực
tế sản phẩm xây lắp và giúp việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp


11

- Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí về tiền công, tiền lương, các khoản
phụ cấp trả trực tiếp cho công nhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là chi phí sử dụng máy để hoàn thành sản
phẩm xây lắp gồm: Chi phí khấu hao máy thi công, chi phí thường xuyên máy thi
công, động lực, tiền lương của công nhân điều khiển máy và các chi phí khác của
máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và
quản lý sản xuất tại các đội sản xuất, phân xưởng. Chi phí sản xuất chung bao gồm:
Lương nhân viên quản lý đội, tiền ăn ca và các khoản trích theo lương theo tỷ lệ quy
định ( bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) của công nhân trực tiếp
xây lắp, công nhân điều khiển xe, máy thi công và nhân viên quản lý đội, chi phí
khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội, chi phí công cụ dụng cụ và các
chi phí khác phát sinh trong kỳ liên quan đến hoạt động của đội.
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này chỉ rõ chi phí doanh nghiệp bỏ ra
cho từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở cho việc
tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục, phân tích tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành...
c, Phân loại chi phí sản xuất xây lắp theo mối quan hệ giữa chi phí với đối
tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất xây lắp được chia thành chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp.
Chi phí trực tiếp là chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí.

1.2.2.1.Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động
sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tới khối
lượng xây lắp đã hoàn thành.
Trong doanh nghiệp xây dựng, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ các khoản hao phí về vật liệu, nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và
các chi phí sản xuất chung mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra liên quan đến CT,
HMCT hay khối lượng công trình đã hoàn thành.
1.2.2.2.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm. Có thể phân loại giá thành sản
phẩm theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ thuộc vào tiêu chí, mục đích, có thể phân
loại theo các tiêu thức sau:
a ,Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán, giá
thành kế hoạch và giá thành thực tế.
+ Giá thành dự toán
Giá thành dự toán là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành một khối lượng sản
phẩm xây lắp công trình, hạng mục công trình. Giá dự toán được xác định trên cơ
sở các định mức kinh tế, kỹ thuật và đơn giá của Nhà nước. Giá thành dự toán được
tính theo công thức:
Z dự toán = T + C + T


13

Trong đó: - T: Chi phí trực tiếp (vật liệu, nhân công, máy)
- C: chi phí chung
- TL: Thu nhập chịu thuế tính trước
Mặt khác, đơn giá về vật liệu, nhân công, máy của các cơ quan có thẩm quyền
ban hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường. Chính vì vậy Z dự toán không theo


14

- Giá thành thực tế công trình, hạng mục công trình hoàn thành: Bao gồm toàn
bộ chi phí thực tế bỏ ra để tiến hành thi công công trình, hạng mục công trình từ khi
khởi công đến khi hoàn thành, bàn giao cho đơn vị chủ đầu tư.
b, Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí cấu thành
Theo phạm vi phát sinh chi phí cấu thành thì giá thành sản phẩm xây lắp được
chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.
+ Giá thành sản xuất ( hay còn gọi là giá thành công xưởng) : là chỉ tiêu phản
ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
trong phạm vi phân xưởng sản xuất. Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất
bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí
sản xuất chung.
+ Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) :là chỉ tiêu phản ánh
toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Chi phí
Giá thành toàn
Giá thành sản xuất
Chi phí bán
quản lý
bộ của sản
=
+
+
của sản phẩm
hàng
doanh
phẩm

lý giá thành sản phẩm luôn gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
Từ công thức trên ta thấy, các khoản chi phí hợp thành giá thành sản phẩm
nhưng không phải mọi chi phí sản xuất đều được tính vào giá thành sản phẩm, mà
chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ các khoản đã chi ra trong kỳ phục vụ cho xây
dựng đối với các doanh nghiệp xây lắp và giá thành chỉ giới hạn số chi phí đã chi ra
liên quan đến CT, HMCT hoàn thành. Có những chi phí được tính vào giá thành
nhưng không được tính vào chi phí kỳ này ( là các chi phí phân bổ nhiều kỳ). Có
nhiều chi phí phát sinh trong kỳ nhưng chưa có sản phẩm hoàn thành. Do đó, chưa
có giá thành.
1.2.3. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh
nghiệp xây lắp
1.2.3.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản xuất
phát sinh được tập hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí và yêu cầu
tính giá thành.
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức
kế toán chi phí sản xuất. Lựa chọn chính xác đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có
tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho
việc tính giá thành sản phẩm được chính xác kịp thời.
Trong quá trình sản xuất, các CPSX thường được phát sinh ở những tổ, đội sản
xuất khác nhau. Như vậy để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp CPSX cần căn cứ
vào các yếu tố sau:
- Tính chất sản xuất, loại hình sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất.
- Yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ chuyên môn


16

nghiệp vụ bộ phận kế toán của doanh nghiệp.

đó, kế toán phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất, trình độ, yêu cầu quản lý
và đặc điểm chi phí để lựa chọn.
1.3. Kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp trên góc độ kế
toán tài chính
1.3.1. Kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp theo hướng dẫn
của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam, kế toán chi phí sản xuất và


17

tính giá thành sản phẩm chịu ảnh hưởng của những chuẩn mực sau:
a, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01-VAS 01 ban hành kèm theo quyết định
số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002, kế toán chi phí cần tuân thủ 7
nguyên tắc kế toán sau:
Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan
đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ
kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực
tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích, phản
ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Tuân thủ nguyên tắc này, đối với công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm thì những chi phí sản xuất được ghi sổ kế toán tại thời điểm thực tế
phát sinh chi phí. VD: một tài sản được mua vào tháng 02/2019 bằng tiền mặt,
nhưng đến tháng 05/2019 mới đưa tài sản vào sử dụng để sản xuất kinh doanh thì
chi phí khấu hao tài sản được tính từ tháng 05/2019 trở đi, thời điểm này kế toán ghi
nhận bút toán trích khấu hao tài sản vào chi phí sản xuất kinh doanh mà không cần
căn cứ là thực tế có chi tiền hay không.
Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được
tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị
hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Như vậy, giá trị của tài

tin kế toán cung cấp đảm bảo tính trung thực, khách quan.
Thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập
các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng
đòi hỏi: Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn, không đánh giá cao
hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, không đánh giá thấp hơn giá trị
của các khoản nợ phải trả và chi phí. Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi
có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế. Doanh nghiệp được
ghi nhận chi phí sản xuất khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
Trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông
tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài
chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.
Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc sai sót được
đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét
trên cả 2 phương diện định lượng và định tính.
Tuân thủ nguyên tắc này trong kế toán chi phí sản xuất sẽ làm cho chi phí sản
xuất của doanh nghiệp mang tính tin cậy, đồng thời không làm ảnh hưởng đến bản
chất của nghiệp vụ.Tức là giá trị tài sản, công nợ vẫn được ghi nhận vào chi phí
nhằm mục đích thu hồi vốn nhưng việc ghi nhận này mang tính phù hợp giữa doanh
thu với chi phí, phù hợp với quy mô, khả năng gánh chịu chi phí của doanh nghiệp.
b, Theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam - VAS 15 ban hành theo
quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002, chi phí của hợp đồng
xây dựng gồm:
Chi phí liên quan trực tiếp đến hợp đồng: Các chi phí này bao gồm:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status