1
Phân tích thực trạng công tác tạo động lực cho người lao
động tại Tổng Công ty Xi măng Việt Nam thời gian qua
2.1 Tổng quan về Tổng Công ty Xi măng Việt Nam.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Xi măng Việt
Nam
Sản xuất xi măng là một trong những cơ sở công nghiệp được hình thành và
phát triển sớm nhất ở Việt Nam. Nhà máy đầu tiên của ngành Xi măng Việt Nam là
nhà máy Xi măng Hải Phòng được khởi công xây dựng ngày 25/12/1899 với nhãn
mác con Rồng Xanh, Rồng Đỏ đã có mặt có mặt trên nhiều thị trường tiêu thụ ở các
nước Viễn đông, Java, Hoa Nam, Singapore...
Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, ngoài Nhà máy xi măng Hải Phòng và
một số cơ sở xi măng lò đứng, ngành xi măng còn tiếp quản nhà máy xi măng Hà
Tiên với công suất 300.000 tấn/năm, nhà máy xi măng Bỉm sơn (Thanh Hóa) với
công suất 1,2 triệu tấn Clinker/năm và Nhà máy xi măng Hoàng Thạch với công suất
1,1 triệu tấn Clinker/năm
Năm 1979 Liên hiệp các xí nghiệp xi măng được thành lập và đến 1993, được
đổi tên thành Tổng Công ty Xi măng Việt Nam. Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập Tổng Công ty Xi măng Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng
công ty 91 trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị lưu thông, sự nghiệp của Ngành xi măng.
Tổng Công ty Xi măng còn liên doanh với Tập đoàn Chinfon và Thành phố Hải
Phòng xây dựng nhà máy xi măng Chinfon công suất 1,4 triệu tấn/năm, liên doanh
với Hoderbank Financial Glaris Ltd (Thuỵ Sỹ) xây dựng nhà máy xi măng Sao Mai
(Hòn Chông, Kiên Giang) công suất 1,76 triệu tấn/năm, liên doanh với Nihon Cement
Corporation và Mitsubishi Materials Corporation (Nhật) xây dựng nhà máy xi măng
Nghi Sơn (Thanh Hoá) công suất 2,2 triệu tấn/năm.
Tổng Công ty Xi măng Việt nam là một trong 17 Tổng công ty được tổ chức và
hoạt động thí điểm theo mô hình Tập đoàn kinh tế.
2
Với mục tiêu: "Xây dựng Tổng công ty xi măng Việt nam thành Tập đoàn kinh
tế mạnh, có công nghệ sản xuất hiện đại, sản phẩm có chất lượng cao, có xuất khẩu
bảo hiểm, tài chính, ngân hàng; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, xi măng và lao động;
điều trị bệnh nghề nghiệp và phục hồi chức năng; thương mại, khách sạn, du lịch và
các dịch vụ công cộng.
- Các ngành, nghề khác phù hợp quy định của pháp luật.
2.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Xi măng
Việt Nam trong thời gian vừa qua
Qua bảng 2.1 cho thấy doanh thu thu và lợi nhuận của Tổng công ty giai đoạn
2004 -2008 tăng dần qua các năm từ 12.819 tỷ đồng (năm 2004) lên tới 17.661 tỷ
đồng (năm 2005) với tốc độ tăng doanh thu bình quân là 9,45%/ năm. Cùng với sự
tăng trưởng về doanh thu, lợi nhuận của Tổng công ty đạt được trong 5 năm qua cũng
đã có sự tăng trưởng vượt bậc với mức lợi nhuận năm 2008 là 1.455,568 tỷ đồng, gấp
3,06 lần lợi nhuận năm 2004.
Hơn nữa, năng suất lao động tính theo doanh thu của tổng công ty và tiền lương
bình quân của người lao động cũng không ngừng được cải thiện và tăng dần qua các
năm. Cụ thể năng suất lao động bình quân tăng từ 68,172 triệu đồng/người/tháng năm
2004 lên đến 95,160 triệu đồng/người/tháng năm 2008 trong khi tiền lương bình quân
tăng từ 3,419 triệu đồng tới 5,896 triệu đồng/người/tháng. Tuy nhiên, khi so sánh
giữa tốc độ tăng năng suất lao động bình quân và tốc độ tăng tiền lương bình quân
cho thấy tốc độ tăng tiền lương bình quân luôn lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao
động bình quân. Sự chênh lệch này nguyên nhân một phần lớn là do qui định về tăng
mức lương tối thiểu chung từ 290.000 đồng năm 2004 đến 540.000 đồng năm 2008
tương đương mỗi năm tăng 21,55%; ngoài ra còn do sự tăng năng suất lao động, số
người được nâng bậc lương hàng năm.
4
Bảng 2.: Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam giai đoạn 2004 -2008
TT Chỉ tiêu ĐVT 2004 2005 2006 2007 2008
Bình quân
2004-2008
1 Doanh thu
Tỷ đồng
-
12,81 11,93 20,78 13,08
-
Nguồn: Số liệu báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty xi măng Việt Nam 2004-2008
5
Như vậy, trong thời gian vừa qua tuy còn gặp nhiều khó khăn, trong giai đoạn
chuyển đổi mô hình công ty cũng như chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính
nhưng với chiến lược phát triển đúng đắn, không ngừng đầu tư đổi mới công nghệ, áp
dụng các phương pháp quản lý tiên tiến, có một đội ngũ nhân lực chất lượng cao,
nhiệt tình hăng say gắn bó với công việc, tổng công ty vẫn trên đà duy trì và phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh đạt mức doanh thu và lợi nhuận cao, không
ngừng nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động từ đó củng cố và
nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
2.1.4 Các đặc điểm của TCT Xi măng Việt Nam ảnh hưởng đến tạo động
lực cho người lao động
2.1.4.1 Đặc điểm về vốn
Bảng 2.2: Số liệu thống kê về kết quả tài chính
Đơn vị tính: Tỷ đồng, %
TT Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008
1 Tổng tài sản Tỷ đồng 22.692 27.834 38.718
2
Nguồn vốn CSH
Tỷ đồng
9.199 12.187 16.387
3
Tỷ trọng vốn CSH/ Tổng tài sản
%
40,53 43,78 42,42%
4
LN ròng/ Vốn CSH(ROE)
Nữ 3207 20,99 3141 21,62 3350 21,66
Nguồn: Số liệu thống kê của Tổng công ty xi măng Việt Nam
Xét theo giới tính và nhóm tuổi:cho thấy lao động nam tại Tổng công ty chiếm đa số
và có xu hướng giảm nhẹ về tỷ trọng từ 79,01% (2006) xuống còn 78,34%
(2008) trong khi đó tỷ trọng nữ có xu hướng tăng tương ứng từ 20,99% lên
21,66% (bảng 2.3).
Đối với một ngành sản xuất công nghiệp với đặc thù công việc nặng nhọc, độc
hại, phù hợp với lao động nam hơn lao động nữ như ngành xi măng thì cơ cấu lao
động theo giới tính của Tổng Công ty là hoàn toàn hợp lý. Tuy phần lớn số lao động
tại tổng công ty là nam nhưng nhu cầu đối với công việc của nam và nữ là khác nhau
nên khi tiến hành công tác tạo động lực lao động cũng cần phải quan tâm đến việc
xác định nhu cầu của lao động theo giới tính để đưa ra các biện pháp tạo động lực
phù hợp, thỏa mãn nhu cầu của người lao động.
7
Độ tuổi trung bình của lực lượng lao động trong Tổng công ty là 39,76 trong đó
nhóm độ tuổi từ 30 tuổi đến dưới 50 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất tới 68,01%, đây
chính là nhóm tuổi có nhiều kinh nghiệm trong công việc, là lực lượng nòng cốt tạo
điều kiện để phát triển doanh nghiệp (Hình 2.1). Do đặc điểm về độ tuổi khác nhau
nên nhu cầu đối với công việc của mỗi nhóm tuổi cũng khác nhau. Đối với những
người lao động trẻ có thể quan tâm hơn đến mức lương hấp dẫn, cơ hội học tập, cơ
hội thăng tiến, trong khi đó những người lao động cao tuổi và có thâm niên công tác
thì nên thiết kế lại công việc theo hướng làm mới mẻ công việc, giao thêm trách
nhiệm, giao quyền tự chủ trong công việc và công việc ổn định
Hình 2.: Cơ cấu lao động của TCTXMVN theo nhóm tuổi năm 2008
Nguồn: Số liệu thống kê của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam
Nếu xem ở khía cạnh theo trình độ chuyên môn: qua bảng 2.4 cho thấy lực
lượng lao động tại Tổng công ty xi măng Việt Nam có chất lượng tương đối cao trong
đó và có xu hướng tăng lên về tỷ trọng lao động có trình độ đại học và trên đại học,
công nhân kỹ thuật tuy nhiên tốc độ tăng tương đối chậm. Trong khi đó tỷ trọng lao
động chưa qua đào tạo có xu hướng giảm. Lực lượng lao động có trình độ ngày càng
Nguồn: Số liệu thống kê của Tổng công ty xi măng Việt Nam
Tiến hành nghiên cứu ở 3 Công ty xi măng Bút Sơn, Hoàng Thạch và Tam Điệp
thì tỷ trọng lao động gián tiếp cũng chỉ chiếm lần lượt là 25,8%; 28,86% và 29,24%.
Điều này cho thấy cơ cấu bộ máy quản lý của Toàn tổng công ty vẫn còn tương đối
cồng kềnh, làm tăng chi phí quản lý, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty do đó cần phải tinh giảm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp, giảm chi phí gián tiếp và tạo động lực thúc đẩy người lao động làm
việc. hiệu quả hơn.
2.1.4.3 Đặc điểm về qui trình công nghệ.
Hiện tại, Tổng công ty Xi măng Việt Nam đang sử dụng 2 loại dây chuyền công
nghệ sản xuất xi măng đó là phương pháp lò quay khô – công nghệ hiện đại của các
9
nước Tây Âu với quá trình sản xuất khép kín và điều khiển tự động tại phòng điều
khiển trung tâm từ khâu tiếp nhận nguyên, nhiên vật liệu cho đến khâu đóng bao
(phụ lục 3 ). Với phương pháp này đòi hỏi những người lao động phải có trình độ
cao, phải được đào tạo bồi dưỡng thường xuyên để có thể hiểu rõ nguyên lý hoạt
động của thiết bị để có thể vận hành thiết bị một cách tốt nhất. Còn phương pháp ướt
với dây chuyền công nghệ lạc hậu vẫn đang được sử dụng ở một số nhà máy, tuy
nhiên công ty cũng đã có kế hoạch chuyển dang dây chuyền công nghệ hiện đại hơn.
Do qui trình kỹ thuật công nghệ sản xuất phức tạp phải trải qua nhiều công đoạn nên
đòi hỏi phải sử dụng qui mô lao động lớn, với nhiều loại lao động ở các ngành nghề
và có trình độ khác nhau. Do đó, đòi hỏi cần phải có những biện pháp tạo động lực
phù hợp với tưng nhóm lao động khác nhau.
2.1.4.4. Cơ cấu tổ chức.
Tổng công ty Xi măng Việt Nam hiện nay đang hoạt động theo mô hình Công
ty mẹ - công ty con với cơ cấu tổ chức ma trận ( sơ đồ 2.3)
- Hội đồng quản trị là cơ quan trực tiếp quản lý điều hành Tổng công ty để thực
hiện các chiến lược phát triển.
- Ban kiểm soát: có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong mọi hoạt
động quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của Tổng công ty.
Trường CĐ Nghề XM
Trung tâm Đào tạo xi măng
TT CNTT & Tạp chí XM
12
CTY XM Tam Điệp
CTY CP XM Bút Sơn
CTY XM Hải Phòng
CTY CP Bao bì Bút Sơn
CTY CP Bao bì Hoàng Thạch
CTY LD XM CH.Phong
CTY CP Bao bì Hải Phòng
CTY CP XM Bỉm Sơn
CTY XM Hoàng Mai
CTY CP Bao bì Bỉm Sơn
CTY XM Hải Vân
CTY CP Đá xây dựng Hòa Phát
13
CTCP XM-VLXD-XL Đà Nẵng
CTY LD XM Nghi Sơn
CTCP Thạch cao XM Huế
CTY CP Vận tải Hà Tiên
CTY XM Hà Tiên 1
CTCP XMHT2-Cần Thơ
CTY CP XM Hà Tiên 1
CTY LD XM HOLCIM VN
CTCP B.bì XMHT2-Kiên Giang
CTY LD BETON LAFARGE
CTY CP Tấm lợp Đồng Nai
CTCP Vật Tư-Vận tải Xi Măng
14
Phối hợp nghiệp vụ
Nguồn: Phòng Tổ chức lao động Tổng công ty xi măng Việt Nam
17
2.2 Phân tích thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động
tại Tổng công ty xi măng Việt Nam trong thời gian vừa qua
2.2.1. Kết quả công tác tạo động lực cho người lao động trong thời gian vừa
qua
Động lực lao động có tác động trực tiếp đến hiệu quả lao động của người lao
động. Do đó để đánh giá kết quả công tác tạo động lực cho người lao động có thể đánh
giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
Bảng 2.6: Kết quả công tác tạo động lực cho người lao động tại
Tổng Công ty Xi măng Việt Nam giai đoạn 2005-2008
Chỉ tiêu ĐVT 2005 2006 2007 2008
NSLĐ bình quân
trđ/ng/th
69,214 76,378 85,289 95,160
Tốc độ tăng NSLĐBQ
%
1,53 10,35 11,67 11,57
Lợi nhuận/doanh thu 0,043 0,062 0,083 0,119
Nguồn: Số liệu tính toán từ báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công
ty xi măng Việt Nam
Động lực lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện công việc của
người lao động và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua bảng
2.1 và 2.6 cho thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty có sự phát
triển trong giai đoạn 2004-2008 với biểu hiện cụ thể là sự tăng lên về doanh thu, lợi
nhuận và năng suất lao động. Số liệu cụ thể trong bảng 2.1 và đã được phân tích ở trên.
Bên cạnh đó thì chỉ số lợi nhuận trên doanh thu của Tổng công ty cũng tăng từ 0,043
năm 2005 lên 0,119 năm 2008, tức là cứ 1 đồng doanh thu tạo ra 0,119 đồng lợi nhuận.
Với những thành công đã đạt được đó, không thể phủ nhận những đóng góp của công
19
Chỉ tiêu
Hài lòng với công việc
Hoàn toàn
không hài
lòng
Không hài
lòng
Không có
ý kiến rõ
ràng
Gần như
hài lòng
Hoàn
toàn hài
lòng
Tổng
Trưởng, phó các
phòng ban
0 0 2 10 4 16
0% 0% 12,5% 62,5% 25,0% 100%
Trưởng, phó
phân xưởng
2 4 9 21 4 40
5,0% 10% 22,5% 52,5% 10% 100%
Viên Chức
CMNV
4 3 3 20 1 31
12,9% 9,7% 9,7% 64,5% 3,2% 100%
Công nhân viên
hài lòng
Không
hài lòng
Không
có ý kiến
rõ ràng
Gần như
hài lòng
Hoàn
toàn hài
lòng
Tổng
Chia theo giới tính
Nam
12 33 71 104 25 245
4,9% 13,5% 29% 42,4% 10,2% 100%
Nữ
4 0 5 16 2 27
14,8% 0% 18,5% 59,3% 7,4% 100%
Chia theo nhóm tuổi
Dưới 30 tuổi
7 12 24 36 7 86
8,1% 14,0% 27,9% 41,9% 8,1% 100%
Từ 31 - 40 tuổi
2 12 34 34 6 88
2,3% 13,6% 38,6% 38,6% 6,8% 100%
Từ 41 - 50 tuổi
5 7 12 33 6 63
7,9% 11,1% 19% 52,4% 9,5% 100%
Trên 50 tuổi
hài lòng
Hoàn toàn
hài lòng
Tổng
Từ đại học trở lên
7 9 24 51 10 101
6,9% 8,9% 23,8% 50,5% 9,9% 100%
Cao đẳng
0 4 7 4 3 18
0% 22,2% 38,9% 22,2% 16,7% 100%
Trung cấp
5 8 21 23 4 61
8,2% 13,1% 34,4% 37,7% 6,6% 100%
Đào tạo nghề
4 12 24 42 10 92
4,3% 13,0% 26,1% 45,7% 10,9% 100%
Nguồn: Kết quả khảo sát về động lực lao động của người lao động tại 3 công ty xi măng
thành viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam
Bảng 2.9 trên cho thấy những người có trình độ càng cao thì mức độ hài lòng đối
với công việc càng cao, trong khi đó những người có trình độ thấp thì mức độ không
hài lòng càng tăng lên. Điều này có thể lý giải rằng những người có trình độ cao, có khả
năng đảm nhiệm những công việc phức tạp, có cơ hội thăng tiến, có mức lương cao...
nên có nhiều khả năng hài lòng với công việc trong khi đó những người lao động có
trình độ thấp thường đảm nhiệm những công việc đơn giản, mức lương thấp, ít có điều
kiện phát triển, thậm chí công việc nhiều khi không ổn định. Vì vậy, doanh nghiệp cần
quan tâm tới công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tăng cường bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn và tay nghề cho người lao động, từ đó giúp người lao động
hiểu biết về công nghệ, làm chủ thiết bị, đem lại năng suất lao động cao hơn.
Như vậy, qua kết quả khảo sát cho thấy phần lớn người lao động trong công ty đã
có sự hài lòng đối với công việc, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận người lao động chưa
i
x L
TTC
Trong đó:
+ TL
1i
là tiền lương CBCNV i phân phối vòng 1
+ H
i
là hệ số lương và phụ cấp theo quy định của Nhà nước phân phối ở vòng 1
+ L
TTC
là mức lương tối thiểu chung của Nhà nước;
+ V
1
là quỹ tiền lương vòng 1
(Trường hợp CBCNV thực hiện không đủ công trong tháng theo quy định thì tiền
lương vòng 1 bằng tiền lương cơ bản ngày x số ngày công thực tế)
Tiền lương đợt 2: được trả căn cứ vào mức độ phức tạp, yêu cầu trách nhiệm,
mức độ hoàn thành công việc được giao và số ngày công thực tế của người lao động,
không phụ thuộc vào hệ số mức lương được xếp theo thang bảng lương qui định tại
Nghị định 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ.
Quỹ lương phân phối ở đợt 2 là phần còn lại của quỹ lương sau khi trừ đi tổng
quỹ lương đã phân phối ở đợt 1 và được phân phối theo côn thức sau:
iiiii
n
j
jjjjj
i
PDKHT
+ P
i
: là hệ số phức tạp, nặng nhọc, độc hại
Tiền lương tháng của CBCNV được tính theo công thức:
TL
i
= TL
1i
+ TL
2i
Trong đó:
+ TL
i
: Tổng tiền lương của người lao động thứ i trong tháng
+ TL
1i
: Tổng tiền lương tháng của người lao động thứ i phân phối ở vòng 1
+ TL
2i
: Tổng tiền lương tháng của người lao động thứ i phân phối ở vòng 2.
Trong đó hệ số chức danh công việc H
i
của được xếp như sau: hàng tháng căn cứ
vào hệ số lương theo chức danh công việc, độ phức tạp của công việc mà CBCNV đảm
nhiệm, khả năng hoàn thành công việc được giao trong tháng của từng CBCNV (kể cả
số lượng và chất lượng công việc), phương pháp tổ chức công việc và cường độ lao
động của công việc đòi hỏi đối với từng CBCNV, hệ số lương chức danh công việc
được quy định như sau:
+ Giám đốc công ty xác định hệ số lương chức danh theo công việc cho: Phó
Giám đốc, Kế toán trưởng, Thủ trưởng các đơn vị trong công ty
12 Tổ trưởng 3,01 3,17 3,52
17 Thủ quỹ, Kế toán, Lao động tiền lương (sơ cấp) 2,05 2,14 2,25
18 Văn thư lưu trữ, Photocoppy, Lễ tân 1,99 2,07 2,18
33 CN vận hành lò, nghiền than 2,78 2,89 3,10
34 CN vận hành cấp liệu lò, khí thải lò 2,58 2,69 2,88
38 Công nhân vận hành máy đóng bao 2,97 3,10 3,34
62 Nhân viên tạp vụ phân xưởng 1,64 1,71 1,85
Nguồn: Trích quy chế phân phối tiền lương Công ty cổ phần xi măng Bút Sơn
Hàng tháng, Phòng Tổ chức lao động căn cứ vào kế hoạch của năm sản xuất, đơn
giá tiền lương do Tổng công ty giao và sản lượng hoặc doanh thu thực trong tháng để
đề xuất quỹ tiền lương chi trả cho người lao động và trình Giám đốc ký duyệt quỹ
lương thực hiện trong tháng.
25
Các đơn vị tiến hành đánh giá thành tích, xếp hệ số chức danh, hệ số thành tích
cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị và gửi phòng Tổ chức lao động trước ngày 02
hàng tháng. Tiếp đó, hội đồng thi đua khen thưởng công ty sẽ họp xem xét và xếp hệ số
thành tích cho các cá nhân và đơn vị trong công ty. Văn bản gửi phòng Tổ chức lao
động làm cơ sở phân phối tiền lương, thưởng cho các bộ công nhân viên trong công ty.
Tiền lương sẽ được trả cho cán bộ công nhân viên trong công ty làm 2 đợt. Đợt 1
tạm ứng tối đa 30% lương tháng trong thời gian từ 15 đến 20 hàng tháng. Đợt 2 quyết
toán lương cả tháng và trả vào thời gian từ 5 đến 10 tháng sau.
Tại một số công ty đã bắt đầu áp dụng hình thức trả lương thông qua tài khoản
ATM, còn lại các công ty vẫn được trả cho người lao động thông qua phòng Tài chính-
Kế toán.
Qua thực tế cho thấy Tổng công ty và các công ty thành viên nhận thức được tầm
quan trọng của tiền lương đối với người lao động nên không ngừng cải tiến tìm các biện
pháp nhằm nâng cao tiền lương cho cán bộ công nhân viên trong công ty gắn với đóng
góp của họ. Với những cố gắng của Tổng công ty trong công tác tiền lương đã đưa tiền
lương bình quân của cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty tăng dần lên qua các
năm từ 3,857 triệu đồng/người/tháng năm 2005 lên 5,896 triệu đồng/người/tháng với