Thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ thực tiễn tòa án nhân dân Nam Sách, tỉnh Hải Dương - Pdf 69

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH MAI HOA

THủ TụC ĐƯA VàO CƠ Sở CAI NGHIệN BắT BUộC,
Từ THựC TIễN TòA áN NHÂN DÂN HUYệN NAM SáCH,
TỉNH HảI DƯƠNG

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2020


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH MAI HOA

THủ TụC ĐƯA VàO CƠ Sở CAI NGHIệN BắT BUộC,
Từ THựC TIễN TòA áN NHÂN DÂN HUYệN NAM SáCH,
TỉNH HảI DƯƠNG
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp v Lut Hnh chớnh
Mó s: 8380101.02

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. V TH THU QUYấN

H NI - 2020


cai nghiện bắt buộc tại Toà án ........................................................... 8

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cơ sở cai nghiện bắt buộc................................ 8
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc....... 10
1.2.

Mục đích, vai trò của việc áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc tại Toà án ......................................................... 13

1.3.

Đối tƣợng, thời hiệu, thẩm quyền và nguyên tắc áp dụng biện
pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại toà án ........................ 16

1.3.1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc tại toà án ..................................................................................... 16
1.3.2. Thời hiệu, thời hạn áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma tuý
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ............................................................. 19
1.3.3. Thẩm quyền của các chủ thể trong việc áp dụng biện pháp đưa
người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc........................... 19
1.3.4. Nguyên tắc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc........ 22
1.4.

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa
ngƣời nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo pháp
luật hiện hành ..................................................................................... 23


1.5.


nghiện bắt buộc ở Tòa án Nh n d n huyện Nam Sách, tỉnh
Hải Dƣơng .......................................................................................... 52

Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 58
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG THỦ
TỤC ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC Ở T A
N NH N D N HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƢƠNG .........59
3.1.

Quan điểm về việc bảo đảm áp dụng thủ tục đƣa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc ở Tòa án Nh n d n huyện Nam Sách,
tỉnh Hải Dƣơng .................................................................................. 59


3.2.

Giải pháp bảo đảm áp dụng thủ tục đƣa ngƣời nghiện ma tuý
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ở Tòa án Nh n d n huyện Nam
Sách, tỉnh Hải Dƣơng ........................................................................ 64

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý .................................. 64
3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Toà án và các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương ................................. 66
3.2.3. Một số giải pháp khác ......................................................................... 68
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 74


DANH MỤC C C CHỮ VIẾT TẮT


Xử lý vi phạm hành chính


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Số người bị T a án Nh n d n huyện Nam Sách quyết
định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc trong các năm 2017 - 2019

43

Độ tuổi và giới tính của người bị T a án Nh n d n
huyện Nam Sách quyết định áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc trong các năm 2017 – 2019

47

Bảng 2.2


MỞ ĐẦU

(GDTXPTT) mà vẫn c n nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng
không có nơi cư trú ổn định nhằm mục đích cách ly người nghiện ma túy khỏi
cộng đồng, buộc họ chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề tại cơ sở cai
nghiện bắt buộc (CSCNBB).
Tính đến nay, BPXLHC ĐVCSCNBB đã được triển khai thực hiện ở
hơn 07 năm trên phạm vi toàn quốc, trong đó có địa bàn huyện Nam Sách. Việc
triển khai quy định của Luật XLVPHC về áp dụng BPXLHC ĐVCSCNBB
mang lại nhiều ý nghĩa trên thực tế: Cải thiện tình hình sức khỏe cho
người nghiện ma túy; ngăn chặn sự gia tăng của tệ nạn ma túy; bảo đảm
trật tự, an toàn xã hội; góp phần kiềm chế gia tăng người nghiện mới và
tạo điều kiện cho người nghiện ma túy tái h a nhập cộng đồng. Mặc dù
vậy, bên cạnh kết quả đạt được nêu trên, việc triển khai áp dụng biện pháp
này trên thực tế c n gặp nhiều hạn chế, vướng mắc. Thực trạng đó đ i hỏi
cần có những nghiên cứu chuyên s u để ph n tích nguyên nh n và xác
định các giải pháp khắc phục.
Xuất phát từ tình hình nêu trên, là một cán bộ làm việc tại Toà án cấp
huyện ở Hải Dương, học viên quyết định chọn đề tài “Th t
i nghiện b t bu
Hải D

t th

ti n T

n nh n

n hu ện

v o


lý vi phạm hành chính” của tác giả Đào Thị Thu An trong Tạp chí nghiên cứu
Lập pháp số 20/2011.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp “Các biện pháp
XLHC khác và việc bảo đảm quyền con người” do Thạc sĩ Đặng Thanh Sơn
làm chủ nhiệm.
- Báo cáo “Sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định 151 của Thủ tướng

3


Chính phủ về cai nghiện - phục hồi” của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Hà Nội năm 2004.
- Tài liệu “Giới thiệu và hướng dẫn áp dụng mô hình cai nghiện có hiệu
quả” của Cục ph ng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Hà Nội 2007.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp một lượng kiến thức,
thông tin lớn về thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc. Đ y là những nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả khi thực
hiện luận văn này.
Mặc dù vậy, hiện vẫn thiếu những công trình nghiên cứu về đề tài ở cấp
cơ sở và các công trình nghiên cứu hiện có vẫn chưa giải quyết được toàn bộ
những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến thủ tục đưa người nghiện ma tuý
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ở toà án. Vì vậy, luận văn này vẫn có ý nghĩa cả
về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. M

í h nghiên ứu

Mục đích của đề tài là nghiên cứu làm rõ thực trạng thực hiện thủ tục

thủ tục tố tụng khác của Toà án.
Về mặt không gian, luận văn chỉ tập trung khảo sát thực tiễn thực hiện
thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ở T a án
Nh n d n huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, không mở rộng nghiên cứu sang
các toà án khác của tỉnh Hải Dương cũng như của các địa phương khác.

5


Về mặt thời gian, luận văn chỉ khảo sát, ph n tích thực trạng thực hiện
thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ở T a án
Nh n d n huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương trong khoảng 3 năm gần đ y.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Ph

ng ph p luận

Luận văn sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số lý thuyết về quyền con người để
làm cơ sở ph n tích các vấn đề đặt ra.
5.2. Ph

ng ph p nghiên ứu

Tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học
xã hội như tổng hợp, thống kê, ph n tích, so sánh để giải quyết các nhiệm vụ
nghiên cứu.
Thêm vào đó, với tư cách là một cán bộ toà án làm việc tại địa bàn
nghiên cứu, tác giả c n sử dụng phương pháp quan sát thực tế và tham vấn
một số thẩm phán, thư ký T a án Nh n d n huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

1.1. Khái niệm, đặc điểm của việc áp dụng thủ tục đƣa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc tại Toà án
1.1.1. Kh i niệm v



iểm

s

i nghiện b t bu

Ở Việt Nam, khái niệm cơ sở cai nghiện bắt buộc chỉ những nơi dùng
để cách ly có thời hạn từ 12 đến 24 tháng những người nghiện ma túy từ đủ
18 tuổi trở lên mà đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
song vẫn c n nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi
cư trú ổn định. Mục đích của việc thành lập các cơ sở cai nghiện bắt buộc là
để tách những đối tượng đã nêu ra khỏi cộng đồng theo quy định của pháp
luật và để giúp họ được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề và cải tạo
thành người bình thường....
Cơ sở cai nghiện bắt buộc được thành lập theo quy định tại Nghị định
số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 06 năm 2012 của Chính phủ, quy định về
thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập. Căn cứ vào tình hình
thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc thành lập,
giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc, phù hợp với quy hoạch được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt. Địa phương có ít người nghiện ma túy có thể gửi đối
tượng đến cơ sở cai nghiện bắt buộc của địa phương khác trên cơ sở thống
nhất giữa hai địa phương.
Có hai loại cơ sở cai nghiện bắt buộc là cơ sở công lập và ngoài công lập.
Phần lớn cơ sở cai nghiện bắt buộc là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc



1.1.2. Kh i niệm ặ

iểm

th t

v o

s

i nghiện b t bu

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hiện là một trong bốn biện pháp
XLHC được quy định tại Luật XLVPHC năm 2012. Đ y là thủ tục do
TAND cấp huyện thực hiện, có hiệu lực áp dụng đối với người nghiện ma
túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn mà vẫn c n nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng
không có nơi cư trú ổn định.
Trước ngày 01 tháng 01 năm 2014, thủ tục đưa người nghiện ma
túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định tại Pháp lệnh XLVPHC
năm 2002, theo đó việc đưa vào cơ sở cai nghiện được áp dụng đối với
người nghiện ma túy và người bán d m, với mục đích là bắt buộc cai
nghiện, chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của
các cơ sở cai nghiện.
Như vậy, theo Pháp lệnh XLVPHC năm 2002, thủ tục đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc nói riêng và các thủ tục XLHC nói chung, mặc dù có tính
chất hạn chế quyền tự do của công d n, nhưng vẫn do người đứng đầu cơ
quan hành chính ở địa phương thực hiện chứ không phải do Toà án.

pháp luật”.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, sự thay đổi thủ tục đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc từ thủ tục hành chính sang thủ tục tư pháp đã được Nhà nước
Việt Nam cam kết trong Báo cáo quốc gia về thực hiện nh n quyền của Việt
Nam (Báo cáo UPR) lần đầu tiên năm 2009, và trong các Chiến lược x y
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn
đến năm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các văn bản này

11


nhấn mạnh đến những giải pháp bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình
sự ở Việt Nam, trong đó bao gồm việc hoàn thiện các thủ tục tố tụng hành
chính và tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, d n chủ, công khai, minh bạch, tôn
trọng và bảo vệ quyền con người.
Về mặt hình thức, quy định về thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Luật XLVPHC 2012 được x y dựng theo
hướng kế thừa các quy định về đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Pháp
lệnh XLVPHC 2002. Mục đích của biện pháp này trong Luật XLVPHC
2012 vẫn được quy định như Pháp lệnh XLVPHC 2002, đó là đưa người vi
phạm vào cơ sở để cai nghiện bắt buộc, lao động, học văn hóa, học nghề
dưới sự quản lý của cơ sở. Thời hạn áp dụng biện pháp này vẫn được quy
định là từ một năm đến hai năm, cơ cấu các điều luật cũng được thể hiện
giống như Pháp lệnh XLVPHC năm 2002. Tuy nhiên, về nội dung, có hai
điểm sửa đổi lớn đó là: (1) hạn chế đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc chỉ bao gồm người nghiện ma túy; (2) sửa đổi
trình tự, thủ tục áp dụng theo hướng công khai, minh bạch hơn nhằm bảo
đảm quyền và lợi ích của công d n [21, tr.64].
Từ những ph n tích trên, có thể xác định những đặc điểm cơ bản của
việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt

cùng ra quyết định.
1.2. Mục đích, vai trò của việc áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc tại Toà án
Việc xác định mục đích của một loại biện pháp cưỡng chế pháp lý cần
xuất phát từ chính vai tr của nó đối với xã hội, đồng thời căn cứ vào đối
tượng áp dụng biện pháp đó.

13


Xét từ cách tiếp cận như nêu trên, thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc tại toà án có vai tr to lớn trong việc giáo dục, cảm
hóa, chữa bệnh và tạo điều kiện cho người nghiện trở thành công d n lương
thiện, có ích cho xã hội, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội, giữ vững trật tự quản lý hành chính nhà nước.
Cụ thể, thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
tại toà án được ban hành và áp dụng nhằm hướng đến các mục đích sau:
Thứ nhất, cai nghiện cho người nghiện ma túy. Như tên gọi của biện
pháp này là đưa vào cơ sở cai nghiện, vì vậy mục đích đầu tiên của biện
pháp này là việc cai nghiện cho những đối tượng được đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc.
Về vấn đề này, khoa học đã chứng minh nghiện ma túy là một bệnh
lý thần kinh về não bộ, có thể chữa trị. Y học đã tìm ra các phương pháp
cai nghiện để khắc phục tình trạng nghiện của người nghiện ma túy, vì
vậy, việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với những đối tượng
này là cần thiết.
Thứ hai, giáo dục, giúp đỡ khôi phục các mối quan hệ của người nghiện
ma tuý với cộng đồng, gia đình và xã hội. Giáo dục là mục đích quan trọng
của thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bắt nguồn
từ bản chất nh n đạo của pháp luật là bên cạnh việc trừng phạt còn tạo điều

nghiêm minh, mà ở đ y là buộc họ phải chịu những hậu quả pháp lý bất
lợi là hạn chế một phần quyền tự do và chịu sự quản lý giám sát của cơ sở
cai nghiện bắt buộc.

15


Thứ tư, phòng ngừa, ngăn chặn khả năng tái phạm của người bị áp
dụng. Do đối tượng bị áp dụng thủ tục này hầu hết là những người nghiện ma
túy mà đã bị xử lý bằng các biện pháp khác nhưng vẫn tái phạm, nên việc đưa
họ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc s có tác dụng ngăn chặn họ tái phạm, tiếp
tục đi vào con đường lầm lạc. Mục đích ph ng ngừa ở đ y bao gồm cả ph ng
ngừa chung và ph ng ngừa riêng. Cụ thể, ph ng ngừa riêng là loại trừ những
nguyên nhân dẫn đến hành vi trái pháp luật và tạo điều kiện cho người bị áp
dụng tái h a nhập cộng đồng. Ph ng ngừa chung là nhằm răn đe, cảnh báo và
ngăn ngừa sự vi phạm của các đối tượng khác trong xã hội.
Tổng hợp lại, việc áp dụng thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc có vai tr to lớn trong việc đảm bảo an ninh trật tự, an
toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và cộng đồng, quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nh n, tổ chức; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng cố trật
tự quản lý hành chính nhà nước, trật tự pháp luật.
1.3. Đối tƣợng, thời hiệu, thẩm quyền và nguyên tắc áp dụng biện
pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại toà án
1.3.1. Đối t ợng bị p
bu

tại to

ng biện ph p


hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp
giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn c n nghiện;
Hai là, người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định,
bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện
ma túy; người được giáo dục sau khi đã chấp hành ít nhất một phần hai thời
gian giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà không tiến bộ, tiếp tục thực hiện
hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong những trường hợp này, Chủ tịch
UBND cấp xã mà đã ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn s ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn và đề nghị áp dụng thủ tục đưa người nghiện ma tuý
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc [7, Điều 35a].
Ba là, người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn
định [12, Điều 1].
Đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp
cách ly ra khỏi cộng đồng, khỏi môi trường xã hội, gia đình, tức là một hình

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status