MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á
3.1. Mục tiêu, định hướng phát triển của ngân hàng
3.1.1. Mục tiêu của ngân hàng
Năm 2007, Chính phủ sẽ tập trung vào các giải pháp thúc đẩy nền
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế. Do đó nhiệm vụ của ngành ngân hàng nói chung và ngân hàng TMCP
Việt á cần tiếp tục huy động vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công
nghiệp hoá- hiện đại hoá, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh ngân hàng đề ra mục tiêu chủ yếu
năm 2007 như sau:
Tập trung chỉ đạo công tác kinh doanh, bám sát các định hướng, nhiệm
vụ, đưa hoạt động của Ngân hàng TMCP Việt á đi đúng hướng đạt vượt mức
mục tiêu đề ra:
* Nguồn vốn tăng trưởng 15% so với năm 2006
* Dư nợ tăng trưởng 10% so với năm 2006
* Lợi nhuận tăng 5% so với năm 2006
3.1.2. Định hướng phát triển của ngân hàng
- Xây dựng ngân hàng từng bước trở thành một ngân hàng thương mại
hiện đại, năng động, có sức cạnh tranh trên cả nước. Là một chi nhánh của
VAB phát triển theo mô hình Ngân hàng có sản phẩm dịch vụ đa dạng, chất
lượng cao. Góp phần nâng cao thị phần và vị thế của VAB trên thị trường.
- Chuyển dịch cơ cấu tài sản theo hướng bền vững và an toàn, kiểm
soát chặt chẽ rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ hiện đại, tăng cường công tác quản trị điều hành.
- Rà soát, cơ cấu lại khách hàng,tập trung khai thác đối tượng khách
hàng là các tầng lớp dân cư, khối giáo viên, sinh viên các trường đại học, các
1
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các công ty cổ phần, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ…
- Phát triển mạng lưới các phòng giao dịch, các bàn tiết kiệm trên địa
Để theo đuổi mục tiêu này ngân hàng nên thực hiện đồng thời các biện
pháp sau:
Thứ nhất, củng cố và phát triển khách hàng truyền thống. Ngân hàng
TMCP Việt á cần đơn giản hoá thủ tục cho vay các doanh nghiệp là khách
hàng truyền thống trên cơ sở đảm bảo an toàn, đáp ứng kịp thời và nhanh
chóng những nhu cầu của doanh nghiệp trong khả năng của ngân hàng, tạo
tâm lý thoải mái, tin tưởng, yên tâm cho khách hàng. Cung cấp các dịch vụ tối
ưu nhất cho những khách hành truyền thống. Đối với các khách hàng có quan
hệ tốt từ trước ngân hàng nên giảm bớt thời gian thẩm định cũng như các quy
định về đảm bảo tiền vay.
Thứ hai, đối với khách hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như
công ty cổ phần, công ty tư nhân… Ngân hàng TMCP Việt á cần có những
chính sách cụ thể để phát huy tiềm năng của đối tượng khách hàng này. Trên
thực tế, sô lượng khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ
trong tổng số lượng khách hàng của ngân hàng. Mặc dù các doanh nghiệp này
tiềm ẩn nhiều rủi ro cao cả từ phía nguyên nhân khách quan và chủ quan,
nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều làm ăn như
vậy, có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, có lãi hoàn trả đầy đủ các
món vay của ngân hàng. Trong thời kì nền kinh tế đang chuyển đổi hiện nay,
số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập tăng đáng kể.
Nếu cứ giữ nguyên tình trạng như hiện nay, ngân hàng sẽ bỏ qua một nguồn
lợi lớn, giảm khả năng cạnh tranh trong khu vực
Thứ 3, mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới. Ngân hàng cần
tích cực bằng mọi biện pháp để thu hút khách hàng thuộc khu vực Nhà nước
3
để cho vay khép kín với chu trình sản xuất. Đồng thời thiết lập và nâng cao
hiệu quả xử lí thông tin tín dụng trên cơ sở ngân hàng phải lựa chọn khách
hàng bằng nhiều biện pháp cần thiết để mở rộng thị phần khách hàng đối với
các tổng công ty.
Thông qua việc xây dựng chiến lược khách hàng, mà ngân hàng có thể
vai trò của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng cũng nên quan tâm đến cho vay
nhành nghề truyền thống của khách hàng, tập trung cho vay những ngành
nghề kinh doanh ít chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế và
lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam… Bằng cách này ngân hàng có thể phân
tán được rủi ro, tăng lợi nhuận. Để làm tốt điều này Ngân hàng TMCP Việt á
cần phải tập trung tìm kiếm, khai thác hơn nữa các khách hàng thuộc ngành
này, nâng cao công tác thẩm định dự án, nâng cao nghiệp vụ của cán bộ tín
dụng về lĩnh vực này.
3.2.3. Thực hiện có hiệu quả quy trình nghiệp vụ tín dụng
Quy trình nghiệp vụ tín dụng bao gồm những nội dung kĩ thuật nghiệp
vụ cơ bản, các bước tiến hành từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc một món vay mà
những điểm chính là khâu thẩm định mặt hiệu quả tài chính của món vay,
kiếm tra kiểm soát việc sử dụng vốn vay trong quá trình vay của khách hàng,
nhắc nhở khách hàng về thời gian trả nợ và lãi để khách hàng có kế hoạch trả
nợ… đây là những công việc cần thiết đối với cán bộ tín dụng khi tiến hành
cho vay để hạn chế khả năng mất vốn, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất.
Để cho vay đạt hiệu quả cao khi cho vay, cần thực hiện đầy đủ và chặt chẽ
quy trình cho vay, đặc biệt làm tốt công tác thẩm định dự án vay vốn, nắm bắt
được các thông tin về khách hàng, tình hình sản xuất kinh doanh của khách
hàng, mục đích sử dụng vốn, làm tốt công tác thẩm tra trong mỗi công đoạn
của quá trình cho vay nhằm nâng cao chất lượng cho vay, giảm rủi ro cho
ngân hàng, thúc đẩy sản xuất phát triển bởi nếu phương án dự án vay vốn khả
thi, khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả thì khả năng trả nợ cho ngân
5
hàng gần như là chắc chắn. Mức độ trong các khâu thẩm định, kiểm tra, kiểm
soát càng cao thì khả năng thu hồi của ngân hàng càng lớn và điều này đảm
bảo chất lượng tín dụng của ngân hàng. Do vậy, việc hoàn thiện về nghiệp vụ
trong quá trình tín dụng là một việc hết sức cần thiết.
3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với các khoản
tín dụng.
quá hạn cao hơn mức cho phép so với tổng dư nợ thì chất lượng tín dụng ở
ngân hàng đó không tốt. Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp hơn so với tồng dư
nợ thì chất lượng tín dụng của ngân hàng đó là tốt. Do vậy, việc nâng cao chất
lượng cho vay đồng nghĩa với việc duy trì tỉ lệ nợ quá hạn ở mức hợp lí trên
tổng dư nợ qua việc ngăn ngừa nợ quá hạn phát sinh và giải quyết dứt điểm
nợ quá hạn phát sinh.
Ngăn ngừa nợ quá hạn phát sinh : Với phương châm ”phòng cháy hơn
chữa cháy” ngân hàng cần có biện pháp theo dõi chặt chẽ tình hình hoạt động
của người vay nhằm phát hiện sớm khả năng phát sinh nợ quá hạn để có biện
pháp can thiệp hoặc giúp đỡ người vay có thể trả nợ đúng hạn. Một số dấu
hiệu cho thấy khả năng phát sinh nợ quá hạn đó là :
+ Doanh nghiệp trì hoãn nộp báo cáo tài chính
+ Chậm trễ trong việc dàn xếp các cuộc kiểm tra nhà máy
+Sự suy giảm sự tin cậy , hợp tác giữa cán bộ ngân hàng và khách hàng
+ Số dư tiền gửi giảm sút
+ Sự gia tăng bất thường số hàng hoá tồn kho và gia tăng các khoản
phải thu chứng tỏ chất lượng hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp giảm hoặc
do bán cho các khách hàng yếu kém về tài chính.
+ Sự gia tăng các tài sản cố định, sự bành trướng thông qua việc mua
hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp khác.
+ Thiên tai như bão lụt, hoả hoạn .
7
+ Hoàn trả nợ vay hoặc quá thời hạn, đây là dấu hiệu rõ ràng nhất về
khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Khi có dấu hiệu cho thấy người vay không có khả năng trả được nợ
đúng hạn, việc đầu tiên của cán bộ tín dụng cần làm là đánh giá mức độ
nghiêm trọng của vấn đề và áp dụng các biện pháp để điều chỉnh tình huống
nhằm bảo vệ lợi ích của ngân hàng và khôi phục lại năng lực của người đi vay
như:
+ Cán bộ tín dụng có thể cố vấn cho người vay hoặc mời chuyên gia để
dụng theo từng tháng, kịp thời khen thưởng đối với các cá nhân hoàn thành
xuất sắc, khuyên khích những sáng kiến giải quyết nợ qúa hạn, xử lý nghiêm
những cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, ý thức chưa tốt.
Nếu nợ quá hạn do các nguyên nhân khách quan thì ngân hàng có thể
gia hạn thêm, điều chỉnh hợp đồng tín dụng cho tương ứng với kỳ hạn có thể
thu đựoc lợi nhuận của người vay. Ngược lại, nếu khách hàng cố tình dây
dưa, chây ỳ, nợ quá hạn kéo dài, ngân hàng cần sử dụng các biện pháp cứng
rắn kết hợp với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng
để thu hồi nợ.
3.2.6. Giải pháp về nhân tố con người
Con người là nhân tố trung tâm chi phối và có ảnh hưởng quyết định
đến hiệu quả hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng ngắn hạn nói
riêng của ngân hàng. Để hoạt động tín dụng được hiệu quả thì ngân hàng cần có
những cán bộ hội đủ ba điều kiện : trình độ, kinh nghiệm và độ nhạt bén.
Một cán bộ tín dụng giỏi phải là một nhà kinh tế giỏi. Công vịêc của họ
không chỉ đơn thuần là xem xét tính toán các số liệu mà họ phải có một kiến
thức tổng hợp về kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, hoạt động tài chính, hoạt động
kinh tế để đưa ra những quyết định chính xác.
Bên cạnh đó, kinh nghiệm và độ nhạy bén cũng không kém phần quan
trọng. Một cán bộ thiếu kinh nghiệm và độ nhạy bén có thể không nhìn thấy
hết đựoc vấn đề và sẽ đưa ra những quyết định sai lầm, ảnh hưởng đến ngân
9
hàng. Để đáp ứng được yêu cầu này, ngân hàng cần tập trung vào một số giải
pháp sau:
- Vấn đề tuyển dụng và bồi dưỡng cán bộ tín dụng
Ngân hàng cần có chính sách tuyển dụng cán bộ hợp lý để thu hút được
những sinh viên xuất sắc, có năng lực trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đã
tốt nghiệp những trường đại học có uy tín. Hơn nữa, việc tuyển chọn phải trên
cơ sở yêu cầu của từng loại công việc và có tiêu chuẩn rõ ràng. Những cán bộ
ngân hàng, cán bộ quản lý điều hành hoặc trực tiếp tác nghiệp trong lĩnh vực
của khách hàng, lĩnh vực kinh doanh, thị trường, hình thức tổ chức quản lý kế
toán, khoản tín dụng yêu cầu, thời hạn, lãi suất có thể chấp nhận, ngoài ra
phải có tóm tắt dự án, đảm bảo tiền vay, quan hệ với khách hàng khác. Sau đó
cán bộ tiếp nhận hồ sơ chuyển hồ sơ đến các cán bộ thẩm định.
+ Cán bộ thẩm định : có nhiệm vụ xem xét lại hồ sơ khách hàng, khai
thác các thông tin liên quan trong việc thẩm định tính khả thi của dự án. Cán
bộ thẩm định chụi trách nhiệm với lãnh đạo về tính chính xác của thông tin
thẩm định, quyết định thẩm định, trình lên lãnh đạo để xem xét sửa đổi từ đó
có quyết định cho vay hay không. Báo cáo thẩm định được cán bộ thẩm định
lập ra bao gồm các nội dung trong hồ sơ khách hàng, kết quả thẩm định và
giải trình kết quả thẩm định.
+ Cán bộ quản lý giải ngân ; Thực hiện nhiệm vụ quản lý dư nợ cho
vay khách hàng, thực hiện tính lãi định kỳ, quản lý hợp đồng bảo lãnh. Thu
nhập thông tin về tình hình kinh doanh, sử dụng vốn vay, bảo quản tài sản thế
chấp, việc thực hiện kế hoạch trả nợ, lưu hồ sơ về khách hàng, thu nhập thông
tin thực tế về giao dịch tín dụng. Định kỳ quý lập ra các báo cáo trinh lên
trưởng phòng tín dụng xem xét.
Ngoài ra cần có kiểm soát viên nội bộ hoạt động tín dụng để giám sát
hoạt động của cán bộ trong phòng, kiểm tra lại hồ sơ khách hàng, việc chấp
hành kế hoạch tín dụng, tính tuân thủ và thu hồi nợ, tình hình tài sản đảm bảo.
11
Như vậy với việc phân tách, chuyên môn hoá quyền hạn trách nhiệm của cán
bộ tín dụng thì đương nhiên sẽ tạo ra sự gắn kết thống nhất trong hoạt động
tín dụng của cán bộ tín dụng, họ luôn phải ràng buộc giám sát giúp đỡ nhau
trong quá trình thực hiện công tác. Hơn nữa nếu có thể phân tách chuyên môn
hoá quyền hạn các bộ phận theo quyền hạn kết hợp chia theo chức năng quản
lý khu vực kinh tế quốc doanh,ngoài quốc doanh, ngắn hạn, trung dài hạn, nội
ngoại tệ…
- Vấn đề đãi ngộ
Ngân hàng nên có chính sách ưu đãi cho cán bộ tín dụng để khuyến