Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lêi më ®Çu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, tốc độ phát triển của đầu tư đều quyết
định tốc độ phát triển nền kinh tế và cũng chính là thước đo đánh giá khả
năng phát triển của quốc gia đó. Đầu tư vốn theo dự án đang ngày càng trở
thành một xu hướng tất yếu, phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở mọi
quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hướng tới
mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, nâng cao thu nhập cho
người dân, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động… nhà
nước ta đã rất chú trọng, khuyến khích phát triển hoạt động đầu tư theo dự án,
coi đây là cơ sở để xây dựng một nền kinh tế tăng trưởng vững mạnh, hội
nhập với kinh tế thế giới.
Quá trình trên đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn. Với chức năng thu
hút và phân bổ vốn cho nền kinh tế, vai trò và vị thế của các Ngân hàng
thương mại ngày càng được củng cố và nâng cao. Đầu tư vốn theo dự án cũng
trở thành một trong những lĩnh vực kinh doanh chủ yếu mang lại lợi nhuận
cao nhất cho Ngân hàng. Tuy nhiên, để đảm bảo lợi nhuận và an toàn cho
nguồn tài trờ dự án của mình đồng thời cũng là bài toán khá nan giải, phức tạp
đối với các NHTM. Điều này xuất phát từ đặc tính đa dạng và hàm chứa
nhiều rủi ro của hoạt động đầu tư theo dự án. Do vậy, thẩm định dự án đầu tư
luôn là một công việc cần thiết, một công cụ hữu hiệu mà mỗi ngân hàng đều
phải thực hiện trước khi tiến hành tài trợ. Về thực chất thì công tác thẩm định
là việc kiểm soát trước hoạt động tín dụng, và có thể nói chất lượng công tác
thẩm định quyết định đến phần lớn chất lượng tín dụng sau này, nâng cao chất
lượng thẩm định dự án đầu tư chính là nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân
hàng. Đây hiện đang là một khó khăn rấtl lớn của các ngân hàng thương mại
Việt Nam trong tiến trình tiếp tục đổi mới theo xu hướng hội nhập quốc tế
bởi những hạn chế nhất định về trình độ, công nghệ, kỹ thuật… trong thẩm
định. Vấn đề nâng cao chất lượng thẩm định dự án luôn thu hút được sự quan
tâm và đầu tư của tất cả các ngân hàng.

4. Phương pháp nghiên cứu.
Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu biện chứng khoa học, kết
hợp so sánh, thống kê, nhận xét, lý luận để nêu bật nội dung của đề tài.
5. Kết cấu của đề tài.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề tài gồm có ba phần, chia thành ba chương như sau:
Chương I: Lý luận chung về chất lượng thẩm định dự án đầu tư của
Ngân hàng Thương Mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại chi
nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội trong thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
thẩm định dự án đầu tư tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội.
Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rất rộng, liên quan đến nhiều vấn đề,
đòi hỏi một kiến thức chuyên sâu vững vàng và mức độ am hiểu nhất định về
lĩnh vực tài trợ dự án. Dù đã rất cố gắng nhưng do những hạn chế lớn về trình
độ cũng như kinh nghiệm bản thân, đề tài chắc chắn không tránh khỏi những
sai sót, em rất mong thầy cô cùng các bạn sẽ đóng góp những ý kiến giúp đỡ
để đề tài có thể hoàn thiện hơn.
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo
Nguyễn Thuỳ Dương cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú đang làm việc
tại chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đã giúp em hoàn thành khoá luận
này.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trịnh Quỳnh Nga
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG

sư - tiến sĩ Võ Thanh Thu lại có một định nghĩa khác: “Dự án đầu tư hay còn
gọi là luận chứng kinh tế là văn kiện phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu
cụ thể các vấn đề: thị trường, kinh tế, kỹ thuật… có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự vận hành khai thác và tính sinh lợi của công cuộc đầu tư”. Theo nghị định
số 177/CP về điều lệ quản lý dự án đầu tư và xây dựng, dự án đầu tư được
định nghĩa: “Là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng
hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số
lượng, cải tiến hay nâng cao chất lượng hay dịch vụ nào đó trong khoảng thời
gian nhất định”.
Như vậy, có thể thấy, về bản chất, dự án đầu tư chính là tập hợp kết quả
nghiên cứu liên quan đến sự vận hành và tính sinh lời của công cuộc đầu tư.
Về mặt hình thức, nó là tài liệu do chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập, trong đó
trình bày một cách khoa học và đầy đủ các nội dung liên quan đến công cuộc
đầu tư, nhằm khẳng định đúng đắn của chủ trương đầu tư và đảm bảo hiệu
quả của vốn đầu tư.
1.1.2. Vai trò của dự án đầu tư.
.Như phần trên đã trình bày, dự án là “sản phẩm” đem lại cho đầu tư
một hiệu quả như mong muốn. Chính nguồn gốc ra đời của dự án đã cho thấy
khái quát vai trò của dự án đối với sự phát triển. Vai trò ấy được thể hiện cụ
thể ở những điểm chính sau:
Đối với chủ đầu tư, dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn
đầu tư, đồng thời là phương tiện quan trọng để các tổ chức tín dụng xem xét
tài trợ cho vay vốn. Dự án cũng là cơ sở để chủ đầu tư theo dõi, đôn đốc,
kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư, kế hoạch mua sắm máy móc, thiết bị…
cũng như kịp thời điều chỉnh những tồn tại, vướng mắc trong thực hiện và
khai thác công trình.
Đối với Nhà nước, dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan quản lý xem
xét, phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư. Dự án được phê chuẩn chỉ khi
có mục tiêu phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đất nước, mang lại
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Năm là, tính phỏng định. Thực tế xảy ra không hoàn toàn đúng với dự
báo, cho dù người soạn thảo đã có rất nhiều kinh nghiệm cũng như có sự
chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo. Vì vậy, dự án cần có tính phỏng định. Sự phỏng
định ấy phải dựa trên những căn cứ khoa học, trung thực, khách quan, nhằm
giảm thiểu rủi ro, bất định trong quá trình thực hiện dự án.
1.1.4. Chu trình dự án.
Một công cuộc đầu tư được xem như bắt đầu từ ý tưởng về dự án đầu
tư. Từ ý tưởng ban đầu đến việc xây dựng, thực hiện và kết thúc dự án là cả
một quá trình. Quá trình này thường được chia làm 3 giai đoạn và trong mỗi
giai đoạn lại gồm rất nhiều công việc diễn ra vừa tuần tự vừa đan xen lẫn
nhau.
Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn này thường gồm những bước chính sau:
- Nghiên cứu cơ hội đầu tư.
- Nghiên cứu tiền khả thi.
- Nghiên cứu khả thi.
- Thẩm định để ra quyết định đầu tư.
Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư
Giai đoạn này bao gồm các bước:
- Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với các dự án có sử dụng đất).
- Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng) và
giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên).
- Thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng.
- Đàm phán, ký kết các hợp đồng
- Thiết kế và lập dự toán thi công công trình.
- Thi công xây lắp công trình.
- Vận hành, chạy thử nghiệm thu công trình.
Giai đoạn 3: Vận hành kết quả đầu tư.

bước, nhiều công đoạn. Tuy là khâu cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
nhưng nó lại là khâu then chốt quyết định sự thành công hay thất bại của dự
án và được coi là khởi đầu quan trọng nhất của quá trình đầu tư tín dụng. Tùy
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
theo các quan điểm và cách tiếp cận thẩm định dự án khác nhau mà kết quả
thẩm định cũng có ý nghĩa khác nhau đối với mỗi chủ thể.
Đối với nhà đầu tư: việc thực hiện thẩm định độc lập với quá trình
soạn thảo sẽ cho phép chủ đầu tư dự án nhìn nhận lại dự án của mình một
cách khách quan hơn, trên cơ sở đó kịp thời phát hiện ra những thiếu sót để bổ
sung, sửa chữa.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: thông qua việc thẩm định sẽ
đánh giá được mức độ phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chung
của ngành, địa phương và của cả nước trên các lĩnh vực: mục tiêu, quy hoạch
và hiệu quả. Đồng thời, cũng giúp các nhà quản lý xác định được tính lợi hại
và sự tác động của dự án khi đi vào hoạt động trên các khía cạnh như: ứng
dụng công nghệ, ô nhiễm môi trường hay các lợi ích về kinh tế, xã hội mà dự
án đem lại.
Đối với các ngân hàng: việc thẩm định dự án đầu tư có một vai trò đặc
biệt quan trọng. Là người trực tiếp tài trợ cho dự án, các ngân hàng thường
xem xét, cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi ra quyết định đầu tư tín dụng và việc
thẩm định dự án cũng được các ngân hàng tiến hành theo một quy trình chặt
chẽ theo các chỉ tiêu cụ thể nhằm các mục đích:
- Rút ra kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng
trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra với dự án để quyết định đồng ý hoặc từ
chối cho vay.
- Thông qua những thông tin và kinh nghiệm đã đúc kết được trong quá
trình thẩm định nhiều dự án khác nhau, ngân hàng thương mại chủ động tham
gia góp ý cho chủ đầu tư nhằm bổ sung, điều chỉnh những nội dung còn thiếu
sót trong dự án, góp phần nâng cao tính khả thi của dự án.

- Nhóm chỉ tiêu hoạt động.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các chỉ tiêu vừa nêu là các chỉ tiêu cơ bản thường được dùng để phân
tích tình hình tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho hoạt động tín dụng. Ngân
hàng khi tiến hành thẩm định cần phải phối hợp so sanh giữa các chỉ tiêu để
có thể đưa ra những quyết định chính xác và hiệu quả nhất. Ngân hàng cũng
có thể dùng thêm một số chỉ tiêu khác để có một cái nhìn toàn diện hơn về
doanh nghiệp như: các chỉ tiêu về chi phí so với doanh thu, lợi tức trước thuế
so với tài sản…
1.2.4.2.Thẩm định dự án đầu tư.
Việc phân tích và thẩm định dự án đầu tư có thể được khái quát qua sơ
đồ sau
Xác định mô hình dự án

Phân tích và ước định số liệu tính toán

Thiết lập các bản tính thu nhập và chi phí

Thiết lập báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Việc thẩm định dự án đầu tư sẽ tập trung phân tích, đánh giá về khía
cạnh hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án. Các khía cạnh khác như
hiệu quả về mặt xã hội, hiệu quả kinh tế nói chung cũng sẽ được đề cập tới
tuỳ theo đặc điểm và yêu cầu của từng dự án đầu tư. Các nội dung chính cần
phải tiến hành khi thẩm định dự án bao gồm:
a. Thẩm định sự cần thiết và mục tiêu của dự án.
Trước tiên cán bộ tín dụng cần phải thẩm định cơ sở pháp lý của dự án:
luận chứng kinh tế có được cấp thẩm quyền phê duyệt, các hợp đồng thương

định lại những luận cứ mà chủ đầu tư đã đưa ra là hết sức cần thiết để khẳng
định tính khả thi của dự án. Tuy nhiên, việc thẩm định này rất phức tạp vì việc
nhận biết và vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường là khó khăn, mang
nặng tính lý thuyết, nguồn thông tin được sử dụng trong thẩm định lại không
đủ độ tin cậy cao
* Xác định nhu cầu hiện tại của sản phẩm:
Nhu cầu hiện tại của sản phẩm được xác định thông qua mức tiêu thụ
hiện tại của sản phẩm đó
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mức tiêu thụ hiện tại = Tổng sản phẩm sản xuất trong nước + Tổng
nhập khẩu - Tổng xuất khẩu - Tồn kho
Để xác định chính xác cần phải tìm hiểu thị trường trong nước, nước
ngoài, mức thu nhập bình quân đầu người của từng vùng, thị trường tiêu thụ,
tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cũng như thói quen tập quán
tiêu dùng của người địa phương.
* Dự báo nhu cầu tương lai
Việc dự báo này thường được dựa trên giả thiết: những gì đã xảy ra
trong quá khứ theo một quy luật nào đó sẽ vẫn diễn ra trong tương lai theo
quy luật đó. Do vậy, để việc dự báo được chính xác hơn, cần phải thu thập các
số liệu thông tin đầy đủ, chính xác với thời gian tối thiểu là 5 năm.
Nhu cầu tiêu thụ = Lượng tiêu thụ
×
Tốc độ tăng trưởng
năm sau năm trước bình quân
Dự báo này chỉ tương đối chính xác trong điều kiện kinh tế - xã hội
phát triển bình thường, tức là không có đột biến xảy ra.
* Phân tích khả năng cạnh tranh
Việc phân tích khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện trên
các mặt sau:

định về chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của dự án là việc
làm không thể thiếu trong thẩm định tài chính dự án. Để xác định được chi
phí sản xuất hàng năm, người thẩm định cần đi sâu thẩm tra tính đầy đủ của
các yếu tố chi phí trong giá thành sản phẩm.
Chi phí sử dụng vốn bình quân =
k
m
1k
k
rI


=
I : lượng vốn của nguồn k
R
k
: lãi suất tương ứng của nguồn k
m : số vốn huy động
Doanh thu hàng năm của dự án gồm: doanh thu từ sản phẩm chính, sản
phẩm phụ, tiền thu từ việc cung cấp dịch vụ cho bên ngoài, các khoản tiền thu
khác. Sau khi xác định được nguồn thu và nguồn chi trong kỳ, ngân hàng phải
xác định dòng tiền ròng hàng năm của dự án:
NCFi = Bi – Ci
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bi: nguồn thu năm thứ i
Ci: nguồn chi năm thứ i
NCFi: dòng tiền ròng hàng năm của dự án.
e. Thẩm định về phương diện tài chính của dự án.
Với vai trò là một chủ đầu tư, việc ngân hàng tham gia tài trợ cho dự án

việc rất khác nhau cùng với sự tham gia của nhiều nguồn vốn. Thông thường,
một dự án có thể hình thành từ các nguồn sau:
+ Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp (bao gồm cả vốn do các bên
tham gia đóng góp)
+ Nguồn từ ngân sách nhà nước
+ Nguồn vốn tín dụng ngân hang
+ Nguồn vốn vay hay liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài
+ Nguồn vốn huy động trực tiếp thông qua con đường phát hành trái
phiếu.
Cán bộ tín dụng sẽ xem xét, đánh giá về tiến độ thực hiện dự án, nhu
cầu vốn cho từng giai đoạn và tỉ lệ, khả năng từng nguồn vốn tham gia trong
các giai đoạn đó có hợp lý và bảo đảm hay không? Việc xác định tiến độ bỏ
vốn cho dự án và tra cơ cấu nguồn vốn cũng như sự đảm bảo của nó sẽ giúp
cho quá trình điều hành vốn của ngân hàng được thuận lợi trong khâu lập kế
hoạch, sử dụng vốn, tăng tính an toàn và hiệu quả cho công cuộc đầu tư của
ngân hàng. Ngân hàng sẽ theo dõi tốt hơn các hoạt động của chủ đầu tư, từ đó
đánh giá chính xác mức độ sinh lời của đồng vốn bỏ ra.
* Thẩm định các chỉ tiêu tài chính của dự án.
Mục đích của thẩm định tài chính dự án lá giúp ngân hàng thương mại
đưa ra quyết định có tài trợ dự án hay không? Để đưa ra được quyết định đó
thì các ngân hàng phải dựa trên các chỉ tiêu thẩm định tài chính cụ thể.
 Giá trị hiện tại ròng ( Net Present Value – NPV )
Giá trị hiện tại ròng là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng
tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiện
tại hóa ở mốc 0. Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thẩm định
tài chính dự án.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu NPV dùng để phản ánh lợi nhuận tuyệt đối của dự án. Nó được
xác định theo công thức sau:

+
1
1
: Hệ số chiết khấu năm t ứng với lãi suất r đã
chọn.
Nếu NPV < 0 thì thu nhập của dự án không đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra.
Nếu NPV = 0 tùy thuộc vào tình hình cụ thể mà chấp nhận hay từ chối.
Nếu NPV > 0, DAĐT có hiệu quả, nếu NPV càng lớn, thì hiệu quả tài
chính càng cao, dự án càng hấp dẫn.
 Tỷ suất hoàn vốn nội bộ.
Tỷ suất doanh lợi nội bộ hay lãi suất hoàn vốn nội bộ là tỷ suất chiếtb
khấu phải tìm sao cho với mức lãi suất đó tổng hiện giá của các khoản phải
thu trong tương lai do đầu tư mang lại bằng hiện giá của đồng vốn đầu tư
(ứng với nó là NPV = 0).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
IRR = k
1
+
( )
21
121
NPVNPV
kkNPV
+

Để tăng tính chính xác của IRR thường hai giá trị lãi suất chiết khấu
được chọn không quá 5%.
IRR chính là lãi suất thu hồi vốn mà bản thân dự án được tạo ra. Vì thế
có thể so sánh IRR với các tỷ suất có liên quan khác như lãi suất cho vay của

n: số năm thực hiện dự án.
k: lãi suất chiết khấu, được mặc định là không đổi qua các năm.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PI càng cao thì dự án càng dễ chấp nhận, nhưng tối thiểu phải bằng lãi
suất chiết khấu. Nếu không chi phí cơ hội bỏ ra khi thực hiện dự án không
được bù đắp. Người ta thường sử dụng kết hợp chỉ tiêu này với chỉ tiêu NPV.
Thời gian hoàn vốn đầu tư.
Thời gian hoàn vốn đầu tư là khoảng thời gian cần thiết để thu nhập
ròng đạt được vừa đủ hoàn lại số vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu.
Tp =
KHP
V
+

Trong đó:
Tp: Thời gian hoàn vốn đầu tư.

:V
Tổng vốn đầu tư.
P: Lợi nhuận ròng trong kỳ.
KH: Khấu hao tài sản cố định trong kỳ.
Nếu khấu hao và lợi nhuận ròng của các năm khác nhau, người ta tính
bằng cách lấy vốn đầu tư trừ dần thu nhập mỗi năm cho đến khi thu hồi hết
vốn. Tp cho biết thời gian thu hồi lại số vốn đã bỏ ra để đầu tư.Một dự án đầu
tư có Tp càng nhỏ càng tốt vì Tp càng nhỏ thì càng càng hạn chế được mức
độ rủi ro có thể xảy ra. Chỉ tiêu này được các nhà tài trợ ưa thích vì thời giab
thu hồi vốn đầu tư vì thời gian thu hồi vốn đầu tư càng dài thì nhà trợ càng
phải đương đầu với rủi ro trong việc thu hồi vốn.
Chỉ tiêu này có ưu điểm là dễ tính, đánh giá dự án một cách trực quan,

thành từ hoạt động của dự án so với kế hoạch trả nợ dự kiến ban đầu.
 Điểm hòa vốn ( BEP – Break Event Point)
Điểm hòa vốn là điểm tại đó doanh thu bằng chi phí bỏ ra. Về mặt toán
học, điểm hòa vốn là giao điểm của đường biểu diễn doanh thu và chi phí.
Tổng chi phí mà dự án bỏ ra bao gồm chi phí cố định (định phí) và chi
phí biến đổi ( biến phí). Định phí ( FC – Fixed costs) là những chi phí không
thay đổi khi sản lượng thay đổi. Biến phí ( VC – Variable costs ) là những chi
phí thay đổi khi sản lượng thay đổi.
Phân tích điểm hòa vốn là quá trình áp dụng các công cụ phân tích độ
an toàn tài chính của dự án thông qua việc xác định điểm hòa vốn. Điểm này
biểu thị sản lượng hòa vốn, doanh thu hòa vốn và công suất hòa vốn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Số nợ gốc phải trả hàng năm ( gốc + lãi )
Tỷ lệ đảm bảo trả nợ =
Các nguồn trả nợ hàng năm
DSCRt =
Số nợ phải trả hàng năm (gốc + lãi)
Lợi nhuận ròng + KHCB + Mức trả lãi vay vốn cố định
năm thứ t
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Sản lượng hòa vốn – Qhv.
Sản lượng hòa vốn là sản lượng cần thiết mà dự án phải đạt được, tại đó
doanh thu đủ bù đắp chi phí.
hv
Q
=
VP
FC

Trong đó: FC: Tổng định phí.

Phân tích điểm hòa vốn cho thấy dự án cần phải hoạt động với công
suất tối thiểu là bao nhiêu để so với công suất thiết kế, mức sản lượng, mức
doanh thu bao nhiêu so với doanh thu cực đại theo quy mô đầu tư thì mới đạt
được mức doanh thu cần thiết hòa vốn. Điểm hòa vốn được xem là điểm
chuyển tiếp giữa lỗ và lãi. Dự án chỉ có lãi khi hoạt động vượt qua mức hòa
vốn và ngược lại, dự án sẽ thua lỗ khi hoạt động dưới điểm hòa vốn. Điểm
hòa vốn càng thấp thì dự án càng hiệu quả và rủi ro càng thấp.Tuy nhiên, chỉ
tiêu đíểm hòa vốn không cho thấy được khả năng thu hồi vốn đầu tư của dự
án, nó chỉ tính đến khả năng hoàn vốn khi dự án đi vào hoạt động, bỏ qua chi
phí đầu tư ban đầu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Độ nhậy của dự án đầu tư.
Khi phân tích độ nhạy của dự án, các ngân hàng thường tính toán sự
thay đổi của các chỉ tiêu NPV, IRR hoặc lãi ròng khi giả định có một nhân tố
thay đổi.
Dự án có độ nhạy ( thay đổi) của các chỉ tiêu hiệu quả ( NPV, IRR…)
nhỏ nhất được coi là rủi ro ít nhất. Để có sự đánh giá cụ thể hơn ảnh hưởng
của từng nhân tố đến hiệu quả dự án, có thể tính độ nhạy theo công thức:

Ví dụ: Một dự án có chỉ tiêu thẩm định về khả năng sinh lời IRR =
15%, nếu giá bán sản phẩm giảm 10% thì IRR nhận được sẽ là 12%. Vậy độ
nhậy của dự án trong trường hợp này là:
Độ nhạy =
2
%10
100
%15
%15%12
=

việc thẩm tra, đối chiếu một số chỉ tiêu sau:
- Hiệu quả giá trị gia tăng trên vốn đầu tư được tính bằng % phải đạt
hai con số trở lên
- Khả năng tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động
- Mức độ đóng góp cho ngân sách nhà nước\
- Các chỉ tiêu khác: góp phần phát triển kinh tế địa phương, nâng cao
kết cấu hạ tầng…
h. Thẩm định về phương pháp bảo đảm tiền vay
Một trong những điều kiện tiên quyết của ngân hàng khi quyết định
tham gia đầu tư là an toàn. Do vậy, với bất kỳ một khoản vay nào, ngân hàng
cũng yêu cầu vật bảo đảm. Đây là phương án dự phòng, nguồn thu thứ hai của
ngân hàng trong trường hợp không thu được nợ. CBTĐ xem xét kỹ, đánh giá
chính xác vật bảo đảm của khoản vay, bao gồm:
- Hình thức bảo đảm: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh..
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Số kỳ trả nợ dự kiến =
Tổng số nợ gốc phải trả
LợI nhuận ròng trả nợ + KHCB từ vốn vay +
Các nguồn khác
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các điều kiện đảm bảo tiền vay: tính hợp lý, hợp pháp của tài sản
Xác định giá trị thực của tài sản bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ hoàn
trả
Các điều kiện khác…
* Phân tích, xác định rủi ro tiềm ẩn của dự án.
Bất kỳ một cuộc đầu tư nào cũng hàm chưa ít hay nhiều rủi ro. Rủi ro
đó có thể do yếu tố khách quan gây nên như sự thay đổi cơ chế chính sách bất
lợi, biến động thị trường giá cả sản phẩm…cũng có thể do yếu tố chủ quan từ
phía nhà đầu tư. Vì vậy, việc đánh giá phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy
ra là rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status