CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THEO DÕI ĐÁNH GIÁ
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
I. Kế hoạch hóa doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý hàng đầu đương đại,
tác giả của “Quản lý cho tương lai; thập kỷ 90 và xa hơn nữa.” đã đề xuất tiêu
chuẩn về tính hiệu nghiệm (effectiveness) – tức là khả năng làm những việc
“đúng” (do “right” things ) và tính hiệu quả (efficiency) – tức là khả năng làm
đúng việc (do things “right”). Ông cho rằng tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn,
bởi vẫn có thể đạt được tính hiệu quả khi chọn sai mục tiêu. Hai tiêu chuẩn nói
trên song hành cùng với hai khía cạnh của kế hoạch hóa: Xác định các mục tiêu
“đúng” và chọn lựa những biện pháp “đúng” để đạt được các mục tiêu này. Cả
hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp.
1
1. Khái niệm và vai trò của kế hoạch hóa
1.1. Khái niệm
Kế hoạch là sự thể hiện ý đồ phát triển của chủ thể quản lý với đối tượng
quản lý thông qua các giải pháp. “Kế hoạch nằm trong những chức năng cơ bản
của qui trình quản lý, là thể hiện ý đồ của chủ thể về sự phát triển trong tương
lai của đối tượng quản lý và các giải pháp để thực hiện. Nó xác định xem một
quá trình phải làm gì? Làm như thế nào? Khi nào làm và ai sẽ làm?”.
2
Như vậy kế hoạch là một văn bản định hướng phát triển gồm hai phần
chính là mục tiêu (ý đồ) và giải pháp. Theo đó thì làm kế hoạch là phải xác định
được các mục tiêu cần đạt tới và đưa ra những cách thức để có thể đạt được
những mục tiêu đó.
1 Nguồn: Đại cương lý luận quản lý.
2 Nguồn: Giáo trình kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội.
Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam 2” thì: Kế hoạch hóa là hoạt động của
con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các qui luật của xã hội và tự nhiên,
đặc biệt là các qui luật kinh tế để tổ chức quản lý các đơn vị kinh tế - kĩ thuật,
các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội theo những mục tiêu
định với 14 nguyên tắc trong kinh doanh, trong đó có nguyên tắc kế hoạch.
F.W.Taylor – cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã nói: “Quản lý là biết chính
xác điều bạn muốn, người khác làm và sau đó là hoàn thành công việc một cách
tốt nhất và rẻ nhất.”
4
. Gulich và Urwich cũng đã nói, công tác quản trị có 6 chức
năng chủ yếu đó là: Kế hoạch, tổ chức, nhân sự, phối hợp, tài chính.
Tính chất của nền kinh tế thị trường là không có chỉ tiêu pháp lệnh, không
có sự phân bổ nguồn lực nhưng lại có qui luật thị trường – Qui luật cạnh tranh
và sự biến động không ngừng đòi hỏi các nhà quản lý phải có sự dự báo, lường
trước để phản ứng, xử lý kịp thời.
2. Qui trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Qui trình kế hoạch hóa hay nói cách khác đó là các bước cho phép vạch ra
các mục tiêu, dự tính các phương tiện cần thiết, tổ chức triển khai thực hiện
nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Trong nền kinh tế thị trường kế hoạch
được sử dụng linh hoạt hơn nhằm thích nghi với điều kiện thị trường biến động
không ngừng. Kế hoạch không chỉ là một văn bản duy nhất mà theo nó là cả
một quá trình hoạt động khoa học của doanh nghiệp. Một trong những qui trình
được áp dụng rộng rãi là Qui trình PDCA. Trong đó các hoạt động liên quan đến
4 Nguồn: Đại cương lý luận quản lý.
kế hoạch hóa doanh nghiệp chia làm một số giai đoạn cơ bản và được thể hiện
qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1-1: Qui trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp (PDCA).
Tổ chức thực hiện (DO)
Xác định mục tiêu, qui trình, thủ tục… cần thiết để thực hiện mục tiêu.
Triển khai thực hiện các qui trình, thủ tục… đã dự định.
Lập kế hoạch (PLAN)
- Điều chỉnh thực hiện các qui trình, thủ tục.
- Điều chỉnh mục tiêu
- Kiểm tra, so sánh thực tế với kế hoạch.
thể cao hơn hoặc thấp hơn kế hoạch doanh nghiệp đã đặt ra. Những sai lệch đó
có thể có hại hoặc vô hại, có thể phù hợp hoặc không phù hợp với mục tiêu đề
ra và thực trạng phát triển của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp cần phải tổ
chức theo dõi nhằm phát hiện những phát sinh bất lợi, cần phải kịp thời nắm bắt
những sai lệch đó và quan trọng là phải tìm ra những nguyên nhân để có những
hành động kịp thời, phù hợp.
Trong quá trình thực hiện kế hoạch còn có thể phát sinh những yếu tố mới,
doanh nghiệp cần phải nắm bắt kịp thời và tiến hành phân tích lợi, hại, những
tác động có thể có tới việc thực hiện mục tiêu.
2.4. Điều chỉnh
Cần phải điều chỉnh thực hiện các qui trình, thủ tục, hành động… nhằm đạt
được mục tiêu đã đề ra. Muốn điều chỉnh phải dựa vào bước theo dõi và đánh
giá ở trước đó. Sự điều chỉnh chỉ cần thiết khi: Có những chênh lệch dương,
chênh lệch âm hoặc không có chênh lệch nhưng xuất hiện các nhân tố mới tác
động. Khi nhận thấy tồn tại những sai lệch đủ lớn để ảnh hưởng tới việc thực
hiện mục tiêu thì nhất thiết phải có những điều chỉnh kịp thời. Nếu sai lệch quá
lớn hoặc đánh giá khả năng về nguồn lực không thể đạt được kế hoạch thì có thể
thay đổi mục tiêu. Khi xuất hiện các yếu tố mới cần nắm bắt và cảnh báo. Điều
chỉnh hay chính là quá trình ra quyết định của người quản lý. Khi đã ra quyết
định đương nhiên không chỉ dựa vào kết quả theo dõi thực hiện kế hoạch, so
sánh với kế hoạch và rút ra kết luận mà phải dựa vào thực trạng khách quan của
môi trường như chính trị, pháp luật, kinh tế, thị trường…
3. Vai trò của theo dõi, đánh giá trong qui trình kế hoạch hóa
Trong qui trình kế hoạch hóa thì bước kiểm tra hay theo dõi, đánh giá là
bước thứ ba, sau bước lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch. Sau khi theo
dõi, đánh giá là bước ra quyết định của nhà quản lý. Có thể nói theo dõi, đánh
giá lấy kế hoạch làm cơ sở, thực trạng làm đối tượng và nhiệm vụ chủ yếu là hỗ
trợ quá trình ra quyết định của nhà quản lý và góp phần chuẩn bị cho bản kế
hoạch tiếp theo.
Theo dõi, đánh giá là trung gian, là cầu nối giữa kế hoạch và thực tiễn. Nếu
câu hỏi như:
• Bản kế hoạch có được triển khai hay không?
• Tiến độ triển khai như thế nào?
• Tiến độ và việc đảm bảo cung cấp nguồn lực như thế nào?
• Kết quả, hiệu quả thực hiện?
1.2. Đánh giá
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cớ về đối tượng; tiến hành
đánh giá và đưa ra những nhận xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu
chí đã được đưa ra.
Theo đó có thể định nghĩa đánh giá là đưa ra nhận xét và kết luận về một
bản kế hoạch đang và đã được triển khai. Mục đích là để xác định mức độ phù
hợp, khả năng đạt được mục tiêu, tính hiệu quả và hiệu lực trong phát triển.
Đánh giá phải cung cấp thông tin đáng tin cậy, hữu ích, cho phép rút ra bài học,
kinh nghiệm cho các kỳ kế hoạch tiếp theo.
Trong khâu đánh giá cho phép trả lời các câu hỏi như:
• Khả năng đạt được các chỉ tiêu kế hoạch như thế nào? Người quản lý có
trách nhiệm như thế nào khi có các chỉ tiêu kế hoạch không đạt được? Những
giải pháp ra sao?