ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHIẾU THỊ LINH HƯƠNG
CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ VTC
GIAI ĐOẠN 2009 - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHIẾU THỊ LINH HƯƠNG
CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ VTC
GIAI ĐOẠN 2009 - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Chí Trung
Khiếu Thị Linh Hương
CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt
ABC
Bộ TT&TT
CP
Đài VTC
Đài TH Việt Nam (VTV)
Đài TH TP. HCM
HTV
HCTV
KBS
NBC
PTTH
PVS
SCTV
TNHH
TVAd
TH
TP
THVL
VFC
VCTV
XHH
XHH SXCTTH
2.1. Tiến trình phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình Đài Truyền hình
Kỹ thuật số VTC......................................................................................................36
2.1.1. Lược sử hình thành Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC.............................36
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Đài VTC trước thời điểm phân cấp quản lý 1/1/2014 47
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Đài VTC từ ngày 1/1/2014.........................................48
2.2. Quan điểm xã hội hóa của Đài Truyền hình KTS VTC................................... 50
2.2.1. Mô hình xã hội hóa tạo nên giá trị kinh tế truyền thông............................50
2.2.2. Hoạt động xã hội hóa truyền hình tạo nên nội dung chương trình phong phú,
hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của khán giả..........................................................51
2.3. Phân tích các mô hình xã hội hóa của Đài VTC (giai đoạn 2009 - 2012)........54
2.3.1. Mô hình liên kết hợp tác cả kênh...............................................................55
2.3.2. Liên kết hợp tác theo nội dung chương trình/giờ phát sóng/sự kiện.........57
2.3.3. Các dạng thức liên kết khác.......................................................................62
2.4. Bản chất mô hình hợp tác giữa Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC và các đối tác xã
hội hóa.....................................................................................................................64
2.4.1. Bản chất quan hệ sở hữu vốn trong dự án..................................................64
2.4.2. Bản chất quan hệ sở hữu và thực quyền quản lý........................................67
2.4.3.Quyền lợi cơ bản của các bên tham gia hoạt động liên kết.........................70
2.4.3.1. Quyền của bên A.................................................................................71
2.4.3.2. Quyền của bên B.................................................................................72
2.4.4. Quy trình sản xuất và quản lý nội dung các chương trình có yếu tố xã hội hóa . 73
2.5. Đánh giá nhận định về các mô hình xã hội hóa của Đài TH KTS VTC..........79
2.5.1. Những thành công đáng ghi nhận.............................................................. 82
2.5.2. Những bất cập tồn tại trong các mô hình xã hội hóa................................. 88
Hình 1.1: Doanh thu quảng cáo trên truyền hình và báo in ở Việt Nam … …..24
Hình 2.1: Các kênh truyền hình xã hội hóa của các đài………………………..34
Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Đài VTC………………………………….38
Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức quản lý của Đài VTC từ ngày 1/1/2014 ……………. 49
Hình 5.1: Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình………………...........51
Hình 6.1: Sơ đồ sản xuất một sản phẩm truyền hình…………………………...54
Hình 7.1: Doanh thu của Kênh VTC1 năm 2009................................................................ 62
Hình 8.1: Sự phân bố các kênh chương trình ở Đài TH KTS VTC...........................64
Hình 9.1: Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa của Đài THVN…..…77
Hình 10.1: Quy trình nghiệm thu chương của Đài VTC
trước tháng 11/2011…………….78
Hình 11.1: Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa của Đài VTC
sau tháng 11/2011…………………………………78
Hình 12.1: Rating năm 2010 đến 07/2011 trên toàn quốc…………………..….80
Hình 13.1: Rating năm 2010 tại: TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội…………..….…80
Hình 14.1: Doanh thu năm 2010 của các kênh truyền hình………………...…..81
Hình 15.1: Doanh thu 6 tháng đầu năm 2011 của các kênh truyền hình……….81
Hình 16.1: Doanh thu của Đài Truyền hình KTS VTC từ 2009 – 2012………..83
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng lớn các đài truyền hình.
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến hết năm 2011, toàn quốc có
67 đài phát thanh truyền hình trung ương và địa phương, trong đó có 2 đài quốc
gia, 1 đài truyền hình cấp bộ, 64 đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh và một số
kênh truyền hình của ngành. Ngoài hệ thống truyền hình quảng bá, hệ thống truyền
hình trả tiền ở nước ta phát triển mạnh bằng nhiều loại công nghệ truyền dẫn như
cáp, vệ tinh, số mặt đất, truyền hình di động và công nghệ IPTV.
hội hóa các nguồn lực lao động là một xu hướng tất yếu trong sự phát triển của
ngành truyền hình nước ta và phù hợp với xu thế của ngành truyền hình thế giới.
Trong xu thế chung đó, Đài TH KTS VTC đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội
để thực hiện quá trình xã hội hóa nhằm đem lại một diện mạo mới cả về nội dung
và hình thức thể hiện thông qua sự đóng góp về trí tuệ, tài chính của các tổ chức,
đơn vị và các cá nhân từ bên ngoài. Từ một mô hình xã hội hóa đến việc mở rộng
các hình thức liên kết trên phương thức hợp tác sản xuất chương trình, hợp tác sản
xuất cả kênh sóng, Đài VTC đã tạo nên sự chuyên biệt về nội dung, đáp ứng được
nhu cầu, thị hiếu của từng đối tượng khán giả. Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác
liên kết cũng xuất hiện những mặt trái dẫn tới sự thất thoát về tài chính và quan
trọng hơn cả là ảnh hưởng tới thương hiệu của Đài VTC do sự bất đồng quan điểm
trong quá trình hợp tác hoặc những chiến lược không phù hợp nên không ít mô
hình xã hội hóa bị gián đoạn hoặc thất bại. Không ít mô hình xã hội hóa mờ nhạt
hoặc chồng chéo về mặt nội dung do kết quả của việc “chạy đua” mở rộng kênh
sóng hoặc trào lưu xã hội hóa. Đây cũng chính là lý do để chúng tôi lựa chọn Đài
VTC là đối tượng nghiên cứu của luận văn để tìm hiểu rõ hơn về những nguyên
nhân của những thất bại và thành công nêu trên. Đồng thời học hỏi, đúc kết những
kinh nghiệm trong thực tiễn để bổ sung thêm vào sự hiểu biệt hạn hẹp của tác giả
nhằm có một cái nhìn khái quát và đa chiều hơn về vấn đề xã hội hóa truyền hình ở
Việt Nam.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, sự lớn mạnh của các tập đoàn truyền thông, hệ thống truyền
hình phát triển với quy mô của một lĩnh vực kinh doanh rộng lớn với sự tham gia
của nhiều đối tượng, thành phần trong xã hội không còn là vấn đề xa lạ. Nhiều
nước như Anh, Mỹ, Australia, Hàn Quốc… được coi là những quốc gia có truyền
thông phát triển mạnh mẽ. Quá trình xã hội hóa truyền hình ở trên thế giới đã diễn
ra trước chúng ta rất nhiều năm. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các hãng thông
hình nên hiển nhiên nó trở thành một trong những tâm điểm của dư luận xã hội.
Trước yêu cầu thực tiễn cần phải làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến
hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình, một số đơn vị, cá nhân đã có những
nghiên cứu sâu về hoạt động xã hội hóa, đặc biệt là xã hội hóa sản xuất chương
trình theo nhiều góc độ tiếp cận.
Có thể thấy vấn đề liên kết xã hội hóa truyền hình được nhìn nhận, đánh giá
và phân tích trong các nghiên cứu tương ứng với thời điểm thực tế của sự xuất
hiện, manh nha của các mô hình liên kết, hợp tác. Sau đó nó được đồng loạt phân
tích, nhận định thành một xu hướng tất yếu của ngành truyền hình Việt Nam trước
xu hướng hội nhập và quốc tế hóa với ngành truyền hình thế giới.
Trước tiên có thể nhìn nhận việc chấp thuận và tạo điều kiện khuyến khích cũng
như đặt ra các công cụ xã hội hóa các lĩnh vực trong đời sống thông qua những
chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Với sự ra đời của Nghị định 69/2008/NĐ-CP
về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các lĩnh vực y tế, giáo dục, dạy
nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường, trong đó Nhà nước khuyến khích các
thành viên trong xã hội tham gia vào các hoạt động mang lợi ích cộng đồng, đã tạo
cơ hội cho ngành truyền hình mạnh dạn tham gia tích cực vào xã hội hóa. Trước
yêu cầu mạnh mẽ của phong trào xã hội hóa, ngày 28/5/2009, Bộ Thông tin-Truyền
thông cũng đã ban hành Thông tư 19/2009/TT-BTTTT. Thông tư này đã đưa ra
thuật ngữ “xã hội hóa” tại Điều 2 như sau: “Hoạt động liên kết trong sản xuất
chương trình phát thanh, truyền hình là một hình thức hợp tác giữa một bên là đài
phát thanh, truyền hình, một bên là đối tác liên kết để tạo ra một phần hoặc toàn bộ
sản phẩm liên kết”.
Có thể nói, đây là văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý đồng thời chấm dứt một thời
kỳ hợp tác đầu tư “công-tư” theo kiểu “tranh tối tranh sáng” trong lĩnh vực truyền
hình tại Việt Nam. Bởi trước tháng 5/2009 gần như không có văn bản pháp luật
4
nào điều chỉnh, cho phép các hoạt động hợp tác đầu tư trong lĩnh vực truyền hình,
Như vậy, việc tham gia của các nguồn lực xã hội trong lĩnh vực truyền hình
đã đánh dấu những bước quan trọng trong tiến trình xã hội hóa truyền hình ở Việt
Nam và dấu mốc này theo nhiều nghiên cứu khác có thể được tính từ năm 2004.
Một trong những nghiên cứu sâu về vấn đề xã hội hóa truyền hình đó là
Luận án Tiến sĩ Vấn đề xã hội hóa chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay
của Đinh Thị Xuân Hòa (2013). Trong luận án, tác giả nhận định:
“… dù muốn hay không thì cũng phải thừa nhận, xã hội hóa
mang lại một diện mạo mới cho truyền hình. Số lượng chương trình
nhiều lên, chất lượng chương trình thay đổi theo hướng tích cực.
Khán giả chương trình có cơ hội hơn khi lựa chọn chương trình.
Cũng từ xã hội hóa, ngành truyền hình đã huy động được nguồn tài
chính to lớn từ các hoạt động tài trợ, quảng cáo, quảng bá thương
hiệu để đầu tư cho sự phát triển” [25, tr.57].
Những nghiên cứu, lý luận được đưa ra trên thực tế đã chứng minh về sự
xuất hiện và phát triển của mô hình liên kết xã hội hóa trong ngành truyền hình
Việt Nam. Cũng tính từ dấu mốc từ sau năm 2004, có rất nhiều các nghiên cứu đưa
ra nhận định và đánh giá về xu hướng này tại Việt Nam. Điều này minh chứng cho
một hướng đi tất yếu trong xu thế phát triển của ngành truyền hình. Cũng từ đây
thuật ngữ “xã hội hóa truyền hình” xuất hiện và trở thành một trong những vấn đề
thu hút sự quan tâm đặc biệt của những nhà quản lý, lãnh đạo các đơn vị truyền
hình cũng như công chúng truyền hình. Đây là góc độ nghiên cứu chuyên sâu của
những người trực tiếp tham gia hoặc kinh qua công tác quản lý, lãnh đạo các đơn
vị truyền hình với tư duy khái quát cao và cái nhìn sâu rộng.
Khóa luận Vấn đề xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình (khảo
sát các chương trình Đuổi hình bắt chữ, Hộp đen, Cơ hội 999 (từ tháng 1 đến hết
tháng 8 năm 2009) do Nguyễn Thanh Hà thực hiện vào năm 2009 được xem là một
trong những công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực xã hội truyền
hình. Tuy nhiên, khóa luận này chỉ nghiên cứu ở phạm vi hẹp ở một vài chương
trình truyền hình nên tính khái quát không cao. Một nghiên cứu sâu hơn và được
6
hóa truyền hình như: “Nhiều kênh truyền hình: xã hội hóa hay tư nhân hóa” trên
7
báo Sài Gòn Giải phóng Online ngày 27/9/2009 của tác giả Như Hoa – Khánh Duy
đề cập tới những sai phạm khi giao khoán hoàn toàn cho phía doanh nghiệp “nên
bản chất, tiêu chí kênh cũng vì đó biến hóa theo thời gian”. Hay bài “Sở hữu kênh
truyền hình xã hội hóa: Liệu có là miếng bánh ngon ăn?” của tác giả Huyền Nga
trên báo Diễn đàn Doanh nghiệp Điện tử (www://dddn.com.vn) ngày 14/8/2010
phản ánh về sự xuất hiện ồ ạt của các kênh sóng do các doanh nghiệp đầu tư, hợp
tác sản xuất với đài truyền hình nhưng “lượng nhiều mà chất có bao nhiêu”…
Các công trình nghiên cứu vừa nêu trên, vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho
những người đi sau có cùng mối quan tâm, nghiên cứu xã hội hóa sản xuất chương
trình truyền hình. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể
nào nhìn từ góc độ kinh nghiệm thực tiễn quản lý trong xu thế phát triển hợp tác
với các công ty truyền thông tư nhân, đặc biệt là trong phạm vi của Đài TH KTS
VTC. Vì vậy, xuất phát từ hoạt động thực tiễn của Đài Truyền hình KTS VTC, luận
văn này sẽ nghiên cứu và đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần
xây dựng và hoàn thiện các mô hình quản lý hoạt động xã hội hóa mang tính khả
thi cao đối với Đài TH KTS VTC nói riêng và các đài truyền hình ở Việt Nam nói
chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là phân tích các mô hình xã hội hóa của Đài TH KTS
VTC, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
trong mối quan hệ với các đối tác tại Đài Truyền hình KTS VTC, từ đó đề xuất giải
pháp hoàn thiện các mô hình liên kết sản xuất phù hợp với định hướng phát triển
báo chí theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi nghiên cứu
Trên thực tế, các nguồn lực xã hội hóa được huy động để cùng tham gia sản xuất
các chương trình truyền hình tương đối đa dạng, dẫn đến việc hình thành nhiều các
mô hình xã hội hóa ở mỗi đài khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn này chỉ tập
trung vào các nội dung sau:
- Mô hình xã hội hoá toàn bộ kênh truyền hình (Kênh VTC6, VTC7 (Let’s
Viet) VTC8, VTC9 (Today), VTC11 (KidsTV), VTC13 (iTV)…
9
- Mô hình xã hội hoá chương trình truyền hình: chúng tôi lựa chọn một vài
chương trình xã hội hóa để phân tích và đưa ra các quan điểm, nhìn nhận và
đúc rút dưới dạng mô hình (Chương trình “Doanh nghiệp 24h” do Đài
Truyền hình Kỹ thuật số VTC phối hợp thực hiện cùng công ty Vietbooks;
Chương trình “Giải trí Latsta” trên giờ vàng của Đài Truyền hình VTC kết
hợp với Công ty CP Giải trí Latsta thực hiện. Luận văn chỉ lựa chọn một vài
chương trình tiêu biểu để phân tích và đánh giá hiệu quả cũng như những
hạn chế còn tồn tại, đồng thời đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả của các
chương trình phối hợp thực hiện.
4.2.2. Thời gian nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát đối tượng nghiên cứu vào thời gian từ tháng
1/2009 - 12/2012. Đây là thời điểm ra đời của Thông tư 19/2009/TT-BTTTT quy
định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh – truyền
hình. Mặt khác, đây cũng là thời gian mà quá trình xã hội hóa của Đài Truyền hình
KTS VTC có sự phát triển mạnh mẽ với những mô hình điển hình đem lại hiệu quả
kinh tế cao. Tuy nhiên, thời gian này cũng bộc lộ những “lỗ hổng” trong công tác
quản lý sự phối hợp giữa Đài VTC với các đối tác dẫn tới một số hạn chế trong
công tác kiểm duyệt nội dung hoặc việc ngừng phát sóng kênh truyền hình được xã
hội hóa do không đạt tới những thỏa thuận thống nhất và kết quả là phải dừng phát
trên những số liệu khoa học được tổng kết như chỉ số người xem truyền hình
(rating), những báo cáo về tài chính hay sự phân bổ về vùng phủ sóng của các kênh
truyền hình được sản xuất theo phương thức liên kết tại Đài VTC.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: các chuyên gia, lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước
về báo chí, quản lý các đài truyền hình, các nhà báo; một số cá nhân, tổ chức bên
ngoài đã từng hoặc đang tham gia trực tiếp trong quá trình xã hội hóa của Đài VTC
để thu thập các ý kiến, quan điểm và từ đó nêu thành vấn đề.
Tác giả sẽ đưa ra một số câu hỏi giống nhau để thu thập ý kiến khác nhau,
sau đó sẽ chọn lọc, phân loại để nêu lên thành các luận cứ khách quan. Với việc
tổng hợp, phân tích các ý kiến dựa trên thực tế phát triển của vấn đề sẽ là điều kiện
để tác giả có thể nhìn nhận đề tài một cách đa chiều và sâu sắc.
11
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là tài liệu khoa học góp phần tiếp tục hệ thống và bổ sung nghiên
cứu các vấn đề xã hội hóa truyền hình trên cơ sở tổng hợp và phân tích mô hình xã
hội hóa của một đài truyền hình cụ thể (Đài VTC).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại một cái nhìn tổng quan hơn về
hoạt động xã hội hóa truyền hình hiện nay đồng thời góp phần đề xuất thêm các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chương trình xã hội hóa với
sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả cũng mong muốn
có thể phát triển và ứng dụng những kết quả của đề tài này trong thực tế công tác
tại Đài TH KTS VTC.
7. Kết cấu của luận văn
luận văn này, tác giả lựa chọn “mô hình” xã hội hóa truyền hình của Đài
VTC để khái quát thành một hiện tượng có các tiêu chí chung như tính sở hữu, sự
tham gia đóng góp về tài chính, trí tuệ của phía đối tác trong các chương trình,
kênh sóng kết hợp với các đài truyền hình… hai bên phối hợp với nhau để mang lại
các giá trị chung là những chương trình có chất lượng, phục vụ nhu cầu ngày càng
cao của khán giả. Từ đó, có thể đưa ra một khái niệm về “mô hình xã hội hóa
truyền hình” như sau:
13
“Mô hình xã hội hóa truyền hình là một dạng thức kết hợp giữa một
bên là đài truyền hình và một bên là đối tác tư nhân hợp tác sản xuất để tạo
nên sản phẩm có chất lượng tốt nhất phát sóng trên sóng của đài truyền
hình. Vai trò và “liều lượng” tham gia của đài truyền hình và đối tác sẽ
quyết định các dạng thức hợp tác”.
1.1.2. Các mô hình xã hội hóa truyền hình
Bản chất xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là việc mở rộng các
cách làm nên sản phẩm truyền hình. Căn cứ vào nội dung, mức độ, cách thức sản
xuất có thể chia hoạt động XHH sản xuất chương trình thành hai hình thức như
sau: (1) Hợp tác sản xuất; (2) Đặt hàng sản xuất.
1.1.2.1. Hợp tác sản xuất chương trình:
Đó là việc đài truyền hình và các đối tác “bắt tay” cùng khai thác sử dụng
một cách hợp lý nguồn lực của mỗi bên (con người, phương tiện kỹ thuật, tài
chính…) để tham gia vào quy trình sản xuất làm nên sản phẩm truyền hình.
Hợp tác sản xuất sẽ giúp các bên trong quá trình làm nên sản phẩm bổ sung,
hỗ trợ những mặt đối tác chưa có khả năng hoặc chưa có điều kiện thực hiện. Mặc
khác, hợp tác cũng là cách khai thác tối đa nguồn lực của mỗi bên trong đóng góp
làm nên sản phẩm chung phục vụ xã hội.
Sản phẩm truyền hình là một loại hàng hóa đặc biệt, nó là sự kết tinh của tư
Hợp tác sản xuất nhiều chương trình cho cả kênh truyền hình
Sự phối hợp sản xuất chương trình cho một kênh truyền hình góp phần làm cho
nội dung chương trình của các đài ngày càng phong phú, hấp dẫn điều này giúp
cho khán giả có thể thỏa mái lựa chọn những chương trình mình yêu thích.
Hình thức này của đối tác thể hiện sự năng động, sáng tạo, khả năng đáp ứng về
nhiều mặt của công chúng nói chung, các công ty tổ chức truyền thông nói riêng.
Tuy nhiên, mỗi khi đài quyết định hình thức hợp tác này cần có kế hoạch quản lý
cụ thể, khoa học để chương trình phong phú số lượng, đảm bảo chất lượng, hạn chế
việc lạm dụng tài nguyên sóng quốc gia để làm lợi cá nhân.
1.1.2.2. Đặt hàng sản xuất chương trình
Nếu như hình thức hợp tác sản xuất thể hiện rõ ở việc các bên cùng “xắn
táy” cùng làm một việc, mức độ chủ động, trách nhiệm của mỗi bên trong quá trình
sản xuất ngang nhau, diễn ra liên tục, song hướng tới sự thống nhất nhằm tạo nên
một chỉnh thể với những khớp nối hợp lý thì hình thức đặt hàng mức độ chủ động,
trách nhiệm, cách thức triển khai công việc có nhiều điểm khác nhau.
Ở Việt Nam, đặt hàng sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình đang
trở thành xu hướng phát triển trong vài năm trở lại đây. Chẳng hạn, toàn bộ các
chương trình phát sóng mới trên kênh YanTV (SCTV2) là do Công ty Cổ phần
Công nghệ và Tầm nhìn yêu âm nhạc sản xuất, Đài Truyền hình Việt Nam chỉ là
người duyệt và xếp lịch phát sóng. Tương tự, toàn bộ chương trình trên kênh
15
TodayTV (VTC7) và kênh VITV (VTC8), Let’s Việt (VTC9) lần lượt là sản phẩm
của các đơn vị như: Công ty CP Quốc tế IMC, Công ty CP Công nghệ và Truyền
thông VITV và Công ty CP Lasta. Dù chỉ sản xuất thời lượng một vài
giờ/ngày/kênh sóng đó, các đối tác cũng phải rót một khoản chi phí lớn khoảng 3040 tỷ/năm để chi từ máy móc, trang thiết bị đến chi phí bộ máy và các khoản phí
sản xuất chương trình. Đây là bài toán kinh doanh phức tạp mà các đối tác luôn
phải tính.