ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHIẾU THỊ LINH HƢƠNG CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ VTC
GIAI ĐOẠN 2009 - 2012 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01 HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHIẾU THỊ LINH HƢƠNG Khiếu Thị Linh Hương
CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt
Đầy đủ tiếng Việt
ABC
Công ty Truyền thông Mỹ (American Broadcasting
Company)
Bộ TT&TT
Bộ Thông tin và Truyền thông
CP
Cổ phần
Đài VTC
Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC
Đài TH Việt Nam (VTV)
Đài Truyền hình Việt Nam (Viet Nam Television)
Đài TH TP. HCM
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
HTV
Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh (Hochiminh City
Television)
HCTV
Truyền hình Cáp Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội
KBS
Hệ thống truyền hình Hàn Quốc (Korean Broadcasting
System)
NBC
Công ty Truyền thông Quốc gia Mỹ (National
Broadcasting Company)
PTTH
Phát thanh truyền hình
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 9
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12
7. Kết cấu của luận văn 12
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA VÀ MÔ HÌNH
XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH 13
1.1. Khái niệm về “mô hình” và các mô hình xã hội hóa truyền hình 13
1.1.1. Khái niệm về “mô hình” 13
1.1.2. Các mô hình xã hội hóa truyền hình 14
1.1.2.1. Hợp tác sản xuất chương trình: 14
1.1.2.2. Đặt hàng sản xuất chương trình 15
1.2. Khái niệm về xã hội hóa và xã hội hóa truyền hình 16
1.3. Chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí trong nền kinh tế thị trường 21
1.4. Chủ trương, chính sách của nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình 25
1.5. Tổ chức và quản lý hoạt động xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam 28
1.5.1. Vấn đề xóa bỏ độc quyền và xã hội hóa lĩnh vực truyền hình 28
1.5.2. Thực trạng quản lý vấn đề xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam 31
Chƣơng 2: THỰC TIỄN TRIỂN KHAI CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA CỦA
ĐÀI TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ VTC 36
2.1. Tiến trình phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình Đài Truyền hình
Kỹ thuật số VTC 36
2.1.1. Lược sử hình thành Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC 36
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Đài VTC trước thời điểm phân cấp quản lý 1/1/2014 47
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Đài VTC từ ngày 1/1/2014 48
2.2. Quan điểm xã hội hóa của Đài Truyền hình KTS VTC 50
2.2.1. Mô hình xã hội hóa tạo nên giá trị kinh tế truyền thông 50
2.2.2. Hoạt động xã hội hóa truyền hình tạo nên nội dung chương trình phong phú,
3.2.1. Thay đổi nhận thức, thái độ về xã hội hóa sản xuất chương trình 106
3.2.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo và giáo dục chính trị tư tưởng 110
3.2.3. Nâng cao nhận thức về công tác XHH và trách nhiệm của một cơ quan báo chí
112
KẾT LUẬN .115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 MỤC LỤC CÁC HÌNH, BẢNG
Hình 1.1: Doanh thu quảng cáo trên truyền hình và báo in ở Việt Nam … … 24
Hình 2.1: Các kênh truyền hình xã hội hóa của các đài……………………… 34
Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Đài VTC………………………………….38
Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức quản lý của Đài VTC từ ngày 1/1/2014 ……………. 49
Hình 5.1: Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình……………… 51
Hình 6.1: Sơ đồ sản xuất một sản phẩm truyền hình………………………… 54
Hình 7.1: Doanh thu của Kênh VTC1 năm 2009 62
Hình 8.1: Sự phân bố các kênh chương trình ở Đài TH KTS VTC 64
nhiều tầng lớp trong xã hội. Trong sự cạnh tranh gay gắt đó, điều cần thiết với
những người làm truyền hình không chỉ là sự cố gắng nhiều hơn, sáng tạo nhiều
hơn, mà điều quan trọng là phải nhận thức rõ những thách thức và thời cơ, thấy
được xu thế vận động làm cơ sở để xây dựng chiến lược hành động phù hợp cho sự
phát triển của ngành. Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình được xem
là một hướng phát triển mới, cũng là một hướng đi tất yếu.
Bên cạnh đó, nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các thiết bị sản xuất
truyền hình cũng ngày càng trở nên hiện đại, tiện nghi và đặc biệt là rẻ hơn rất
nhiều so với trước, mở ra một khả năng hợp tác vô cùng rộng lớn cho cả truyền
hình và công chúng. Công chúng có thể tham gia trực tiếp và thực hiện các chương
trình truyền hình và nhờ đó nội dung, hình thức thông tin của truyền hình sẽ ngày
một đa dạng và mới mẻ hơn.
2
Trong chiến lược đó, xu hướng xã hội hóa truyền hình với sự hợp tác của
các nguồn lực, đặc biệt là của các đơn vị tư nhân được xem là một xu thế tất yếu.
Xu hướng này đã xuất hiện từ những ngày đầu truyền hình ra đời, hiện nay đang
ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Nhu cầu của công chúng hiện đại đã khiến cho
truyền hình không chỉ là nhà cung cấp thông tin chính trị, thời sự mang đậm dấu ấn
của báo chí, mặt khác còn đặt ra yêu cầu truyền hình phải tích cực hơn nữa trong
việc xã hội hóa các loại hình chương trình phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng,
phong phú của công chúng. Truyền hình sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ của mình khi
không tuyển dụng được một nguồn nhân lực có tay nghề trong xã hội. Do vậy, xã
hội hóa các nguồn lực lao động là một xu hướng tất yếu trong sự phát triển của
ngành truyền hình nước ta và phù hợp với xu thế của ngành truyền hình thế giới.
Trong xu thế chung đó, Đài TH KTS VTC đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội
để thực hiện quá trình xã hội hóa nhằm đem lại một diện mạo mới cả về nội dung
và hình thức thể hiện thông qua sự đóng góp về trí tuệ, tài chính của các tổ chức,
đơn vị và các cá nhân từ bên ngoài. Từ một mô hình xã hội hóa đến việc mở rộng
các hình thức liên kết trên phương thức hợp tác sản xuất chương trình, hợp tác sản
chương trình truyền hình. Bên cạnh đó, có nhiều bài viết, bài nghiên cứu của các
nhà lý luận báo chí nói chung và phát biểu của lãnh đạo các đài truyền hình nói
riêng về vấn đề này.
Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình mặc dù đã hình thành và phát
triển từ thập niên 90 nhưng nếu xét trên bình diện tổng thể, hoạt động này cũng chỉ
nằm trong một giai đoạn ngắn trong chiều dài lịch sử phát triển của báo chí Việt
Nam. Tuy nhiên trong vòng 5 năm trở lại đây đã xuất hiện nhiều ý kiến, bài viết và
công trình nghiên cứu khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau về hoạt động xã hội hóa
nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình nói riêng. Sự quan tâm
ngày càng nhiều đến hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình không chỉ
tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của truyền hình đối với đời sống xã hội mà
bên cạnh đó còn cho thấy mức độ, giá trị tác động, tầm ảnh hưởng của chương
trình truyền hình trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay. Hoạt động xã hội
4
hóa sản xuất chương trình và sự gia tăng số lượng phát sóng các chương trình
truyền hình, trong đó có nhiều chương trình xã hội hóa không những không tách
rời mà còn có phần gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của khán giả truyền
hình nên hiển nhiên nó trở thành một trong những tâm điểm của dư luận xã hội.
Trước yêu cầu thực tiễn cần phải làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến
hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình, một số đơn vị, cá nhân đã có những
nghiên cứu sâu về hoạt động xã hội hóa, đặc biệt là xã hội hóa sản xuất chương
trình theo nhiều góc độ tiếp cận.
Có thể thấy vấn đề liên kết xã hội hóa truyền hình được nhìn nhận, đánh giá
và phân tích trong các nghiên cứu tương ứng với thời điểm thực tế của sự xuất
hiện, manh nha của các mô hình liên kết, hợp tác. Sau đó nó được đồng loạt phân
tích, nhận định thành một xu hướng tất yếu của ngành truyền hình Việt Nam trước
xu hướng hội nhập và quốc tế hóa với ngành truyền hình thế giới.
Trước tiên có thể nhìn nhận việc chấp thuận và tạo điều kiện khuyến khích cũng
như đặt ra các công cụ xã hội hóa các lĩnh vực trong đời sống thông qua những
Điều này cũng rất dễ hiểu bởi, lúc này ở Việt Nam chưa có mô hình liên kết
xã hội hóa để tạo ra nguồn thu cho các nhà đài hay làm phong phú thêm nội dung
mà hoàn toàn do “nội lực” của các đài truyền hình tự vận động và sáng tạo “trong
khuôn khổ”. Tuy nhiên, chỉ sau đó vài năm, xu thế xã hội hóa truyền hình bắt đầu
“nhen nhóm” và được thổi bùng lên. Lúc này đã bắt đầu xuất hiện các công trình
nghiên cứu sâu thông qua các đề tài khóa luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ;
hoặc chúng cũng được nhắc đến trong một số giáo trình, sách chuyên khảo, tham
khảo và trở thành nội dung được nhiều người quan tâm, đặc biệt là những người
hoạt động trong lĩnh vực truyền hình như nhận định của TS. Bùi Chí Trung:
“Thời kỳ phá bỏ độc quyền và phát triển xã hội hóa (từ 2004) ghi dấu
mốc bằng sự ra đời của một hệ thống truyền hình phủ sóng toàn quốc thứ
hai sau VTV - hệ thống truyền hình KTS VTC… Kể từ năm 2004, xã hội hóa
truyền hình là một xu hướng phát triển mang tính tất yếu” [21, tr.124-12].
6
Như vậy, việc tham gia của các nguồn lực xã hội trong lĩnh vực truyền hình
đã đánh dấu những bước quan trọng trong tiến trình xã hội hóa truyền hình ở Việt
Nam và dấu mốc này theo nhiều nghiên cứu khác có thể được tính từ năm 2004.
Một trong những nghiên cứu sâu về vấn đề xã hội hóa truyền hình đó là
Luận án Tiến sĩ Vấn đề xã hội hóa chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay
của Đinh Thị Xuân Hòa (2013). Trong luận án, tác giả nhận định:
“… dù muốn hay không thì cũng phải thừa nhận, xã hội hóa
mang lại một diện mạo mới cho truyền hình. Số lượng chương trình
nhiều lên, chất lượng chương trình thay đổi theo hướng tích cực.
Khán giả chương trình có cơ hội hơn khi lựa chọn chương trình. Cũng
từ xã hội hóa, ngành truyền hình đã huy động được nguồn tài chính to
lớn từ các hoạt động tài trợ, quảng cáo, quảng bá thương hiệu để đầu
tư cho sự phát triển” [25, tr.57].
Những nghiên cứu, lý luận được đưa ra trên thực tế đã chứng minh về sự
xuất hiện và phát triển của mô hình liên kết xã hội hóa trong ngành truyền hình
tiễn cao đều tiếp cận đến nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội hóa, phân tích sâu
thực trạng phát triển, những khó khăn, thuận lợi ở từng đơn vị truyền hình cụ thể…
Ngoài các tài liệu, công trình nghiên cứu trên, có thể liệt kê rất nhiều các bài
báo, tham luận phân tích về chủ đề này như Xu hướng xã hội hóa truyền hình ở
Việt Nam hiện nay của Vũ Chung trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền [tr.38-41]
(9,10/2005), trong đó đề cập tới xu hướng và hiệu quả của mô hình liên kết sản
xuất các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam. Bài Xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình – một xu hướng phát triển của truyền hình hiện đại trên
Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông [tr.31-36] (2/2008) của Xuân Hòa đề
cập tới hiệu quả của các mô hình xã hội hóa. Tác giả cho rằng mô hình liên kết
hiện không dừng lại ở một đơn vị truyền hình mà có rất nhiều đơn vị đều sử dụng
hình thức này như một xu hướng tất yếu để thu hút được trí lực và nguồn tài chính
từ nhiều nguồn lực khác nhau…
Loạt bài viết tập trung nghiên cứu về lợi ích và mặt trái của vấn đề xã hội
hóa truyền hình như: “Nhiều kênh truyền hình: xã hội hóa hay tư nhân hóa” trên
8
báo Sài Gòn Giải phóng Online ngày 27/9/2009 của tác giả Như Hoa – Khánh Duy
đề cập tới những sai phạm khi giao khoán hoàn toàn cho phía doanh nghiệp “nên
bản chất, tiêu chí kênh cũng vì đó biến hóa theo thời gian”. Hay bài “Sở hữu kênh
truyền hình xã hội hóa: Liệu có là miếng bánh ngon ăn?” của tác giả Huyền Nga
trên báo Diễn đàn Doanh nghiệp Điện tử (www://dddn.com.vn) ngày 14/8/2010
phản ánh về sự xuất hiện ồ ạt của các kênh sóng do các doanh nghiệp đầu tư, hợp
tác sản xuất với đài truyền hình nhưng “lượng nhiều mà chất có bao nhiêu”…
Các công trình nghiên cứu vừa nêu trên, vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho
những người đi sau có cùng mối quan tâm, nghiên cứu xã hội hóa sản xuất chương
trình truyền hình. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể
nào nhìn từ góc độ kinh nghiệm thực tiễn quản lý trong xu thế phát triển hợp tác
với các công ty truyền thông tư nhân, đặc biệt là trong phạm vi của Đài TH KTS
VTC. Vì vậy, xuất phát từ hoạt động thực tiễn của Đài Truyền hình KTS VTC,
Nam trong xu thế của thế giới trong việc xã hội hóa truyền hình, dựa trên quy định
và pháp luật của Việt Nam.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chú trọng khảo sát hiện trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền
hình của Đài TH KTS VTC. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mô hình
truyền hình xã hội hóa của Đài Truyền hình KTS VTC hợp tác với các đối tác
trong giai đoạn từ 2009 – 2012.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi nghiên cứu
Trên thực tế, các nguồn lực xã hội hóa được huy động để cùng tham gia sản xuất
các chương trình truyền hình tương đối đa dạng, dẫn đến việc hình thành nhiều các
mô hình xã hội hóa ở mỗi đài khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn này chỉ tập
trung vào các nội dung sau:
- Mô hình xã hội hoá toàn bộ kênh truyền hình (Kênh VTC6, VTC7 (Let’s
Viet) VTC8, VTC9 (Today), VTC11 (KidsTV), VTC13 (iTV)…
10
- Mô hình xã hội hoá chương trình truyền hình: chúng tôi lựa chọn một vài
chương trình xã hội hóa để phân tích và đưa ra các quan điểm, nhìn nhận và
đúc rút dưới dạng mô hình (Chương trình “Doanh nghiệp 24h” do Đài
Truyền hình Kỹ thuật số VTC phối hợp thực hiện cùng công ty Vietbooks;
Chương trình “Giải trí Latsta” trên giờ vàng của Đài Truyền hình VTC kết
hợp với Công ty CP Giải trí Latsta thực hiện. Luận văn chỉ lựa chọn một vài
chương trình tiêu biểu để phân tích và đánh giá hiệu quả cũng như những
hạn chế còn tồn tại, đồng thời đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả của các
chương trình phối hợp thực hiện.
4.2.2. Thời gian nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát đối tượng nghiên cứu vào thời gian từ tháng
và nhìn nhận hiện tượng một cách khách quan và logic.
- Phương pháp khảo sát, so sánh, phân tích, thống kê: nhằm mục đích thu
thập, phân tích, so sánh, thống kê để đưa ra hiệu quả và hạn chế của các chương
trình liên kết đối với khán giả, từ đó thu thập được những mẫu số chung của các
mô hình xã hội hóa truyền hình. Việc khảo sát, so sánh, phân tích và thống kê dựa
trên những số liệu khoa học được tổng kết như chỉ số người xem truyền hình
(rating), những báo cáo về tài chính hay sự phân bổ về vùng phủ sóng của các kênh
truyền hình được sản xuất theo phương thức liên kết tại Đài VTC.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: các chuyên gia, lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước
về báo chí, quản lý các đài truyền hình, các nhà báo; một số cá nhân, tổ chức bên
ngoài đã từng hoặc đang tham gia trực tiếp trong quá trình xã hội hóa của Đài VTC
để thu thập các ý kiến, quan điểm và từ đó nêu thành vấn đề.
Tác giả sẽ đưa ra một số câu hỏi giống nhau để thu thập ý kiến khác nhau,
sau đó sẽ chọn lọc, phân loại để nêu lên thành các luận cứ khách quan. Với việc
tổng hợp, phân tích các ý kiến dựa trên thực tế phát triển của vấn đề sẽ là điều kiện
để tác giả có thể nhìn nhận đề tài một cách đa chiều và sâu sắc.
12
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là tài liệu khoa học góp phần tiếp tục hệ thống và bổ sung nghiên
cứu các vấn đề xã hội hóa truyền hình trên cơ sở tổng hợp và phân tích mô hình xã
hội hóa của một đài truyền hình cụ thể (Đài VTC).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại một cái nhìn tổng quan hơn về
hoạt động xã hội hóa truyền hình hiện nay đồng thời góp phần đề xuất thêm các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chương trình xã hội hóa với
sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả cũng mong muốn
có thể phát triển và ứng dụng những kết quả của đề tài này trong thực tế công tác
tại Đài TH KTS VTC.
kênh sóng kết hợp với các đài truyền hình… hai bên phối hợp với nhau để mang lại
các giá trị chung là những chương trình có chất lượng, phục vụ nhu cầu ngày càng
cao của khán giả. Từ đó, có thể đưa ra một khái niệm về “mô hình xã hội hóa
truyền hình” như sau:
14
“Mô hình xã hội hóa truyền hình là một dạng thức kết hợp giữa một
bên là đài truyền hình và một bên là đối tác tư nhân hợp tác sản xuất để tạo
nên sản phẩm có chất lượng tốt nhất phát sóng trên sóng của đài truyền
hình. Vai trò và “liều lượng” tham gia của đài truyền hình và đối tác sẽ
quyết định các dạng thức hợp tác”.
1.1.2. Các mô hình xã hội hóa truyền hình
Bản chất xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là việc mở rộng các
cách làm nên sản phẩm truyền hình. Căn cứ vào nội dung, mức độ, cách thức sản
xuất có thể chia hoạt động XHH sản xuất chương trình thành hai hình thức như
sau: (1) Hợp tác sản xuất; (2) Đặt hàng sản xuất.
1.1.2.1. Hợp tác sản xuất chương trình:
Đó là việc đài truyền hình và các đối tác “bắt tay” cùng khai thác sử dụng
một cách hợp lý nguồn lực của mỗi bên (con người, phương tiện kỹ thuật, tài
chính…) để tham gia vào quy trình sản xuất làm nên sản phẩm truyền hình.
Hợp tác sản xuất sẽ giúp các bên trong quá trình làm nên sản phẩm bổ sung,
hỗ trợ những mặt đối tác chưa có khả năng hoặc chưa có điều kiện thực hiện. Mặc
khác, hợp tác cũng là cách khai thác tối đa nguồn lực của mỗi bên trong đóng góp
làm nên sản phẩm chung phục vụ xã hội.
Sản phẩm truyền hình là một loại hàng hóa đặc biệt, nó là sự kết tinh của tư
duy, trí tuệ của đội ngũ những người làm chương trình trên cơ sở sử dụng trang
thiết bị kỹ thuật để tái hiện hoặc phản ánh hiện thực xã hội mội cách nghệ thuật.
Vậy nên, để làm ra sản phẩm trí tuệ mang tính đại chúng đòi hỏi những người thực
hiện phải có kỹ năng, trình độ nghiệp vụ chuyên môn, hiểu biết xã hội, tài chính và
phương tiện kỹ thuật đảm bảo cho ra những sản phẩm chất lượng.
trách nhiệm, cách thức triển khai công việc có nhiều điểm khác nhau.
Ở Việt Nam, đặt hàng sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình đang
trở thành xu hướng phát triển trong vài năm trở lại đây. Chẳng hạn, toàn bộ các
chương trình phát sóng mới trên kênh YanTV (SCTV2) là do Công ty Cổ phần
Công nghệ và Tầm nhìn yêu âm nhạc sản xuất, Đài Truyền hình Việt Nam chỉ là
người duyệt và xếp lịch phát sóng. Tương tự, toàn bộ chương trình trên kênh
16
TodayTV (VTC7) và kênh VITV (VTC8), Let’s Việt (VTC9) lần lượt là sản phẩm
của các đơn vị như: Công ty CP Quốc tế IMC, Công ty CP Công nghệ và Truyền
thông VITV và Công ty CP Lasta. Dù chỉ sản xuất thời lượng một vài
giờ/ngày/kênh sóng đó, các đối tác cũng phải rót một khoản chi phí lớn khoảng 30-
40 tỷ/năm để chi từ máy móc, trang thiết bị đến chi phí bộ máy và các khoản phí
sản xuất chương trình. Đây là bài toán kinh doanh phức tạp mà các đối tác luôn
phải tính.
Với Đài VTC, vừa kết hợp đặt hàng sản xuất và hợp tác sản xuất ở nhiều
mức độ nên chúng tôi tổng kết thành 3 mô hình xã hội hóa đó là:
- Xã hội hóa sản xuất kênh truyền hình
- Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, giờ phát sóng, sự kiện….
- Xã hội hóa theo các hình thức khác
Hiện tại, Đài VTC đang triển khai hình thức xã hội hóa theo ba mô hình này
và sẽ được tập trung phân tích trong Chương II của luận văn.
1.2. Khái niệm về xã hội hóa và xã hội hóa truyền hình
Theo Macionis John, XHH là “một khái niệm của nhân loại học và xã hội
học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời, qua đó cá
nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình”. Nói
cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách
của mình để sống trong xã hội như là một thành viên.
Những năm gần đây ở Việt Nam, thuật ngữ xã hội hóa thường được dùng để
chỉ sự quan tâm cũng như đóng góp của toàn xã hội như xã hội hóa giáo dục, xã