NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 69

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
I.NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC TRONG DOANH
NGHIỆP.
1.Khái niệm về tổ chức.
Tổ chức là một hệ thống kinh tế- xã hội gồm nhiểu người được tập hợp với
nhau cùng hoạt động vì một mục đích chung, cùng tồn tại trong những hình thái
cơ cấu nhất định và cùng được phân cho những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
nhất định, có vai trò và đảm nhiệm những trách nhiệm cũng như nhận được
những lợi ích nhất định.
Tổ chức cũng có thể hiểu theo một hướng khác khi xét tổ chức như là một
chức năng của quá trình quản lý. Theo đó, tổ chức được hiểu như là một hoạt
động bao gồm việc phân bổ, sắp xếp nguồn lực con người và gắn liền với con
người là những nguồn lực khác nhằm thực hiện thành công công tác kế hoạch
của tổ chức.
Như vậy về bản chất, tổ chức là việc thực hiện phân công lao động một
cách khoa học. Khi tiến hành tổ chức, người ta không chỉ chú ý đến thiết kế cấu
trúc mà còn chú ý đến phương thức hoạt động và đặc biệt chú ý đến bố trí nhân
lực, lao động được gắn cho những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để
vận hành bộ máy tổ chức đó.
2.Những nội dung cơ bản trong công tác tổ chức.
2.1. Xác định và phân loại các hoạt động cần thiết.
Mỗi tổ chức được thiết kế và lập nên đều có những mục tiêu hoạt động
nhất định cần hướng tới như là cơ sở để tồn tại của tổ chức đó. Kết quả của giai
đoạn này là danh mục các chức năng nhiệm vụ, công việc hoạt động cần thiết để
thực hiện mục tiêu chiến lược của mỗi tổ chức. Quá trình phân chia các công việc
hoạt động được thực hiện theo như sơ đồ 1.1:

Sơ đồ 1: Sơ đồ phân chia công việc
Để tiến hành xác định và phân loại các hoạt động cần thiết cần dựa trên
những câu hỏi cơ bản sau:

sản phẩm. Tất cả những công việc gắn với việc sản xuất và bán một sản phẩm
hay một chủng loại sản phấm sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo của một nhà quản lý.
*Các loại hình khách hàng mà cơ sở hướng tới cũng có thể được sử dụng
như một cơ sở để phân chia tổ chức thành các phòng ban bộ phận.
* Một cơ sở nữa là tập hợp các phòng ban theo địa bàn hoạt động. Mọi
hoạt động trong một khu vực nhất định sẽ được giao cho một nhà quản lý.
* Cũng nhiều khi, các tổ chức xây dựng mô hình cơ cấu tổ chức dựa trên
các quá trình của công việc. Các quá trình ở đây chỉ những công đoạn kỹ thuật
cần thiết để làm ra sản phẩm.
* Ngoài ra chúng ta cũng có thể sử dụng nhiểu cơ sở cùng một lúc để phân
chia tổ chức thành các bộ phận, phòng ban. Như vậy chúng ta sẽ các bộ phận,
phòng ban được tổ chức theo mô hình ma trận hỗn hợp.
2.3. Phân chia lao động, xác định vị trí của từng cá nhân.
Việc phân chia lao động đề cập đến mức độ chuyên môn hoá các công việc
cao hơn nữa sau khi đã phân chia tổ chức thành các phân hệ, các bộ phận. Quá
trình này là sự quy định cụ thể trách nhiệm của mỗi cá nhân để mỗi người có cơ
sở rõ ràng trong việc thực hiện các công việc của mình.
Tất cả các tổ chức đều bao gồm những công việc được chuyên môn hoá và
xác định những nhiệm vụ rõ ràng đến từng cá nhân. Tuy nhiên có thể có những
công việc được chuyên môn hóa nhiều hơn hay ít hơn công việc kia. Sự khác
biệt về mức độ chuyên môn hoá giữa các công việc dựa trên những khía cạnh
sau: _ Dựa trên nhịp độ làm việc.
_ Dựa trên tính lặp lại của công việc.
_ Dựa trên những yêu cầu về kỹ năng.
_ Dựa trên việc xác định rõ các phương pháp.
_ Dựa trên sự chú ý cần thiết.
2.4. Trao quyền hạn.
Trao quyền hạn tức trao quyền ra quyết định cho một người nào đó hoặc
một cấp quản lý nào đó, mang tính đơn phương và buộc những người khác phải
tuân theo những quyết định thuộc thẩm quyền của người được trao quyền hạn.

trong hệ thống theo các nhóm chuyên ngành, với những con người được đào
luyện tương ứng và có đủ quyền hạn. Thông qua chuyên môn hoá năng suất lao
động của tổ chức sẽ tăng lên, tạo nên những nhiệm vụ đơn giản dễ đào tạo, việc
quản lý cũng dễ dàng hơn. Tuy nhiên nó cũng tạo ra một cách làm việc thụ động
từ đó khả năng thích nghi của con người trước đòi hỏi của môi trường là thấp,
tạo cảm giác xa lạ, đối địch giữa những người lao động.
* Sự chuyên môn hoá theo chiều ngang tất yếu dẫn tới việc hình thành các
bộ phận và phân hệ của tổ chức. Việc hình thành các bộ phận, phân hệ của tổ
chức được thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau làm xuất hiện các mô hình tổ
chức khác nhau.
Ưu điểm của mô hình tổ chức theo chức năng đó là phát huy tính tích cực
những ưu điểm của chuyên môn hoá. Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm
của chuyên môn hoá mà ta đã vừa đề cập ở trên. Ngoài ra nó cũng có nhược
điểm đó là nhóm khách hàng có tính đơn thị trường.
Ưu điểm chính của mô hình tổ chức theo sản phẩm là giúp việc quy định
trách nhiệm đối với các mục tiêu cuối cùng tương đối dễ dàng, tăng cường việc
phối hợp giữa các phòng ban chức năng. Nhược điểm là sự tranh giành nguồn
lực giữa các tuyến sản phẩm, nó cũng cần nhiều cán bộ quản lý chung.
Ưu điểm của mô hình tổ chức theo địa dư đó là chú ý đến nhu cầu thị
trường và vấn đề địa phương, có thể phối hợp hành động của các bộ phận và
hướng các hoạt động này vào các thị trường cụ thể. Nhược điểm là khó duy trì
hoạt động trên diện rộng một cách nhất quán và đòi hỏi nhiều cán bộ quản lý.
Mô hình tổ chức theo khách hàng có ưu điểm là tạo ra sự hiểu biết khách
hàng tốt hơn, đảm bảo chắc chắn hơn khi soạn thảo quyết định. Các nhược điểm
là tạo ra sự tranh giành quyền lực phản hiệu quả, thiếu chuyên môn hoá, khó
thích hợp với hoạt động nào khác ngoài marketing.
Mô hình tổ chức ma trận có ưu điểm đặc biệt là tính linh hoạt cao, giúp tổ
chức tập trung nguồn lực vào những khâu xung yếu. Tuy nhiên mô hình cũng có
những nhược điểm như là phức tạp, tính ổn định của cơ cấu là thấp. Mô hình cơ
cấu tổ chức này cũng có thể dẫn tới tình trạng lãng phí.

Phối hợp là quá trình liên kết hoạt động của những con người, bộ phận,
phân hệ và hệ thống riêng rẽ nhằm thực hiện có kết quả và hiệu quả các mục
tiêu chung của tổ chức.
Phối hợp sẽ đặc biệt tỏ ra có hiệu quả đối với những môi trường công việc
luôn thay đổi, các công việc thường không thường nhật và dễ gặp phải các tình
huống khó dự đoán. Phối hợp được thực hiện nhờ cả các công cụ chính thức và
phi chính thức.
_ Các công cụ chính thức bao gồm các kế hoạch, các công cụ cơ cấu, mô
hình tập trung, sự giám sát và ra quyết định trực tiếp của các nhà quản lý, các
công cụ hệ thống thông tin và truyền thông.
_ Các công cụ phi chính thức có thể kể đến văn hoá và các mối quan hệ cá
nhân, văn hoá với hệ thống nhận thức, những giá trị, những chuẩn mực, những
lễ nghi hàng ngày, các mối quan hệ cá nhân.
II. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM.
1.Khái niệm tiêu thụ sản phẩm.
Để hiểu được khái niệm của tiêu thụ sản phẩm trước hết ta cần hiểu được
thế nào là phân phối lưu thông hàng hoá. Phân phối thực chất là đưa hàng hoá
vào các kênh phân phối, là một hệ thống tổ chức và công nghệ điều hoà, cân đối
để tiếp cận và khai thác hợp lý nhu cầu của thị trường để đưa hàng hoá từ nơi
sản xuất đến các khách hàng cuối cùng một cách tiện lợi nhất, nhanh nhất nhằm
đạt lợi nhuận cao.
Bây giờ chúng ta mới đề cập đến khái niệm của tiêu thụ sản phẩm.
Như ta đã biết, hàng hoá đưa đến người tiêu dùng chưa phải là tiêu thụ
xong nếu như khách hàng chưa trả tiền, chỉ khi nào người sản xuất (hoặc người
nhập khẩu) đã nhận được tiền đầy đủ (có thể là tiền mặt, tiền chuyển khoản,
ngân phiếu hoặc hàng hoá trao đổi…) mới xem là hàng hoá đã tiêu thụ xong.
Vậy tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thông qua tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ… chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status