Sáng kiến Kinh nghiệm: Dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại - Pdf 69

Dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
I- NHẬN THỨC VẤN ĐỀ:
Trong giảng dạy bộ môn nào cũng phải theo đúng đặc trưng của bộ môn
ấy. Đó là nguyên tắc hàng đầu mà bất cứ người giáo viên ở bộ môn nào
cũng phải tuân theo. Đối với bộ môn Ngữ văn trong trường THCS là một
môn học đồng tâm của ba phân môn Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn. Cả 3
phân môn được tích hợp với nhau trong từng bài dạy. Đối với phân môn
Văn, việc dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại không phải chỉ
khi thay sách giáo viên mới làm mà việc này chúng ta cũng đã từng bước
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Thực hiện việc thay sách đồng bộ
và cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực phát huy năng lực
chủ động tư duy sáng tạo của học sinh từ năm 2002 đến nay (Năm học
2006- 2007) bước sang vòng 2 của việc thay sách, chúng ta, giáo viên
trực tiếp đứng lớp, giảng dạy bộ môn Ngữ văn cũng đã đạt được những
kết quả bước đầu và có thể rút ra được những kinh nghiệm nhỏ của bản
thân về phương pháp dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại: Tự
sự, biểu cảm, nghị luận...
Bản thân tôi, trực tiếp đứng lớp giảng dạy, xin mạnh dạn trình bày với
các đồng chí đồng nghiệp những suy nghĩ và việc làm "Dạy Đọc- Hiểu
văn bản theo đặc trưng thể loại" cụ thể là thể loại tự sự, truyền
thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười trong phần văn học dân gian
như sau:
II- LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
Tự sự là loại tác phẩm văn chương dùng lời kể để tái hiện trực tiếp hiện
thực khách quan nhằm dựng lại một dòng đời qua những sự việc, những
biến cố, những con người. Qua đó bày tỏ cách hiểu, một thái độ nhất
định. Loại hình tự sự bao gồm nhiều thể tài như thần thoại, sử thi, truyện
cổ, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn... các thể ký như hồi
ký, bút ký, ký sự, tuỳ bút, phóng sự...
Kể ra các sự việc, các biến cố, các việc làm, lời nói cụ thể cá biệt của
nhân vật bằng một câu chuyện, một dòng đời theo một cách nhìn, một

Có thể nói: Tác phẩm tự sự dân gian là một kho lưu giữ trí tuệ tưởng
tượng phong phú, thông minh, sáng tạo, nghệ thuật của nhân dân ta. Tư
tưởng, tình cảm của nhân dân cũng được bộc lộ phong phú, muôn hình,
muôn vẻ. Vì thế mỗi tác phẩm tự sự dân gian (truyền thuyết, cổ tích, ngụ
ngôn, truyện cười) đều dễ ăn nhập vào trí nhớ người đọc, người nghe,
nhất là đối với thế giới trẻ thơ. Đối tượng của chúng ta trong nhà trường,
các em rất yêu thích khi được tiếp xúc, học tập thể loại này.
Người giáo viên khi dạy Đọc- Hiểu về đặc trưng thể loại này cũng cần phải
linh hoạt, nắm vững khái niệm chung của thể loại cùng với phương thức
cơ bản của nó để cung cấp cho học sinh. Cũng là tác phẩm tự sự nhưng
truyền thuyết khác cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Trong giờ dạy Đọc-
Hiểu phải chú ý tới 4 vấn đề lớn đó là:
1. Học sinh đọc kỹ văn bản, hiểu văn bản theo tư duy nhận thức cá nhận.
2. Sự tác động của giáo viên tới học sinh trong giờ Đọc- Hiểu.
3. Hoạt động ngoại khoá mở rộng tri thức văn học của học sinh.
4. Học sinh tích luỹ tri thức và huy động vốn ngôn ngữ, tri thức trong tạo
lập văn bản nói và viết.
VẤN ĐỀ THỨ NHẤT:
Học sinh Đọc- Hiểu văn bản theo tư duy nhận thức cá nhân.
1. Để đọc hiểu tác phẩm tự sự dân gian theo những chuẩn mực nào
đó đã được quy định trong chương trình, sách giáo khoa. Trước hết, giáo
viên phải giúp học sinh tái hiện tác phẩm vì tái hiện là thao tác tư duy đầu
tiên, quan trọng nhất của đọc để cảm nhận tác phẩm.
Ví dụ: Khi dạy truyện truyền thuyết: "Con Rồng cháu Tiên" (SGK- Ngữ
văn 6- tập 1).
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh ảnh Đền Hùng, gợi cho học sinh
liên tưởng về nguồn gốc lịch sử dân tộc, tạo tâm thế vào bài. Học sinh gọi
được tên Đền Hùng, liên tưởng đến một di tích thiêng liêng gắn với lịch sử
cội nguồn dân tộc. Giáo viên tiếp tục gợi cho học sinh nhớ đến một câu
hát dân gian nhắc đến cội nguồn dân tộc Việt Nam:

và rung động riêng của cá nhân.
Qua việc đọc cùng với hiểu thông tin ngay trên từng dòng văn bản (theo
nghĩa hiển ngôn), cao hơn nữa là tìm ra mối liên hệ giữa văn bản với
những vấn đề ngoài văn bản (thực tế cuộc sống) để tìm ra lớp nghĩa hàm
ngôn trong câu chuyện. Như vậy từ khâu đọc cũng có thể hình thành cho
học sinh kỹ năng nhận xét, đánh giá, cảm thụ và nghe tốt, nói tốt, viết tốt
Tiếng Việt. Đồng thời với việc đọc, học sinh cũng có thể huy động vốn
ngôn ngữ nói để kể lại câu chuyện, hoặc đoạn truyện, kể tóm tắt truyện
khi cần thiết phục vụ trong giờ Đọc- Hiểu văn bản tự sự.
Đọc- Hiểu tốt, bản thân học sinh phải chủ động, tích cực, tiếp nhận khám
phá văn bản theo hướng: Đọc --> suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện --> huy
động vốn kiến thức nâng cao cảm thụ cá nhân.
Trong quá trình đọc, học sinh sự quan tâm tới các từ khó, các chú thích
của văn bản, vừa đọc vừa nhập vai vào nhân vật, hiện thực hoá chức
năng biểu cảm của ngôn ngữ, tái tạo các biểu tượng đậm đà màu sắc dân
gian, tưởng tượng sinh động giúp cho năng lực cảm thụ văn của cá nhân
được phát triển và nâng lên. Học sinh nhìn nhận và có thái độ đánh giá
đúng về cốt truyện, nhân vật, lời kể, thái độ của nhân dân, ý nghĩa của
câu chuyện liên quan đến các vấn đề đời sống, lịch sử của dân tộc... vốn
sống, tâm hồn, tình cảm, thông minh sáng tạo nghệ thuật phong phú của
nhân dân. Đọc- quan sát tranh hình SGK cũng là để nắm được nội dung, ý
nghĩa trực quan sinh động của câu chuyện...
Cốt truyện trong các văn bản tự sự dân gian là các biến cố, các sự kiện
xảy ra liên tiếp từ cái này đến cái kia, cái sau tiếp nối cái trước cho đến
khi kết thúc câu chuyện. Cốt truyện là điểm tựa cho câu chuyện đứng
được và lưu truyền. Tuy nhiên, truyện dân gian cốt truyện còn đơn giản,
không phức tạp vì thế học sinh dễ nắm bắt, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ kể.
Ví dụ: Khi Đọc- Hiểu văn bản: "Thánh Gióng" (Ngữ văn 6- Tập 1).
Học sinh đã chỉ ra được các sự việc:
1- Sự ra đời kỳ lạ của Thánh Gióng.

các em có nhiều tự tin trong giao tiếp và học tập.
3. Khi dạy Đọc- Hiểu một văn bản tự sự cụ thể phải chú ý tới
những nét đặc trưng riêng của từng thể loại.
*Với truyện truyền thuyết, cổ tích hướng cho học sinh chú ý đến yếu
tố siêu nhiên, thần kỳ, những sự việc kỳ lạ, tính ngẫu nhiên, những yếu tố
tình cờ xen vào câu chuyện.
Ví dụ: Truyện truyền thuyết "Sự tích Hồ Gươm" (Ngữ văn 6- tập 1) có bao
nhiêu điều lạ: Lê Thận được lưỡi gươm ở dưới nước, Lê Lợi được chuôi
gươm ở trên rừng mà chắp lại rất khớp, lưỡi gươm phát sáng kỳ lạ, chuôi
gươm có chữ "Thuận Thiên". Việc trả gươm cũng chứa đựng nhiều yếu tố
thần kỳ. Tất cả đều là những yếu tố ngẫu nhiên, kỳ lạ, chứa đựng ý nghĩa
sâu xa. Đó là những điều ta không thể bỏ qua khi cho học sinh Đọc- Hiểu,
khám phá văn bản.
Trong truyện truyền thuyết, nhân vật "thần" luôn xuất hiện đậm nét,
được tác giả dân gian giới thiệu, miêu tả qua các chi tiết về lai lịch, hình
dạng, chức năng của thần, mối quan hệ của thần với xã hội người.
Ví dụ: Lạc Long Quân, Âu Cơ (truyền thuyết: Con Rồng cháu Tiên- Ngữ
văn 6- tập 1); thần mách bảo Lang Liêu (truyền thuyết: Bánh chưng bánh
giầy), Đức Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm thần (truyền thuyết: Sự tích
Hồ Gươm)...
Đọc- Hiểu văn bản truyền thuyết không chỉ khám phá, phát hiện nhân
vật thần, yếu tố siêu nhiên thần thánh mà cần phải hiểu được ý nghĩa sâu
xa của các hình tượng thần. Trong buổi đầu sơ khai mở nước, dựng nước,
giữ nước của dân tộc, nhân dân mong muốn có sức mạnh siêu nhiên thần
kỳ để làm nên các việc lớn lao. Do vậy họ đã tưởng tượng xây dựng hình
tượng nghệ thuật thi vị hoá để ca ngợi công lao to lớn, thành quả tốt đẹp
phải vượt qua không ít những khó khăn, trở ngại, nguy hiểm: Thú dữ,
thiên tai, lũ lụt, giặc ngoại xâm; công việc làm ăn... vươn lên những cái
tốt đẹp trong cuộc sống. Mối quan hệ của các vị thần với xã hội người gần
gũi, thân thiện.

cho bút là phần thưởng xứng đáng đối với Mã Lương và cũng là thể hiện
được ước mơ người lao động nghệ thuật chân chính có phương tiện lao
động để phục vụ chân chính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status