Dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
I- NHẬN THỨC VẤN ĐỀ:
Trong giảng dạy bộ môn nào cũng phải theo đúng đặc trưng của bộ môn ấy. Đó
là nguyên tắc hàng đầu mà bất cứ người giáo viên ở bộ môn nào cũng phải tuân
theo. Đối với bộ môn Ngữ văn trong trường THCS là một môn học đồng tâm của
ba phân môn Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn. Cả 3 phân môn được tích hợp với
nhau trong từng bài dạy. Đối với phân môn Văn, việc dạy Đọc- Hiểu văn bản theo
đặc trưng thể loại không phải chỉ khi thay sách giáo viên mới làm mà việc này
chúng ta cũng đã từng bước thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Thực hiện
việc thay sách đồng bộ và cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực phát
huy năng lực chủ động tư duy sáng tạo của học sinh từ năm 2002 đến nay (Năm
học 2006- 2007) bước sang vòng 2 của việc thay sách, chúng ta, giáo viên trực
tiếp đứng lớp, giảng dạy bộ môn Ngữ văn cũng đã đạt được những kết quả bước
đầu và có thể rút ra được những kinh nghiệm nhỏ của bản thân về phương pháp
dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại: Tự sự, biểu cảm, nghị luận
Bản thân tôi, trực tiếp đứng lớp giảng dạy, xin mạnh dạn trình bày với các đồng
chí đồng nghiệp những suy nghĩ và việc làm "Dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc
trưng thể loại" cụ thể là thể loại tự sự, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn,
truyện cười trong phần văn học dân gian như sau:
II- LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
Tự sự là loại tác phẩm văn chương dùng lời kể để tái hiện trực tiếp hiện thực
khách quan nhằm dựng lại một dòng đời qua những sự việc, những biến cố,
những con người. Qua đó bày tỏ cách hiểu, một thái độ nhất định. Loại hình tự sự
bao gồm nhiều thể tài như thần thoại, sử thi, truyện cổ, truyện thơ, tiểu thuyết,
truyện vừa, truyện ngắn các thể ký như hồi ký, bút ký, ký sự, tuỳ bút, phóng
sự
Kể ra các sự việc, các biến cố, các việc làm, lời nói cụ thể cá biệt của nhân vật
bằng một câu chuyện, một dòng đời theo một cách nhìn, một giọng điệu nhất
định.
Tác phẩm tự sự giúp chúng ta quan sát thế giới khách quan trong toàn bộ biểu
hiện của nó trong toàn cảnh cũng như trong chi tiết. Ở cấp THCS, các tác phẩm tự
của chúng ta trong nhà trường, các em rất yêu thích khi được tiếp xúc, học tập
thể loại này.
Người giáo viên khi dạy Đọc- Hiểu về đặc trưng thể loại này cũng cần phải linh
hoạt, nắm vững khái niệm chung của thể loại cùng với phương thức cơ bản của nó
để cung cấp cho học sinh. Cũng là tác phẩm tự sự nhưng truyền thuyết khác cổ
tích, ngụ ngôn, truyện cười. Trong giờ dạy Đọc- Hiểu phải chú ý tới 4 vấn đề lớn
đó là:
1. Học sinh đọc kỹ văn bản, hiểu văn bản theo tư duy nhận thức cá nhận.
2. Sự tác động của giáo viên tới học sinh trong giờ Đọc- Hiểu.
3. Hoạt động ngoại khoá mở rộng tri thức văn học của học sinh.
4. Học sinh tích luỹ tri thức và huy động vốn ngôn ngữ, tri thức trong tạo lập văn
bản nói và viết.
VẤN ĐỀ THỨ NHẤT:
Học sinh Đọc- Hiểu văn bản theo tư duy nhận thức cá nhân.
1. Để đọc hiểu tác phẩm tự sự dân gian theo những chuẩn mực nào đó đã
được quy định trong chương trình, sách giáo khoa. Trước hết, giáo viên phải giúp
học sinh tái hiện tác phẩm vì tái hiện là thao tác tư duy đầu tiên, quan trọng nhất
của đọc để cảm nhận tác phẩm.
Ví dụ: Khi dạy truyện truyền thuyết: "Con Rồng cháu Tiên" (SGK- Ngữ văn 6- tập
1).
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh ảnh Đền Hùng, gợi cho học sinh liên tưởng
về nguồn gốc lịch sử dân tộc, tạo tâm thế vào bài. Học sinh gọi được tên Đền
Hùng, liên tưởng đến một di tích thiêng liêng gắn với lịch sử cội nguồn dân tộc.
Giáo viên tiếp tục gợi cho học sinh nhớ đến một câu hát dân gian nhắc đến cội
nguồn dân tộc Việt Nam:
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba."
và câu nói của Bác Hồ với các chiến sĩ dưới chân Đền Hùng:
"Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước."
đoạn truyện, kể tóm tắt truyện khi cần thiết phục vụ trong giờ Đọc- Hiểu văn bản
tự sự.
Đọc- Hiểu tốt, bản thân học sinh phải chủ động, tích cực, tiếp nhận khám phá văn
bản theo hướng: Đọc > suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện > huy động vốn kiến thức
nâng cao cảm thụ cá nhân.
Trong quá trình đọc, học sinh sự quan tâm tới các từ khó, các chú thích của văn
bản, vừa đọc vừa nhập vai vào nhân vật, hiện thực hoá chức năng biểu cảm của
ngôn ngữ, tái tạo các biểu tượng đậm đà màu sắc dân gian, tưởng tượng sinh
động giúp cho năng lực cảm thụ văn của cá nhân được phát triển và nâng lên. Học
sinh nhìn nhận và có thái độ đánh giá đúng về cốt truyện, nhân vật, lời kể, thái độ
của nhân dân, ý nghĩa của câu chuyện liên quan đến các vấn đề đời sống, lịch sử
của dân tộc vốn sống, tâm hồn, tình cảm, thông minh sáng tạo nghệ thuật
phong phú của nhân dân. Đọc- quan sát tranh hình SGK cũng là để nắm được nội
dung, ý nghĩa trực quan sinh động của câu chuyện
Cốt truyện trong các văn bản tự sự dân gian là các biến cố, các sự kiện xảy ra
liên tiếp từ cái này đến cái kia, cái sau tiếp nối cái trước cho đến khi kết thúc câu
chuyện. Cốt truyện là điểm tựa cho câu chuyện đứng được và lưu truyền. Tuy
nhiên, truyện dân gian cốt truyện còn đơn giản, không phức tạp vì thế học sinh dễ
nắm bắt, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ kể.
Ví dụ: Khi Đọc- Hiểu văn bản: "Thánh Gióng" (Ngữ văn 6- Tập 1).
Học sinh đã chỉ ra được các sự việc:
1- Sự ra đời kỳ lạ của Thánh Gióng.
2- Gióng gặp sứ giả, cả làng nuôi Gióng.
3- Gióng cùng nhân dân chiến đấu và chiến thắng giặc Ân.
4- Gióng bay về trời.Các sự việc diễn ra đơn giản nhưng theo trình tự hành động
của nhân vật từ đầu câu chuyện đến khi kết thúc. Trong truyện dân gian, cốt
truyện gắn chặt với nhân vật đến nỗi nhiều khi kể chuyện tức là kể người như:
Thánh Gióng, Sơn Tinh- Thuỷ Tinh, Sọ Dừa, Thày bói xem voi
Nhân vật trong truyện dân gian ít, chủ yếu sống bằng hành động. Sức hấp dẫn
của truyện dân gian thường dựa và sự đột ngột, ly kỳ, còn sự hấp dẫn của các
thể bỏ qua khi cho học sinh Đọc- Hiểu, khám phá văn bản.
Trong truyện truyền thuyết, nhân vật "thần" luôn xuất hiện đậm nét, được tác
giả dân gian giới thiệu, miêu tả qua các chi tiết về lai lịch, hình dạng, chức năng
của thần, mối quan hệ của thần với xã hội người.
Ví dụ: Lạc Long Quân, Âu Cơ (truyền thuyết: Con Rồng cháu Tiên- Ngữ văn 6-
tập 1); thần mách bảo Lang Liêu (truyền thuyết: Bánh chưng bánh giầy), Đức
Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm thần (truyền thuyết: Sự tích Hồ Gươm)
Đọc- Hiểu văn bản truyền thuyết không chỉ khám phá, phát hiện nhân vật thần,
yếu tố siêu nhiên thần thánh mà cần phải hiểu được ý nghĩa sâu xa của các hình
tượng thần. Trong buổi đầu sơ khai mở nước, dựng nước, giữ nước của dân tộc,
nhân dân mong muốn có sức mạnh siêu nhiên thần kỳ để làm nên các việc lớn
lao. Do vậy họ đã tưởng tượng xây dựng hình tượng nghệ thuật thi vị hoá để ca
ngợi công lao to lớn, thành quả tốt đẹp phải vượt qua không ít những khó khăn,
trở ngại, nguy hiểm: Thú dữ, thiên tai, lũ lụt, giặc ngoại xâm; công việc làm ăn
vươn lên những cái tốt đẹp trong cuộc sống. Mối quan hệ của các vị thần với xã
hội người gần gũi, thân thiện.
Ví dụ: Lạc Long Quân: Giúp dân trừ diệt Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, dạy dân cách
trồng trọt Sự xuất hiện đến, đi cũng rất nhanh "Thoắt hiện, thoắt biến" ly kỳ và
hấp dẫn. Với truyền thuyết, vốn chỉ là những mẩu chuyện nhằm bổ sung cho
khuyết sử cho nên khi đọc hiểu tiếp cận, phân tích học sinh không được coi đây là
những tài liệu lịch sử mà coi như những sáng tạo nghệ thuật tức là phải hiểu và
phân tích chất "thơ và mộng" hoá các vấn đề liên quan đến lịch sử nhằm giải
thích vấn đề liên quan đến lịch sử dân tộc.
Truyện truyền thuyết "Sơn Tinh - Thuỷ Tinh" cũng bắt đầu từ những yếu tố kỳ lạ,
đó là phép lạ của 2 vị thần: Một vị "vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn
bãi ", một vị "gọi gió gió đến, hô mưa mưa về " Yếu tố thần kỳ khi hai vị đánh
nhau, các con vật của vua Hùng đòi sính lễ cũng đầy những dấu hiệu kỳ lạ "Voi
chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao", sự việc "nước dâng cao bao nhiêu thì
đồi núi cao lên bấy nhiêu" Tất cả đều thật là kỳ diệu. Mục đích sáng tác truyện
này của nhân dân nhằm giải thích hiện tượng lũ lụt hàng năm vào tháng 7, tháng
nhân dân. Truyện kể hấp dẫn bởi nhân vật là một dũng sĩ vừa đấu tranh với thiên
nhiên, chống các loài yêu quái, vừa đấu tranh chống giai cấp trong xã hội, lại vừa
đấu tranh chống 18 nước Chư hầu, đấu tranh cho tình yêu hạnh phúc. Trí tượng
tưởng bay bổng của nhân dân qua yếu tố thần kỳ: Bộ cung tên vàng, cây đàn
thần, niêm cơm thần Học sinh đọc hiểu phát hiện ra các chi tiết, sự việc, nhân
vật, các diễn biến tình tiết và kết quả nhân vật kết hợp với phân tích, bình xét,
đánh giá nhân vật theo quan niệm, ước mơ của nhân dân, bộc lộ sự yêu ghét rõ
ràng trong nhận thức cá nhân.
*Đối với Đọc - Hiểu truyện ngụ ngôn cần nắm bắt đặc trưng của truyện
thường mượn chuyện của vật để nói về chuyện người, nhân vật thường là những
con vật (Ếch ngồi đáy giếng; Thỏ và Rùa; Hươu và Rùa ). Nhưng cũng có khi kể
chuyện người để rút ra bài học triết lý được gửi gắm trong đó (Thày bói xem voi).
Cần chú ý từ một câu chuyện ngụ ngôn đôi khi người ta có thể rút ra những bài
học khác nhau. Cho nên cần đem những bài học rút ra được đó nghiệm lại với câu
chuyện kể và lựa chọn lấy bài học mà ta coi là của chính người đặt truyện ngụ
ngôn trong câu chuyện để đánh giá. Giáo viên có thể đưa ra các hình thức để học
sinh bày tỏ quan điểm, thống nhất ý kiến qua hình thức: Trao đổi nhanh, phiếu
học tập hoặc câu hỏi trắc nghiệm.+Tên các văn bản truyện ngụ ngôn thường là
một thành ngữ: "Ếch ngồi đáy giếng", "Thày bói xem voi", "Đeo nhạc cho mèo"
(Ngữ văn 6- tập 1) bước đầu đã gây sự chú ý người đọc về vỏ âm thanh bề ngoài,
về tính hình tượng và ý nghĩa của tính hình tượng của thành ngữ. Từ đó có thể rút
ra bài học triết lý sâu sắc của nhân dân gửi gắm trong câu chuyện phù hợp với
quan điểm nhận thức của từng truyện đặt ra. Học sinh còn có thể tích hợp được
với phần Tiếng Việt đã học (ở bậc Tiểu học) về Thành ngữ- hiểu thành ngữ và như
vậy cũng có thể hiểu ngay nội dung chủ đề chính của văn bản đang học thể hiện
ngay ở đầu đề văn bản.
*Khi Đọc- Hiểu truyện cười, cần hiểu truyện cười lấy tiếng cười làm mục đích
cho nên làm thế nào gây được cười đó là điều tác giả dân gian hằng nghĩ tới. Về
hình thức nghệ thuật nói chung truyện cười là thể loại truyện dân gian ngắn nhất.
Kết cấu của truyện chặt chẽ, cái cười là sản phẩm của nhận thức, lý tính, là kết
kích thích khả năng tự học, tư duy sáng tạo của học sinh nhiều hơn là câu hỏi
phát hiện. Câu hỏi đặt ra phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, gây hứng thú cho học
sinh, bám sát mục tiêu bài học và được sắp xếp từ dễ đến khó, tạo điều kiện cho
mọi đối tượng có câu trả lời. Khi học sinh gặp khó khăn trong việc trả lời câu hỏi,
giáo viên cần có câu hỏi gợi ý.
Ví dụ: Khi dạy Đọc- Hiểu truyện truyền thuyết: Sự tích Hồ Gươm (Ngữ văn 6- tập
1) giáo viên có thể đưa ra các dạng câu hỏi:- Dạng câu hỏi tìm tòi, phát hiện:
? Em hãy cho biết thể loại và phương thức biểu đạt của truyện ?
? Em có thể chia bố cục truyện này thành mấy phần, nội dung chính của từng
phần?
? Phần văn bản kể về Lê Lợi được gươm báu bao gồm các sự việc quan trọng nào.
Hãy tóm tắt và liệt kê theo trình tự?
? Phần văn bản sự tích Lê Lợi trả gươm được kể qua các sự việc nào?
- Dạng câu hỏi yêu cầu quan sát: (Xem xét sự vật, hiện tượng và mô tả).
? Bức tranh trong sách giáo khoa minh họa cho những nhân vật và sự việc nào ?
Em hãy thuật lại nội dung đó?
- Dạng câu hỏi gợi mở:
? Trong tay Lê Lợi thanh gươm báu có sức mạnh tung hoành khắp trận địa và cuối
cùng không còn tên giặc nào trên đất nước ta. Theo em đó là sức mạnh của gươm
hay của con người?
- Dạng câu hỏi đánh giá:
? Thần đòi gươm và vua trả gươm giữa cảnh đất nước thanh bình. Điều đó có ý
nghĩa gì ?
? Truyện có ý nghĩa, mục đích gì ?
- Dạng câu hỏi giải quyết vấn đề:
? Vì sao tác giả dân gian không để Lê Lợi trực tiếp nhận cả chuôi gươm và lưỡi
gươm cùng một lúc ?
- Dạng câu hỏi suy đoán:
? Lê Lợi nhận gươm ở Thanh Hoá nhưng lại trả gươm ở Thăng Long. Nếu Lê Lợi trả
gươm ở Thanh Hoá thì ý nghĩa của truyện sẽ khác đi như thế nào ?
tình, có khi giúp học sinh sửa chữa những ngôn ngữ diễn đạt chưa lưu loát, chưa
chuẩn.
3. Tích hợp kiến thức trong phân môn Ngữ văn:
- Văn bản được tích hợp với Tiếng Việt rõ nhất ở việc tìm hiểu nghĩa của từ (chú
thích SGK).
Ví dụ:
Từ "hăm hở", "lờ đờ", "lừ đừ" (Văn bản: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng- Ngữ văn 6-
tập 1) đều là từ láy tượng hình.
Học sinh phát hiện các từ "Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng" nếu xét là bộ phận cơ thể
người thì đó là danh từ chung nhưng trong trường hợp dùng trong văn bản lại là
danh từ riêng vì đã được viết hoa và nhân hoá có tình cảm, tính cách như con
người
- Các văn bản tự sự còn tích hợp với thể văn tự sự trong phân môn Tập làm văn
(Kể người, kể việc).Ví dụ:
Giới thiệu nhân vật chính ngay từ đầu:"Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như
bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai Thần Long Nữ,
tên là Lạc Long Quân." ("Con rồng cháu tiên" - Ngữ văn 6, tập 1)
Giới thiệu đồng thời nêu hoạt động, đặc điểm nhân vật chính: "Ngày xưa có hai
vợ chồng ông lão đánh cá ở với nhau trong một túp lều nát trên bờ biển. Ngày
ngày chồng đi thả lưới, vợ ở nhà kéo sợi." (Ông lão đánh cá và con cá vàng)
Kể người kết hợp kể việc theo trình tự một chuỗi sự việc trong văn tự sự: (Cây
bút thần)
1.Mã Lương học vẽ và có được cây bút thần.
2.Mã Lương vẽ cho những người nghèo khổ.
3.Mã Lương dùng bút thần chống lại tên địa chủ.
4.Mã Lương dùng bút thần để chống lại tên vua gian ác, tham lam.
5.Mã Lương sống trong lòng nhân dân, ca tụng của người đời.
Sự tích hợp kiến thức trong môn ngữ văn giúp cho học sinh củng cố kiến thức từ
bài đã học với các phân môn làm hỗ trợ và thúc đẩy cho học sinh học tốt về Văn-
Tiếng Việt-Tập làm văn đặc biệt là tạo lập văn bản.
Cách kết thúc có hậu ấy thể hiện công lí xã hội (ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác) và
đó cũng là ước mơ đổi đời của nhân dân. Đây cũng là cách kết thúc phổ biến
thường thấy trong các truyện cổ tích như: Sọ dừa, Tấm Cám, Cây bút thần
Khi dạy truyện ngụ ngôn và truyện cười, ta thấy các truyện đều có cái cười và
cái cười đều có ý nghĩa.
Ngoài việc cho học sinh tìm hiểu nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn, cũng cần có
những lời bình về ý nghĩa cái cười để rút ra những bài học và vận dụng phong phú
trong thực tế cuộc sống.
Ví dụ 3:
? Hãy bình ý nghĩa cái cười trong văn bản truyện cười "Treo biển".
Học sinh có thể bình cái cười nổi bật trong truyện là nhà hàng từ chỗ treo biển
để đạt được mục đích kinh doanh đến chỗ cất biển bởi thiếu chủ kiến, thiếu tự tin,
dễ dàng ngả theo ý kiến của người khác để đến nỗi hỏng việc. Nhà hàng này là
điển hình cho hạng người ba phải không có lập trường. Cái cười ở đây có tính chất
cười phê phán nhẹ nhàng nhưng thâm thuý. Người dân muốn gửi gắm vào đó một
bài học ngụ ngôn, bài học cuộc đời rằng: Hãy lắng nghe nhiều ý kiến từ nhiều
phía khác nhau nhưng lại cần hơn đó là sự tự tin, suy nghĩ, đắn đo, thận trọng
trước khi quyết định. Phải giữ được chủ kiến của mình, nếu đã tin chắc điều đó là
đúng
VẤN ĐỀ THỨ BA:
Hoạt động ngoại khoá mở rộng tri thức vốn sống thực tế của học sinh.
- Giáo viên có thể tổ chức học sinh tham quan các địa danh lịch sử gắn với truyện
truyền thuyết đã học để các em thấy rõ hơn tính hấp dẫn của câu chuyện.
- Thi kể chuyện diễn cảm, diễn tiểu phẩm.
Nếu địa danh liên quan đến truyền thuyết lịch sử địa phương, giáo viên có thể tổ
chức dạy thực địa, bài sẽ tăng tính giáo dục, tự hào về quê hương.
VẤN ĐỀ THỨ TƯ:
- Học sinh biết tích luỹ vốn sưu tầm tài liệu văn học dân gian, truyện ổ trong nước
và ngoài nước.
- Ghi sổ tay văn học những lời bình hay về ý nghĩa từng câu chuyện của các tác
sinh
Điểm
0-1-2
Điểm
3-4
Điểm
5-6
Điểm
7-8
Điểm
9-10
TB trở
lên
6A3 40 0 0 8
20%
23
57,5%
9
22,5%
40
100%
Kết quả bộ môn cuối năm học (lớp 6):
Lớp TS
học
sinh
Điểm trung bình môn TBtrở lên
Giỏi Khá TB Yếu
6A3 40 16
40%
19