CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC - Pdf 69

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO
ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC
1.1. Tổng quan về động lực làm việc của người lao động trong tổ chức
1.1.1. Khái niệm động lực làm việc của người lao động
1.1.1.1. Về động cơ làm việc
Động cơ làm việc được biểu thị qua thái độ chủ quan của con người đối
với hành động của mình. Nó phản ánh mục tiêu được đặt ra một cách có ý thưc,
nó xác động và giải thích hành vi của mỗi người.
Bởi vậy, những nhà quản lý khi muốn thúc đẩy nhân viên của họ, thì họ
làm những việc mà hi vọng sẽ đáp ứng được phần nào mong muốn và nguyện
vọng của người lao động, đó cũng là cách nhà quản lý thúc đẩy người lao động
hành động theo cách thức mong muốn của chính họ.
Sau đây ta xem xét một số đặc trưng của động cơ làm việc:
+ Động cơ làm việc rất trừu tượng và khó xác định: Động cơ của
mỗi người ít được thể hiện ra bên ngoài mà nó thường được che giấu bởi các lý
do khác nhau, như : tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân và nhân sinh quan của
mỗi cá nhân…
Động cơ phụ thuộc vào từng người và trong các điều kiện hoàn
cảnh khác nhau thì động cơ làm việc cũng khác nhau.
+ Động cơ rất đa dạng, phong phú, phức tạp và thường mâu thuẫn
với nhau. Đó là khi con người có nhiều động cơ một lúc mà buộc họ phải đưa ra
lựa chọn, khi đó động cơ dẫn đến mâu thuẫn và đòi hỏi người lao động phải tìm
ra cơ hội tối ưu trong việc lựa chọn hành động. Ví dụ như việc lựa chọn giữa
việc gửi tiết kiệm với đầu tư kinh doanh…
Bởi động cơ làm việc của mỗi cá nhân có những đặc tính như trên nên
làm cho việc năm bắt, xác định động cơ rất khó khăn. Với tư cách là những nhà
quản lý, chúng ta cần phân tích, xác định chính xác động cơ người lao động để
từ đó có những điều chỉnh phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
1.1.1.2. Về động lực làm việc.
- “Động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để
tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”

4 TS.Bùi Anh Tuấn, Giáo trình hành vi tổ chức, NXB thống kê, 2003, tr 89-90
• Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc,
không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào.
• Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là
không có người có động lực và người không có động lực.
• Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới
năng suất, hiệu quả công việc cao hơn.
• Người lao động nếu không có động lực vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ
mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng rời xa tổ chức.
1.1.1.3. Về tạo động lực lao động.
“ Tạo động lực làm việc là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật
quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực
trong công việc”
5
Tạo động lực là hướng người lao động tới mục tiêu đã đề ra và đạt được
chúng với sự nỗ lực lớn nhất.
Mục đích của tạo Động lực làm việc:
+ Tạo động lực để khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy được tiềm
năng của người lao động trong tổ chức. Từ đó, người lao động có thể phát huy
hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của mình, đó chính là
quá trình tự hoàn thiện trong công việc.
+ Tạo động lực làm việc làm nâng cao sự gắn bó của người lao động đối
với tổ chức, đồng thời thu hút những lao động giỏi về tổ chức. Điều này vừa có
lợi cho cá nhân người lao động và cho cả tổ chức.
1.1.2. Vai trò của việc tạo động lực làm việc.
1.1.2.1. Đối với bản thân người lao động.
Tạo động lực góp phần thỏa mãn các nhu cầu của người lao động, cả nhu
cầu về vật chất và tinh thần. Khi có động lực làm việc, người lao động sẽ hăng
say làm việc, cống hiến, từ đó nâng cao hiệu quả công việc cũng như năng suất

thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền
với sự phát triển của con người, cộng đồng, tập thể và xã hội”
6
Nhu cầu của con người là rất phong phú và được chia theo cấp độ, tùy
từng hoàn cảnh, điều kiện môi trường. Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu
cầu cao hơn xuất hiện và con người có xu hướng hành động để thỏa mãn nhu
cầu cao hơn đó.
Nhu cầu được phân chia theo các tiêu chí sau:
- Theo phạm vi nghiên cứu, nhu cầu được chia 2 loại: nhu cầu vật chất và
nhu cầu tinh thần.
- Theo mức độ thỏa mãn, nhu cầu được chia 3 loại : nhu cầu bậc thấp,
nhu cầu vận động và nhu cầu sáng tạo.
Mỗi con người đều có hệ thống nhu cầu cá nhân khác nhau, đây chính là
cơ sở để tạo động lực phù hợp cho mỗi người lao động một cách phù hợp.
 Hệ thống lợi ích.
“ Lợi ích là kết quả mà con người có thể nhận được thông qua hoạt động
của bản thân, tập thể, cộng đồng, xã hội nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của
con người”
7
Lợi ích thường được chia thành : lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần; lợi ích
cá nhân và lợi ích tập thể... Trong đó, lợi ích cá nhân dễ nhận biết hơn cả, lợi ích
tập thể khó nhận biết hơn. Điều này giải thích tại sao hành động mỗi con người
cụ diễn ra trước hết nhằm thực hiện lợi ích cá nhân bản thân mình. Và trong lợi
ích cá nhân thì lợi ích kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất, chúng trực tiếp đáp
ứng được những nhu cầu bức thiết của bản thân con người. Hiểu được điều này,
những nhà quản lý cần coi trọng và sử dụng lợi ích kinh tế để khơi dậy, phát huy
động lực của người lao động.
6 TS. Đoàn Thị Thu Hà – TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình Khoa học quản lý II, ĐH KTQD, NXB Khoa
học và kỹ thuật, Hà Nội, tr 114
7 TS. Đoàn Thị Thu Hà – TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình Khoa học quản lý II, ĐH KTQD, NXB Khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status