LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM - Pdf 69

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm:
1.1.1. Chi phí sản xuất:
1.1.1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất:
Sự tiến hoá của con người gắn liền với lao động. Có lao động mới
có con người và một xã hội phát triển văn minh như ngày nay. Lao động
kết hợp với tư liệu lao động và đối tượng lao động tạo ra nền sản xuất
xã hội. Nền sản xuất xã hội sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời
sống xã hội, là điều kiện tiên quyết quy định tính tất yếu vĩnh viễn cho
sự tồn tại và phát triển của xã hội. Hay nói cách khác sự phát sinh và
phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với quá trình sản xuất. Ở
bất kỳ phương thức sản xuất nào thì quá trình sản xuất vẫn là sự vận
động và tiêu hao của ba yếu tố (tư liệu lao động, lao động và đối tượng
lao động) để thu được một kết quả nhất định thì người sản xuất phải bỏ
ra chi phí nhất định để tiến hành quá trình sản xuất.
Đối với các doanh nghiệp, quá trình sản xuất là một trong các quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, một mặt đơn vị
phải bỏ ra các khoản chi phí để tiến hành sản xuất, mặt khác đơn vị lại
thu được một lượng kết quả sản xuất gồm thành phẩm và sản phẩm dở
dang. Từ đó hình thành nên khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh
“Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao
phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm” (mà thực chất chi phí là sự dịch chuyển
vốn - chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính
giá thành sản phẩm, lao vụ dịch vụ)
Chi phí luôn được gắn với các hoạt động làm phát sinh chi phí và
gắn liền với các yếu tố tạo nên quá trình sản xuất, do đó làm phát sinh
các chi phí tương ứng: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi
phí bán hàng,… Nhưng chỉ những chi phí phát sinh để trực tiếp tiến

Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp
ssã chi trả về các loại dịch vụ mua bên ngoài như: tiền điện, tiền nước,
tiền bưu phí..phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho
hoạt động sản xuất ngoài bốn yếu tố chi phí đã nêu trên.
Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong quản lý sản xuất, nó
cho biết kết cấu tỷ trọng của từng yếu tố CPSX để phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện dự toán CPSX, sử dụng để lập các báo cáo quản trị
cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp, lập bản thuyết minh báo
cáo tài chính…
1.1.1.2.2. Phân loại theo mục đích, công dụng:
Mỗi yếu tố CPSX phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công dụng
nhất định đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Dựa vào đó,
người ta có thể phân loại các chi phi có cùng công dụng, mục đích vào
một khoản mục, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế
nào. Do đó cách phân loại này được gọi là phân loại CPSX theo khoản
mục. Theo đó chi phí sản xuất bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ các khoản chi
phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục
đích trực tiếp sản xuất sản phẩm. Không tính vào khoản mục này những
chi phí nguyên vật liệu nhưng được sử dụng cho mục đích sản xuất
chung và những hoạt động ngoài sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí phải trả về
tiền công, tiền trích BHYT, BHXH, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản
xuất. Không tính vào khoản mục này những chi phí tiền công và trích
các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ cuả nhân viên quản lý phân xưởng,
quản lý doanh nghiệp và nhân viên bán hàng.
Chi phí sản xuất chung: Bao gồm toàn bộ những chi phí dùng cho
hoạt động sản xuất chung ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất ngoài hai
khoản mục chi phí đã nêu trên. Chi phí sản xuất chung được chia ra

Những chi phí trực tiếp kế toán có thể hạch toán trực tiếp cho đối tượng
chịu chi phí căn cứ vào số liệu trên chứng từ.
Chi phí gián tiếp: Chi phí gián tiếp là những CPSX có liên quan đến
việc sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc. Những chi phí
này khi hạch toán, kế toán phải phân bổ cho các đối tượng có liên quan
theo một tiêu thức thích hợp.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định
phương pháp kế toán tập hợp chi phí và phân bổ chi phi cho các đối
tượng một cách đúng đắn, hợp lý.
1.1.1.2.5. Phân loại theo nôi dung cấu thành của chi phí:
Theo tiêu thức phân loại là nội dung cấu thành của chi phí thì chi
phí cũng được chia thành 2 loại:
Chi phí đơn nhất: Là chi phí do một yếu tố duy nhất cấu thành ví dụ
như: chi phí nguyên vật liệu chính, tiền công công nhân sản xuất…
Chi phí tổng hợp: Là những chi phí do nhiều yếu tố tập hợp lại theo
cùng một công dụng như chi phí sản xuất chung…
Cách phân loại này giúp cho việc nhận thức vị trí của từng loại chi
phí trong việc hạ GTSP để tổ chức kế toán tập hợp CPSX thích hợp với
từng loại.
1.1.2. Giá thành sản phẩm:
1.1.2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm:
Trong chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì
quá trình sản xuất là quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ, lao vụ của
doanh nghiệp. Trong quá trình này, doanh nghiệp đồng thời phải bỏ ra
các khoản chi phí nhưng sẽ thu được một kết quả sản xuất nhất định.
Do đó có thể nói bản chất của GTSP là sự chuyển dịch giá trị của các
yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ. Chưa có
sự dịch chuyển này thì không thể nói đến CPSX và GTSP. Trong điều
kiện của nền kinh tế thị trường, GTSP sẽ bao gồm toàn bộ các khoản
hao phí vật chất thực tế cần bù đắp bất kể nó thuộc bộ phận nào trong

như kế hoạch hạ giá thành của đơn vị.
Giá thành định mức: Giá thành định mức là GTSP được tính trên cơ
sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm.
Cũng như giá thành kế hoạch, việc tính giá thành định mức phải được
tính trước khi quá trình sản xuất diễn ra.Giá thành định mức là công cụ
quản lý định mức của doanh nghiệp là thước đo chính xác để xác định
kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp cho các
nhà quản lý đánh giá được các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà đơn vị
đang áp dụng từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là GTSP được tính trên cơ sở
số liệu CPSX thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kỳ và sản lượng sản
phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ. Khác với giá thành kế hoạch và
giá thành định mức, giá thành thực tế chỉ tính toán được sau khi quá
trình sản xuất chế tạo sản phẩm kết thúc. Giá thành thực tế là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả của doanh nghiệp trong việc tổ chức
và sử dụng các giải pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật để thực hiện quá
trình sản xuất sản phẩm; nó cũng là cơ sở để xác định kết quả hoạt
động của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp biết được tình hình sử
dụng chi phí và giá thành có hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của công
tác kế toán hay không.
1.1.2.2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán:
Theo phạm vi tính toán thì giá thành được chia thành hai loại:
Giá thành sản xuất (hay còn gọi là giá thành công xưởng): Giá
thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất (chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung) tính cho những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Giá
thành sản xuất của sản phẩm được sử dụng để ghi sổ cho sản phẩm đã
hoàn thành nhập kho và nó cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng
bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất.

này thường không khớp với CPSX kỳ này chuyển sang kỳ sau nên
CPSX trong một kỳ thường không khớp với tổng giá thành hoàn thành
trong kỳ đó. Mối quan hệ này có thể được biểu diễn như sau:
CPSX DD ĐK CPSX phát sinh trong kỳ
GTSP CPSX DD CK
Qua đó ta có thể thấy:
Tổng giá
thành SP
hoàn thành
=
Chi phí
SP dở
dang
đầu kỳ
+
Chi phí sản
xuất phát
sinh trong
kỳ
-
Chi phí
SP dở
dang
cuối kỳ
Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành và CPSX phát sinh trong kỳ
chỉ bằng nhau khi CPSX DD ĐK bằng đúng CPSX DD CK hoặc trong
các ngành sản xuất không có SPDD
1.1.4. Ý nghĩa, nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, CPSX và GTSP là những chỉ
tiêu kinh tế quan trọng luôn luôn đựơc các nhà quản lý quan tâm. Hai

1.2.1. Hạch toán chi phí sản xuất:
1.2.1.1.Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:
Để hạch toán CPSX và tính GTSP được chính xác, kịp thời đảm
bảo cung cấp các thông tin kế toán trung thực thì việc đầu tiên đó là
phải xác định đúng đối tượng hạch toán CPSX và đối tượng tính GTSP.
Công việc này có tầm quan trọng đặc biệt cả trong lý luận và trong thực
tiễn hạch toán.
Trước hết xét đến đối tượng tập hợp CPSX, đây là khâu đầu tiên
cần thiết của công tác kế toán tập hợp CPSX. Có xác định đúng đắn đối
tượng tập hợp CPSX phù hợp với đặc điểm tình hình hoạt động sản
xuất, đặc điểm quy trình sản xuất sản phẩm và đáp ứng được yêu cầu
quản lý CPSX của doanh nghiệp mới giúp cho công việc tổ chức kế toán
tập hợp CPSX một cách tốt nhất. Vậy xác định đối tượng tập hợp CPSX
là như thế nào?
“ Xác định đối tượng tập hợp CPSX chính là việc xác định giới hạn
tập hợp chi phí” mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi
chiụ chi phí.
Để xác định được đối tượng tập hợp CPSX một cách chính xác thì
cần dựa vào những căn cứ sau:
Thứ nhất là phải dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: là
sản xuất giản đơn hay phức tạp. Với sản xuất giản đơn thì đối tượng tập
hợp CPSX có thể là sản phẩm hoặc toàn bộ quá trình sản xuất hoặc có
thể là một nhóm sản phẩm…Với sản xuất phức tạp thì đối tượng tập
hợp CPSX có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến,
phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm…
Thứ hai là phải dựa vào loại hình sản xuất: Là sản xuất đơn chiếc
hay sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn. Với sản xuất đơn chiếc thì
đối tượng tập hợp CPSX thường là các đơn đặt hàng riêng biệt. Còn với
loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng tập hợp CPSX có thể là sản
phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status