Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết cuộc sống có biết bao nhiêu là điều kì diệu, nó
luôn ban tặng cho ta nhiều điều hạnh phúc.Nhưng điều hạnh phúc hơn cả của
cuộc sống là khi ta được cắp sách đến trường, được học tập, được thầy cô
truyền đạt kiến thức, kỹ năng, đạo đức để sau này giúp ích cho bản thân, gia
đình vàquê hương đất nước.Tri thức loài người mênh mông như biển cả, mỗi
người chúng ta chỉ là một hạt cát nhỏ bé trong cái đại dương bao la ấy mà
thôi. Dẫu chúng ta có miệt mài học tập suốt cả cuộc đời thì cũng chưa bao
giờ khám phá hết kho tàng kiến thức của nhân loại.
Lênin từng nói “Học, học nữa, học mãi”.Nhưng vì một lý do nào đó mà
một số em không được đến trường đó là một thiệt thòi rất lớn, không gì bù
đắp nổi cho bản thân các em nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Không
được đến trường các em không được giáo dục một cách cơ bản, không có
định hướng cho cuộc sống sau này, không có kiến thức để am hiểu pháp luật
từ đó dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội và vướng vào vòng pháp luật.
Đặc biệt trong tình hình hiện nay chúng ta đang thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, lại càng đòi hỏi con người có tri thức, trình độ
cao do đó việc giáo dục phổ thông là hết sức quan trọng. Luật giáo dục năm
2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Trong những năm qua, tình hình học sinh bỏ học đang là một vấn đề
cấp bách của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là của ngành giáo dục
– đào tạo, làm ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai và
kế hoạch xây dựng, phát triển kinh tế của địa phương. Vì vậy, việc tìm ra
nguyên nhân cũng như có những biện pháp phù hợp để giảm thiểu tình trạng
GV: Bảo Long 1Trường THCS Lê Quý Đôn
số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm
tại trường THCS Lê Quý Đôn”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
GV: Bảo Long 2Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc học sinh bỏ
học ở trường THCS Lê Quý Đôn, đề tài có mục đích chia sẻ với đồng nghiệp
một số biện pháp để giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học thông qua công
tác chủ nhiệm. Nhằm giúp học sinh, cha mẹ học sinh nhận thức rõ tác hại
của việc bỏ học.
Hy vọng với sự chung tay góp sức của mỗi cá nhân, của toàn xã hội, thì
tình trạng học sinh bỏ học của trường THCS Lê Quý Đôn, của huyện Krông
Ana ngày càng giảm, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục của
nước nhà.
2.2. Nhiệm vụ
Tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THCS.
Tham khảo các tài liệu, công văn, chỉ thị liên quan đến tình hình bỏ học
của học sinh THCS.
Đề xuất các giải pháp và áp dụng các giải pháp trong thực tiễn tại
trường THCSLê Quý Đôn.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng về tình hình bỏ học của học sinh trường
THCS Lê Quý Đôn, cụ thể là lớp 6B (năm học 20152016) Và lớp 6B (năm
học 20162017) từ đó đề ra các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng học
sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn trong tình
học sinh bỏ học một vài ngày, một vài tiết để đi chơi hoặc đi giải quyết vấn
đề gì đó rồi trở lại lớp học.
Còn có một đối tượng học sinh khác, mặc dù vẫn ngồi trong lớp nhưng
không khác gì học sinh bỏ học. Đó là những học sinh ngồi lơ mơ trong lớp,
không chú ý nghe giảng hoặc làm việc riêng trong khi thầy cô giáo đang giảng
bài, không tham gia vào các hoạt động trên lớp và chỉ mong hết giờ. Đối
tượng này là đối tượng “tiền bỏ học”.
Học sinh bỏ học có thề chia ra làm hai loại: bỏ học “tích cực” và bỏ học
“tiêu cực”. Bỏ học “tích cực” nếu học sinh bỏ học để đi học nghề hoặc tiếp
tục học bổ túc; bỏ học “ tiêu cực” nếu học sinh bỏ học để đi chơi la cà bám
vào cha mẹ, phá phách xóm giềng…, học sinh bỏ học “tiêu cực” có thể là đội
quân “trù bị” của ma túy và tệ nạn xã hội. Dù học sinh bỏ học “tích cực” hay
GV: Bảo Long 4Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
“tiêu cực” cũng gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực, đến
cộng đồng và xã hội.
Một trong các yếu tố cơ bản đối với quá trình dạy học nói riêng và quá
trình giáo dục nói chung là phải đảm bảo cho mỗi học sinh được học trọn ven
bậc học. Nhưng thực tế do nhiều nguyên nhân tác động, học sinh bỏ học
không hoàn thành được hết bậc học, thậm chí có em bỏ học ngay từ lớp sáu.
Đây là hiện tượng không bình thường, bởi vì các em còn quá nhỏ, chỉ mới hơn
mười tuổi, tương lai các em sẽ ra sao? Các em sẽ làm được gì với những kiến
thức không trọn vẹn đó. Xét sâu xa hơn, việc bỏ học bất thường sẽ gây xáo
trộn về mặt tâm lý của học sinh đang còn đi học, gây hậu quả xấu cho việc
phổ cập giáo dục THCS, làm giảm niềm tin của xã hội vào nhà trường, ảnh
tình trạng bỏ học của học sinh như tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã, Ban
Chỉ đạo giáo dục cấp xã để chỉ đạo các trưởng thôn, buôn, các đoàn thể trên
địa bàn đến nhà học sinh để nắm bắt tâm tư, suy nghĩ của học sinh và cha mẹ
các em, đặc biệt là những học sinh có dấu hiệu nghỉ học, muốnbỏ học; nắm
được số học sinh đi làm ăn xa, học nghề hoặc gia đình không đồng ý cho con
đi học để làm tốt công tác vận động học sinh ra lớp trở lại; Cung cấp danh
sách địa chỉ cụ thể từng học sinh để chính quyền xã chỉ đạo Ban Tự quản các
thôn buôn cùng tham gia công tác tuyên truyền, vận động.Thành lập ban duy
trì sĩ số, phân công rõ trách nhiệm của Lãnh đạo nhà trường, cán bộ, giáo viên,
nhân viên trong công tác vận động học sinh duy trì sĩ số đến từng lớp, từng
thôn buôn, từng học sinh. Tổ chức dạy phụ đạo chohọc sinh yếu kém, tăng
cường các hoạt động ngoại khóa, văn hóa văn nghệ thể dục thể thao tạo sân
chơi bổ ích lôi cuốn học sinh tham gia…Tuy nhiên tỉ lệ học sinh bỏ học vẫn
còn cao.
Bảng thống kê số lượng HS bỏ học của trường THCS Lê Quý Đôn trong
các năm học từ 2014 đến 2017:
STT
Năm học
Số HS bỏ học
Số HS bỏ học trong
hè
1
2
3
20142015
Nữ
Dân tộc
Hộ nghèo
Cận
nghèo
20152016
26
14
20
04
02
20162017
27
12
21
03
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Học sinh thuộc gia đình nghèo, đông con, các em không có áo quần lành lặn
để đến lớp như bao bạn khác. Những học sinh này thường hay mặc cảm, tự ti
về hoàn cảnh, tự tách biệt khỏi tập thể, các em luôn cảm thấy lòng tự trọng
bị tổn thương và chán nản dẫn đến bỏ học.
Hình 1: Căn nhà tranh lụp xụp của hai bà cháu Bình Minh
Phần đa học sinh người dân tộc, bố mẹ các em biết ít chữ, ít quan tâm
đến việc học của con nên khi đi học về không có ai kèm, nhắc nhở dẫn đến
tình trạng các em thường không học bài cũ ở nhà nên học lực ngày càng yếu
dẫn đến chán nản và muốn bỏ học
Mộtsố học sinh bố mẹ ít dành thời gian cho con cái, lo kiếm sống không
quản lý giờ giấc của con em mình.Gia đình một số học sinh nghèo đi làm thuê
ở xa, để con em ở nhà với anh chị, ông, bà, hoặc người thân. Những học sinh
này thường nói dối cha mẹ, thầy cô, thường xuyên nghĩ học không lí do, cúp
tiết đi chơi lâu ngày dẫn đến chán học và bỏ học.
Học sinh thuộc gia đình thiếu thốn tình cảm của bố mẹ.Tức là bố mẹ ly
hôn, bố mẹ hay cãi nhau hoặc có những học sinh mồ côi. Những học sinh này
thường có tính khí bất thường, hay quậy phá, đánh nhau, hoặc tự ti, mặc cảm
xa lánh bạn bè nên hay dẫn đến tình trạng bỏ học.
GV: Bảo Long 8Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
yếu kém trong nhà trường hiện nay chưa thật tích cực.Trong khi, công việc
này lại đòi hỏi nhiều công sức, sự kiên trì và tâm huyết của những người có
liên quan đặc biêt là giáo viên chủ nhiệm.
2.3. Về phía xã hội.
Trường THCS Lê Quý Đôn nằm trên địa bàn xã Dray Sáp. Tình hình kinh
tế của xã còn gặp nhiều khó khăn. Xã có nhiều Buôn gồm nhiều hộ gia đinh
người dân tộc sinh sống nên tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số của trường cao,
chiếm gần 50% số học sinh toàn trường
Trước thực trạng của địa phương, của trường, của lớp chủ nhiệm như
trên, khi nhận nhiệm vụ là một giáo viên chủ nhiệm, tôi cảm thấy bản thân
phải tìm cách nào đó để duy trì tốt nhất sĩ số của lớp mình, góp phần hạn chế
tình trạng học sinh bỏ học của lớp chủ nhiệm.
Trước khi thực hiện đề tài, tôi đã điều tra bằng hình thức trắc nghiệm
trong học sinh về mức độ chuyên cần, mức độ duy trì sĩ số đến cuối năm
bằng hình thức phát phiếu thăm dò cho lớp 6B về các nội dung sau:
Câu hỏi: Em có quyết tâm sẽ đi học chuyên cần và duy trì đến cuối năm
học hay không? (Điều tra cả lớp)
A: CÓ B: KHÔNG C: CHƯA BIẾT
Kết quả thống kê cho thấy:
Lớp
6B
(2015 – 2016)
6B
(2016 – 2017)
11,5
27
19
70,4
5
18,5
3
11,1
GV: Bảo Long 11Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Qua bảng kết quả thăm dò tôi thấy số lượng HS có nguy cơ bỏ học cao.
Tôi xác định được rằng:
Học sinh chọn đáp án A: Là những học sinh có ý thức tốt, có lòng quyết
tâm đến trường. Những học sinh này mặc dù không thuộc đối tượng
học sinh có nguy cơ bỏ học, nhưng GVCN cũng cần theo dõi khích lệ
để sự quyết tâm của các em ngày càng cao.
Học sinh chọn đáp án B: Là những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ
học cao, GVCN cần đặc biệt chú ý.
Lưu ban, chán học
Nhà xa, không có xe đạp đến trường
Gia đình khó khăn, sau giờ học phải đi chăn
GV: Bảo Long 12Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
6
7
Y Huynh Kbuor
bò phụ giúp bố mẹ
Lưu ban, chán học, mồ côi bố, mẹ đi lấy
Trần Văn Tài
chồng, không ai quan tâm đến em
Hay thức dậy muộn, đi trễ, bố mẹ đi làm
sớm, về muộn, không ai quan tâm đến việc
học của con
Danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học năm học 20162017:
STT
1
2
3
3. Giải pháp, biện pháp.
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Với những giải pháp, biện pháp mà tôi đưa ra sau đây đã giúp học sinh
của lớp chủ nhiệm đi học chuyên cần hơn nhằm giảm thiểu những nguy cơ
bỏ học của học sinh góp phần nâng cao tỉ lệ duy trì sĩ số. Đồng thời tạo cho
các em môi trường học tập, nghị lực vươn lên những khó khăn mà bản thân
gặp phải, giúp các em có ước mơ hoài bão để các em không còn có tư tưởng
nghỉ học giữa chừng
GV: Bảo Long 13Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Xuất phát từ kinh nghiệm của bản thân và công tác chủ nhiệm, bản
thân tôi nhận thấy để giúp học sinh đang và sẽ có nguy cơ bỏ học từ bỏ ý
định của mình thì vấn để then chốt ở đây là giúp bản thân các em tìm được
niềm vui trong học tập, loại bỏ những yếu tố tiêu cực cả chủ quan và khách
quan dẫn tới việc bỏ học.
3.2.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
3.2.1. Giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu đặc điểm tình hình của lớp,
từng học sinh.
Ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm, tôi đã tìm hiểu, nắm bắt thông tin về
từng đối tượng học sinh của lớp mình chủ nhiệm, việc nắm bắt thông tin này
được thu thập qua các kênh khác nhau như: Điều tra qua học bạ tiểu học của
học sinh, lập phiếu điều tra thông tin cá nhân và nguyện vọng trong năm học,
quan sát thực tiễn các giờ học, các giờ ra chơi. Ngoài ra tôi còn thu thập kết
quả qua những bài kiểm tra đầu năm học của các môn học.
Việc nắm bắt các thông tin trên là căn cứ để lựa chọn học sinh có năng lực,
Học sinh Nguyễn Thị Bình Minh là học sinh có hoàn cảnh đặc
biệt. Bố mẹ ly hôn và đều có gia đình mới, không ai chịu nuôi em,
em phải sống với bà ngoại. Bà ngoại của Bình Minh đã già và
gần như không còn khả năng lao động. Tiền sinh hoạt trong gia
đình chủ yếu dựa vào lương hưu và trợ cấp của xã. Tôi xác định
đây là những hoàn cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tình cảm.
Học sinh Y Vinh Niê thường xuyên có hành vi bắt nạt bạn và thái
độ bướng bỉnh khi thầy cô nhắc nhở, có hiện tượng cúp học để
đi chơi game, bi – a
Học sinh Y Sanra Bkrông và Y Kênan Hđơk là hai học sinh
lưuban,chán học, thường xuyên không học bài cũ, nghỉ học không
lý do.
3.2.2. Gặp gỡ, trao đổi với cha mẹ học sinh.
Việc phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong công tác duy trì sĩ số của
lớp là giải pháp cực kì quan trọng. Do vậy, ngay trong buổi họp phụ huynh
đầu năm, tôi đã lập danh sách ghi số điện thoại của phụ huynh, bầu ra các
phụ huynh làm ban đại diện ở các thôn buôn. Thường xuyên phối hợp với các
ban đại diện để nắm bắt, trao đổi kịp thời tình của các em đến gia đình.
Ngoài tra tôi đã tích cực gặp gỡ phụ huynh học sinh, nhất là những học
sinh đặc biệt như Y Sanra Bkrông, Y Kênan Hđơk, Y Vinh Niê
giác lạc lỏng, chán nản dẫn đến bỏ học.
Hình 6: GV phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém
3.2.5. GVCN chia sẻ tâm tư tình cảm với học sinh.
Các em lớp tôi đa phần là người dân tộc, cuộc sống của các em rất khó
khăn, các em hay tự ti ít giao tiếp với các bạn người Kinh cũng như với thầy
cô. Hiểu được điều đó tôi luôn tìm cách xóa bỏ khoảng cách thầy – trò, làm
một người bạn thật sự của các em.Để các em trao đổi, tâm sự với tôi về
những khó khăn trong cuộc sống và học tập mà các em gặp phải. Vào cuối
buổi học tôi hay gặp riêng những em có biểu hiện không tốt trong giờ học,
thay vì trách mắng tôi đã tìm hiểu nguyên nhân, động viên và có những lời nói
tích cực động viên các em.
Như học sinh H – Gum Hlong thời gian đầu rất nhút nhát, thu mình,
lầm lì, hỏi không nói, vắng học không lí do. Sau một thời gian gặp riêng hỏi
han và động viên, em đã trở thành một học sinh hoạt bát, mạnh dạn tham gia
GV: Bảo Long 17Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
các trò chơi với các bạn. Đặc biệt, em ít nghỉ học hẳn, nếu có vắng học thì
em đều có viết giấy xin phép.
3.2.6. Tạo môi trường vui chơi lành mạnh cho học sinh. Khơi dậy sự yêu
thích đến trường ở học sinh.
Các hoạt động kết hợp giữa học tập và vui chơi luôn được trường
THCS Lê Quý Đôn quan tâm, các hoạt động này được diễn ra trong xuyên
suốt năm học như: Trang trí lớp học thân thiện, chăm sóc công trình măng non,
hội vuihọc tập, hoạt động ngoài giờ lên lớp, làm báo tường, vẽ tranh, làm
3.2.7. Tuyên truyền tác hại của những tệ nạn xã hội
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng chịu
nhiều áp lực từ cuộc sống, chính vì thế cũng ngày càng xuất hiện nhiều nhiều
tệ nạn xã hội và đặc biệt việc phòng chống tệ nạn xã hội trong học đường
luôn được coi trọng hàng đầu.
Phòng chống tệ nạn xã hội trong học đường, luôn được đưa lên hàng
đầu bởi học sinh luôn là những mầm non của đất nước, việc phòng chống đó
sẽ giúp cho mọi người có thêm nhiều điều kiện để phát triển bản thân, nâng
cao tri thức, phát triển bản thân mỗi ngày. Việc phòng chống tệ nạn trong nhà
trường luôn được nhà trường và bản thân tôi quan tâm. Trường đã thực hiện
các chuyên đề tuyên truyền cho học sinh về tác hại của game online, tác hại
của ma túy, thuốc lá.
GV: Bảo Long 20Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Ngoài ra tôi thường kết hợp trong các buổi sinh hoạt lớp để tuyên truyền
phòng chống tác hại của phim ảnh đồi trụy,cờbạc, lô đề
3.2.8. Kêu gọi tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách :
Tục ngữ ta có câu “ lá lành đùm lá rách”, đó là một truyền thống tốt đẹp
của nhân dân ta. Là giáo viên chủ nhiệm lớp có học sinh nằm trong hoàn
cảnh đặc biệt này, bản thân tôi đã giúp đở các em một phần nào về vật
chất để giải quyết những khó khăn nhất thời, tôi cố gắng vận động các
nguồn hỗ trợ từ trong và ngoài nhà trường, kêu gọi những tấm lòng vàng
và tạo điều kiện cho các em được tiếp tục đến trường theo đuổi ước mơ
và nguyện vọng của mình.
có áo quần cũ để xin và trao lại cho em để giúp em có đồng phục mặc tới
trường
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp đưa ra đều có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với
nhau từ đó tạo ra kết quả nghiên cứu của đề tài. Thiếu một trong các giải
pháp trên sẽ gây khó khăn, tạo rào cản trong khi thực hiện thậm chí làm cho
quá trình nghiên cứu không thu được kết quả. Đối với mỗi học sinh có nguy
cơ bỏ học chúng ta có thể vận dụng nhiều giải pháp khác nhau để đem lại
hiệu quả tốt nhất và đặc biệt phải làm tốt việc phối hợp chặt chẽ giữa lãnh
đạo nhà trường, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh.
3.4. Kết quả khảo nghiệm
Sau khi áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng
học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn”.
Cuối năm học tôi tiếp tục tiến hành khảo sát điều tra học sinh bằng hình thức
trắc nghiệm, trả lời câu hỏi: “Lên lớp 7, em có quyết tâm đi học chuyên cần
và duy trì đến cuối năm không?
A. Có
B. Không
C. Chưa biết”
Sau khi có kết quả tôi đem đối chiếu với kết quả đầu năm học .
Bảng đối chiếu kết quả so với đầu năm học:
Đầu năm
Đáp án A
Đáp án B và C
Số Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
25
96,2
1
3,7
Qua bảng trên tôi thấy tỉ lệ học sinh có nguy cơ bỏ học đã giảm rõ rệt
so với khi tôi chưa áp dụng đề tài.Các em đã có sự quyết tâm đến trường.
GV: Bảo Long 23Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Kết quả theo dõi tình hình đi học chuyên cần của các em trong học kì I
và trong học kì II của hai lớp 6B năm học 20152016 và 6B 20162017 như
sau:
Học kì I
Học kì II
Số lần vắng Số lần vắng
Năm học KP
20152016
20162017
CP
30
25
bảo sĩ số là việc làm của nhiều ban ngành, đoàn thể, trong đó nhà trường và
GV: Bảo Long 24Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò nòng cốt. Bên cạnh đó chúng ta nên tìm hiểu
rõ nguyên nhân bỏ học cụ thể của từng trường hợp để có biện pháp sát thực
nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng, nguy cơ bỏ học của học sinh, đáp ứng
mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra.
2. Kiến nghị
Để thực hiện tốt hơn nữa công tác huy động học sinh bỏ học ra lớp và duy trì
sĩ số theo tôi cần một số biện pháp sau: Có sự liên kết thống nhất giữa
GVCN và các GVBMtrong việc giáo dục các em, luôn thông báo với nhau về
tình hình học tập của các em có biểu hiện lơ là trong học tập và những em
hay vi phạm nội quy trường lớp để kịp thời có hướng chấn chỉnh những
khuyết điểm của các em nhằm kịp thời và có biện pháp giúp các em tránh tình
trạng bỏ học. Đối với nhà trường: Tổ chức các lớp phụ đạo cho học sinh yếu
nhằm bù đắp lổ hổng kiến thức cho các em, giúp các em đuổi kịp chương
trình, tạo hứng thú trong học tập cho các em. Xây dựng trường học thân thiện,
đảm bảo mỗi ngày đến lớp là một ngày vui. Tổ chức các hoạt động ngoại
khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp vui chơi nhằm thu hút các em, tránh tình
trạng các em tham gia những trò chơi vô bổ. Đối với chính quyền, đoàn thể
địa phương: Kết hợp với chính quyền thôn buôn để nắm rõ tình hình hoàn
cảnh của các em và thông báo kịp thời tình hình của các em có nguy cơ bỏ học
để cùng kết hợp với thôn buôn đến động viên vận động các emvà gia đình tạo
điều kiện thuận lợi nhất để các em tới trường. Tăng cường công tác xã hội
hóa giáo dục, quản lí thật tốt các điểm vui chơi không lành mạnh.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi. Qua bài viết này