Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
I/ PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài:
Trong xu thế hội nhập của nước ta và chương trình giáo dục tiểu
học hiện nay, môn Tiếng Anh cùng với các môn học khác trong trường
tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên những con
người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ
mới.
Ngoại ngữ nói chung, Tiếng Anh nói riêng là công cụ đắc lực cho
quá trình hội nhập. Nhiều công ty nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam, số
người nước ngoài đến du lịch, làm việc ở nước ta ngày càng nhiều. Bên
cạnh đó thì số học sinh Việt Nam du học nước ngoài cũng tăng một cách
đáng kể và theo một thống kê gần đây đã công bố rằng: du học sinh của
Việt Nam không kém các học sinh, sinh viên của nước khác về tiếp nhận
kiến thức, nghiên cứu khoa học và ý thứ tự học. Thế nhưng làm thế nào
để chuẩn bị tốt kiến thức ngoại ngữ thì có lẽ đa số học sinh phải bắt đầu
làm quen với môn Tiếng Anh ngay từ khi ở bậc tiểu học.
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, phát huy tính chủ động sáng tạo và năng lực tự học của
học sinh, lấy học sinh là trung tâm là giải pháp cơ bản để nâng cao giáo
dục. Theo phương pháp cũ, giáo viên làm trung tâm, các em ghi chép từ
vựng mới và mẫu câu một cách thụ động rồi sau đó về nhà học thuộc lòng
sẽ gây nhàm chán, không tạo khả năng tư duy và sáng tạo phong phú của
các em. Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảng
dạy, việc thiết kế chương trình giảng dạy cũng phải phù hợp cho từng
đối tượng học sinh của từng bậc học. Như vậy mới có thể tạo được khả
năng tư duy và phát triển khả năng học tập một cách độc lập, tạo niềm
say mê, hứng thú cho cả thầy và trò trong quá trình giảng day và học tập
môn Tiếng Anh.
Tuy nhiên việc học Tiếng Anh ở các trường tiểu học nói chung và
Từ đó học sinh sẽ có một vốn từ rộng mở, củng cố và phát triển các kĩ
năng (nghe, nói, đọc, viết). Qua đó, các tiết học sẽ trở nên sôi nổi và sinh
động hơn, học sinh yêu thích môn học Tiếng Anh hơn.
Trong việc dạy Tiếng Anh, giúp học sinh học từ, nhớ từ là một
hoạt động dạy không thể thiếu trong mỗi tiết học. Việc học từ và nhớ từ
không chỉ đơn thuần là việc giúp học sinh nhớ từ, nghĩa của từ mà còn là
việc giúp các em nghe từ, phát âm từ một cách chính xác và áp dụng từ
trong giao tiếp bằng Tiếng Anh. Vì vậy, việc tìm ra những cách thức giúp
các em học từ và nhớ từ lâu là nhiệm vụ của mỗi giáo viên với mục đích
giúp học sinh hiểu từ, sử dụng được từ vào trong câu theo từng ngữ cảnh
và nhớ được từ lâu.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề sau:
Trường TH Lê Hồng Phong
2
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
Tìm hiểu thực trạng việc dạy Tiếng Anh trước khi vận dụng đề tài.
Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ.
Vận dụng các trò chơi vào các tiết học.
Thủ thuật giúp học sinh học từ và ôn từ khi ở nhà.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh
ở bậc Tiểu học.
học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên.”
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “ Giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát
triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách
con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Chương trình giáo dục
phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày
05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “ Phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh , phù hợp
với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp
học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với
nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ. Bởi vì từ vựng là một thành phần
không thể thiếu được trong ngôn ngữ, được sử dụng cho hoạt động giao
tiếp. Do vậy, việc nắm vững số từ đã học để vận dụng là việc làm rất
quan trọng.
Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ
vựng. Thật vậy nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không nghe
được và hệ quả của nó là không nói được, đọc không được và viết cũng
không xong, cho dù các em có nắm vững mẫu câu.
Trường TH Lê Hồng Phong
4
xã hội đặc trưng đó là các em có ngôn ngữ phổ thông hạn chế, văn hóa lối
sống khác nhiều so với những gì thực tế học tập từ sách vở. Và một đặc
điểm chung của học sinh chúng ta là các em còn rất thụ động, tự ti, kĩ
năng sống chưa được chú trọng, kĩ năng giao tiếp chưa tốt ảnh hưởng đến
việc học tập của học sinh
Trường TH Lê Hồng Phong
5
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
Từ trước tới nay học sinh của chúng tôi đang thực hiện theo mô
hình dạy học truyền thống, các em chỉ học một cách thụ động chờ thầy cô
giảng giải và thụ động tiếp thu kiếnthức, thực hành kĩ năng.
Đa số học sinh là dân tộc Ê đê (ở 2 phân hiệu Ea Na và Buôn Dray)
phải học cả 3 thứ tiếng: tiếng mẹ đẻ (Tiếng Ê đê), Tiếng Việt và Tiếng
Anh nên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài.
SGK, các thiết bị dạy học và đồ dùng học tập còn thiếu.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Để xác định thực tế việc học từ vựng môn tiếng Anh trong tình
hình chung hiện nay ở các trường tiểu học, tôi đã tiến hành kiểm tra chất
lượng bằng việc dự giờ thăm lớp giáo viên ở các trường lân cận và trực
tiếp kiểm chứng qua các tiết tôi giảng dạy. Nhìn chung, tôi thấy học sinh
tiểu học học môn tiếng Anh, đặc biệt là khi học từ vựng với một thái độ
chưa tích cực, vẫn còn “nặng nề” dẫn đến kết quả bài học không cao.
Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi
Từ bị động (passive vocabulary).
Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau. Từ chủ động
có liên quan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết). Đối với loại từ
này giáo viên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều
hơn.
Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần
đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn
và quyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một
từ bị động.
Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:
+ Form (dạng từ).
+ Meaning (ý nghĩa).
+ Use (cách sử dụng).
Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa
như từ điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao
tiếp, giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ,
mà còn biết phát âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết
nghĩa của từ.
Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình
độ của học sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ
Trường TH Lê Hồng Phong
7
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
thời gian thực hiện các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
e.g: bored.
Teacher looks at watch, makes bored face, yawns.
T. asks: “How do I feel?”
Action (hành động)
e.g: (to) jump.
T. jumps.
T. asks: “What am I doing?”
Realia (vật thật): Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được.
e.g. open (adj.), closed (adj.)
T. opens and closes the door
T. says, “Tell me about the door: it’s..........what?”
Situation/ explanation (tình huống/ giải thích):
e.g. honest.
T. explains, “I don’t tell lies. I don’t cheat in the exams. I tell the truth.”
T. asks, “What am I? Tell me the word in Vietnamese.”
Example (ví dụ):
e.g. fumiture
T. lists examples of fumiture: “tables, chairs, beds – these are all ...
fumiture ... Give me another example of... fumiture...”
Synonyon \ antonyon (đồng nghĩa \ trái nghĩa): Giáo viên dùng
những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa.
e.g. stupid
Trường TH Lê Hồng Phong
9
cho các em viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể
quan sát được toàn bộ học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và
Trường TH Lê Hồng Phong
10
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
nên nhớ cho học sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình
huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu
quả cao.
Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần
phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào
ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ
vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống
thực tế.
b.2. Biện pháp tổ chức thực hiện:
* Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ:
Để việc dạy từ và giúp học sinh nhớ từ lâu, giáo viên phải chuẩn bị
những việc sau đây:
Lập kế hoạch dạy từ vựng sẽ được học hoặc ôn tập theo đặc trưng
của từng tiết học.
Lựa chọn trò chơi và thủ thuật cho phù hợp theo từng nội dung bài.
Chuẩn bị một số đồ dùng dạy học ( bảng phụ dạy từ, bút lông,
tranh, vật thật, thẻ bìa…..).
Chuẩn bị máy tính, đèn chiếu nếu tiết dạy có sự hỗ trợ của việc
ứng dụng công nghệ thông tin.
Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh
nhận diện âm tiết có trọng âm và đánh dấu.
Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ
mới học.
* Tiến trình thực hiện các phương pháp kiểm tra và củng cố từ
mới:
Có nhiều cách giúp học sinh nhớ từ lâu. Tuy nhiên mỗi bài học có
những đặc trưng riêng. Tùy vào từng nội dung bài dạy mà giáo viên có thể
lựa chọn cách thức lựa chọn cho phù hợp. Giáo viên có thể thực hiện
trong phần Warm up, FreePractice hoặc ngay sau khi dạy xong từ vựng.
Giáo viên thực hiện các trò chơi hợp lý tạo không khí lớp học vui
vẻ và sinh động giúp cho học sinh có một tâm lý thoải mái để nhớ từ trong
bài. Có thể thực hiện dưới hình thức các trò chơi tập thể, nhóm, cặp hoặc
cá nhân. Tuy nhiên, dù thực hiện dưới hình thức nào, giáo viên cũng cần tổ
chức cho tất cả học sinh trong lớp theo dõi, nhận xét để các em cùng thực
hiện. Sau đây là 9 trò chơi điển hình cho việc kiểm tra và củng cố từ mới:
Trường TH Lê Hồng Phong
12
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
Trò chơi 1: Slap blackboard.
Mục đích:
+ Luyện đọc và củng cố kỹ năng nghe lại từ đã học và nhận diện
mặt chữ .
Đây là trò chơi giống như trong chương trình “Chiếc nón kỳ diệu”
tức là đoán chữ trong ô chữ nhưng hơi khác một chút.
Mục đích: Giúp cho học sinh thực hành ôn và luyện đọc từ một
cách hiệu quả.
Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào .
Cách chơi: Người chủ trò (giáo viên hoặc một học sinh) lấy một
cái tên hoặc từ theo một chủ đề cho trước rồi viết lên bảng hoặc ra giấy
một số ô vuông tương ứng với số chữ cái của cái tên đó hoặc từ đó .
Người chơi sẽ đoán mỗi lần một chữ cái, nếu chữ cái đó có trong ô chữ
thì chủ trò sẽ viết chữ cái ấy vào đúng vị trí.
Luật chơi: Ai tìm ra tên thì người đó thắng. Ngược lại sau năm lần
đoán sai (Số lần là do người chủ trò và người chơi quy định) mà chưa tìm
ra thì người chơi sẽ thua. Có thể hai hay nhiều học sinh làm chủ trò thay
nhau. Ai thắng nhiều lần thì sẽ thắng trong cuộc.
Ví dụ: Giáo viên làm chủ trò. Giáo viên cho biết ô chữ mà hai học
sinh chơi là một ô chữ gồm năm chữ cái, đây là tên một đồ dùng học tập.
Giáo viên ghi năm ô chữ lên bảng.
Chẳng hạn người chơi I đoán trước là chữ “A” người chủ trò nói là
không có chữ “A”, như vậy thì người thứ hai sẽ đến lượt, người thứ II
đoán chữ “E” người chủ trò nói có chữ “E” và viết vào đúng vị trí đúng
trong ô chữ.
E
Trường TH Lê Hồng Phong
14
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Pen ● ●
School bag ● ●
Trường TH Lê Hồng Phong
15
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
Ruler ● ●
Pencil sharpener ● ●
Pencil case ● ●
Rubber ● ●
Pencil ● ●
Trò chơi 4: Jumbled letter.
Mục đích: Kiểm tra mức độ nhớ từ của học sinh.
Chuẩn bị: Chuẩn bị các thẻ chữ cái, tranh.
Cách chơi: Giáo viên viết các chữ cái đã bị xáo trộn lên bảng
(hoặc dính các chữ cái lên bảng). Chia học sinh làm 2 đội. Từng em đại
diện cho đội lên sắp xếp lại các chữ cái để thành từ có nghĩa (có thể gợi ý
bằng tranh). Đội nào sắp xếp được nhiều từ hơn sẽ thắng. Cho các em
đọc lại các từ vừa sắp xếp.
R
S
A
E
E
I
H
B
A
R
C
D
D
C
E
Trò chơi 5: Chain game.
Mục đích: Luyện tập từ vựng kết hợp cới cấu trúc câu.
Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị đồ dùng nào.
Cách chơi: Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ ngồi quay mặt với
nhau. Học sinh đầu tiên trong nhóm lặp lại câu của giáo viên. Học sinh
thứ hai lặp lại câu của học sinh thứ nhất và thêm vào từ khác. Học sinh
học tập.
Chuẩn bị : Không cần chuẩn bị đồ dùng .
Cách chơi : Chơi kiểu cờ ca rô . Giáo viên kẻ trên bảng 9 ô vuông,
gồm 3 ô hàng dọc và 3 ô hàng ngang và giáo viên điền vào đó 9 số bất kỳ,
Trường TH Lê Hồng Phong
18
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
trong 9 số đó có 9 câu hỏi tương ứng được định sẵn theo nội dung bài học,
chia làm 2 đội và quy định đội A đánh dấu X, đội B đánh dấu O. Đầu tiên
mỗi đội cử 1 bạn làm nhóm trưởng đại diện chọn ô số bao nhiêu giáo viên
sẽ đánh dấu bằng ký hiệu của đội đó vào ô đấy, đồng thời đọc câu hỏi
định sẵn trong mỗi ô cho đội kia trả lời . Cuối cùng, đội nào chọn ô mà
xếp được 3 ký hiệu của đội mình thẳng hàng và hô thật to là Bingo.
Ví dụ:
Trò chơi 8: Simon says.
Mục đích: Củng cố, khắc sâu kiến thức và thu hút học sinh say mê
học tập. Thường được áp dụng cho câu mệnh lệnh ngắn.
Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị đồ dùng nào.
Cách chơi: Giáo viên (hoặc người chỉ đạo) hô to các mệnh lệnh,
học sinh chỉ làm theo các mệnh lệnh của giáo viên nếu giáo viên đọc câu
mệnh lệnh bắt đầu bằng câu: “Simon says”. Giáo viên đọc câu mệnh
lệnh, không có câu “Simon says”. Học sinh không được thực hiện mệnh
lệnh đó. Nếu học sinh nào thực hiện sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi. Trò
hoá hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là
người truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt
những kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của
mình.
Trường TH Lê Hồng Phong
20
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.
Hơn nữa thời gian học ở trường rất ít, cho nên đa phần thời gian
còn lại ở gia đình các em phải tổ chức cho được hoạt động học tập của
mình. Làm được điều đó, thì chắc chắn hoạt động dạy và học sẽ ngày
càng hoàn thiện hơn.
Cho nên ngay từ đầu từ năm học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
xây dựng hoạt động học tập ở nhà.
Chuẩn bị soạn từ vựng mới ở nhà.
Học thuộc lòng từ vựng của bài cũ
Muốn dạy tốt từ vựng môn tiếng Anh, người giáo viên phải đảm
bảo một số yêu cầu sau:
Nghiên cứu kĩ khi thiết kế bài dạy.
Hướng dẫn học sinh quan sát tranh mẫu trực tiếp sau đó ghi nhớ
từ vựng bằng tiếng Anh.
Giáo viên khi lên lớp cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học nhất
là tranh để minh họa, thẻ nhớ, con rối…để giúp cho học sinh dễ nhớ từ
vựng hơn.
câu đúng chính tả hơn và kĩ năng nghe cũng như đọc hiểu có nhiều tiến
bộ đáng kể. Những biện pháp trên tạo điều kiện cho tất cả học sinh hoạt
động tốt và tích cực tham gia, tham gia có hiệu quả các hoạt động. Bên
cạnh đó chất lượng tiết học tăng cao, học sinh hứng thú hơn, không khí
lớp học vui vẻ, thoải mái hơn nhờ vào sự linh hoạt của giáo viên khi thiết
kế các trò chơi cho lớp.
Sau một thời gian áp dụng, kết quả trước và sau khi áp dụng “Một
số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học” vào tiết
dạy như sau:
LỚP
(TSHS)
3E
(20 hs)
3B
HỌC
LỰC
THÁI ĐỘ
Xếp
loại
Trước
Sau
2 (10%)
TB
6 (30%)
4 (20%)
Lưỡn
g lự
7 (35%)
5 (25%)
Yếu
2 (10%)
1 (5%)
Giỏi
6 (19,4%)
10
Thích
12 (38,7%)
(42%)
(29%)
Lưỡn
g lự
14 (45,2%)
9 (32,2%)
2 (6,3%)
1 (3,2%)
(31 hs)
TB
Yếu
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Tôi thực hiện đề tài này chỉ là một phần trong tiết học, tuy nhiên nó
đóng vai trò rất quan trọng cho việc thực hành mẫu câu, việc đối thoại có
trôi chảy, lưu loát hay không đều phải phụ thuộc vào việc học thuộc lòng
từ vựng và phát âm có chuẩn hay không.
Nhưng để thực hiện giảng dạy tốt một tiết từ vựng, không chỉ cần có sự
đầu tư vào bài giảng, vào các bước lên lớp của giáo viên, mà còn phụ
thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của học sinh. Do vậy tôi đã đưa ra một số
yêu cầu đối với học sinh như: Chuẩn bị bài ở nhà, trong giờ học phải
khăn. Năm học 20152016 học sinh dân tộc thiểu số không được cấp sách
tiếng Anh, một số học sinh không có điều kiện mua sách, ảnh hưởng đến
chất lượng không đồng đều.
Có kế hoạch tham mưu Phòng Giáo dục bổ sung thêm thiết bị dạy
học như phòng học tiếng Anh, bộ thẻ, bộ con rối, tranh ảnh, bảng học
chữ cái tiếng Anh…
Hỗ trợ giáo viên kinh phí làm dồ dùng dạy học.
* Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo:
Bổ sung thêm trang thiết bị dạy học nhất là đối với bộ môn tiếng
Anh. Chẳng hạn: Trang bị thêm tranh ảnh, bộ thẻ từ…
Cung cấp thêm các loại sách, tài liệu có liên quan đến môn tiếng
Anh để giáo viên tự bồi dưỡng thêm về chuyên môn nghiệp vụ.
Trên đây là những " Một số phương pháp dạy từ vựng môn
Tiếng Anh ở bậc tiểu học” là một kinh nghiệm nhỏ của bản thân nhằm
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh mà tôi đã mạnh
dạn đưa ra. Thiết nghĩ, đây cũng là một vấn đề rất được quan tâm trong
tiếng Anh ở bậc tiểu học. Rất mong được sự đón nhận những ý kiến
đóng góp của các thầy, cô để trau dồi chuyên môn hơn trong quá trình
giảng dạy và để bổ sung cho bản sang kiến kinh nghiệm của tôi được
hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI THỰC HIỆN
Trường TH Lê Hồng Phong
24
GV: Nguyễn Thị Phượng Đan
Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.