Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học - Pdf 69

Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

I/ PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài: 
Trong xu thế  hội nhập của nước ta và chương trình giáo dục tiểu 
học hiện nay, môn Tiếng Anh cùng với các môn học khác trong trường 
tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên những con  
người phát triển toàn diện, đáp  ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ 
mới. 
Ngoại ngữ  nói chung, Tiếng Anh nói riêng là công cụ  đắc lực cho 
quá trình hội nhập. Nhiều công ty nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam, số 
người nước ngoài đến du lịch, làm việc  ở  nước ta ngày càng nhiều. Bên 
cạnh đó thì số  học sinh Việt Nam du học nước ngoài cũng tăng một cách  
đáng kể  và theo một thống kê gần đây đã công bố  rằng: du học sinh của 
Việt Nam không kém các học sinh, sinh viên của nước khác về tiếp nhận 
kiến thức, nghiên cứu khoa học và ý thứ  tự  học. Thế nhưng làm thế  nào 
để chuẩn bị tốt kiến thức ngoại ngữ thì có lẽ đa số học sinh phải bắt đầu 
làm quen với môn Tiếng Anh ngay từ khi ở bậc tiểu học. 
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theo  
hướng tích cực, phát huy tính chủ  động sáng tạo và năng lực tự  học của  
học sinh, lấy học sinh là trung tâm là giải pháp cơ  bản để  nâng cao giáo 
dục. Theo phương pháp cũ, giáo viên làm trung tâm, các em ghi chép từ 
vựng mới và mẫu câu một cách thụ động rồi sau đó về nhà học thuộc lòng 
sẽ gây nhàm chán, không tạo khả năng tư duy và sáng tạo phong phú của 
các em. Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảng  
dạy, việc thiết kế  chương trình giảng dạy cũng phải phù hợp cho từng 
đối tượng học sinh của từng bậc học. Như vậy mới có thể tạo được khả 
năng tư  duy và phát triển khả  năng học tập một cách độc lập, tạo niềm  
say mê, hứng thú cho cả thầy và trò trong quá trình giảng day và học tập  
môn Tiếng Anh. 
Tuy nhiên việc học Tiếng Anh  ở các trường tiểu học nói chung và 

Từ  đó học sinh sẽ  có một vốn từ  rộng mở, củng cố  và phát triển các kĩ  
năng (nghe, nói, đọc, viết). Qua đó, các tiết học sẽ trở nên sôi nổi và sinh 
động hơn, học sinh yêu thích môn học Tiếng Anh hơn.
Trong việc dạy Tiếng Anh, giúp học sinh học từ, nhớ  từ  là một  
hoạt động dạy không thể thiếu trong mỗi tiết học. Việc học từ và nhớ từ 
không chỉ đơn thuần là việc giúp học sinh nhớ từ, nghĩa của từ mà còn là 
việc giúp các em nghe từ, phát âm từ  một cách chính xác và áp dụng từ 
trong giao tiếp bằng Tiếng Anh. Vì vậy, việc tìm ra những cách thức giúp 
các em học từ và nhớ từ lâu là nhiệm vụ của mỗi giáo viên với mục đích  
giúp học sinh hiểu từ, sử dụng được từ vào trong câu theo từng ngữ cảnh  
và nhớ được từ lâu. 
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề sau: 

Trường TH Lê Hồng Phong

2

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

Tìm hiểu thực trạng việc dạy Tiếng Anh trước khi vận dụng đề tài. 
Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ. 
Vận dụng các trò chơi vào các tiết học. 
Thủ thuật giúp học sinh học từ và ôn từ khi ở nhà.

3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh 
ở bậc Tiểu học.

học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng  
say mê học tập và ý chí vươn lên.”
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “ Giúp học sinh phát triển toàn  
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ  bản, phát  
triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách 
con người Việt Nam Xã hội chủ  nghĩa, xây dựng tư  cách và trách nhiệm 
công dân, chuẩn bị  cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống  
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ  tổ  quốc”. Chương trình giáo dục 
phổ  thông ban hành kèm theo quyết định số  16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 
05/05/2006 của Bộ  trưởng Bộ  Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “ Phải  
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh , phù hợp 
với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp  
học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự  học, khả  năng hợp tác, rèn 
luyện kỹ  năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, 
đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Bất cứ  một thứ  tiếng nào trên thế  giới, muốn giao tiếp được với  
nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ. Bởi vì từ vựng là một thành phần 
không thể  thiếu được trong ngôn ngữ, được sử  dụng cho hoạt động giao 
tiếp. Do vậy, việc nắm vững số  từ  đã học để  vận dụng là việc làm rất 
quan trọng.
Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹ 
năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ 
vựng. Thật vậy nếu không có số  vốn từ cần thiết, các em sẽ  không nghe 
được và hệ  quả  của nó là không nói được, đọc không được và viết cũng 
không xong, cho dù các em có nắm vững mẫu câu.

Trường TH Lê Hồng Phong

4


xã hội đặc trưng đó là các em có ngôn ngữ phổ thông hạn chế, văn hóa lối 
sống khác nhiều so với những gì thực tế học tập từ sách vở. Và một đặc 
điểm chung của học sinh chúng ta là các em còn rất thụ  động, tự  ti, kĩ 
năng sống chưa được chú trọng, kĩ năng giao tiếp chưa tốt ảnh hưởng đến 
việc học tập của học sinh
Trường TH Lê Hồng Phong

5

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

Từ  trước tới nay học sinh của chúng tôi đang thực hiện theo mô  
hình dạy học truyền thống, các em chỉ học một cách thụ động chờ thầy cô  
giảng giải và thụ động tiếp thu kiếnthức, thực hành kĩ năng. 
Đa số học sinh là dân tộc Ê đê (ở 2 phân hiệu Ea Na và Buôn Dray)  
phải học cả 3 thứ tiếng: tiếng mẹ đẻ (Tiếng Ê đê), Tiếng Việt và Tiếng  
Anh nên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài.
SGK, các thiết bị dạy học và đồ dùng học tập còn thiếu.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp: 
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Để  xác định thực tế  việc học từ  vựng môn tiếng Anh trong tình 
hình chung hiện nay  ở các trường tiểu học, tôi đã tiến hành kiểm tra chất 
lượng bằng việc dự giờ  thăm lớp giáo viên  ở  các trường lân cận và trực  
tiếp kiểm chứng qua các tiết tôi giảng dạy. Nhìn chung, tôi thấy học sinh  
tiểu học học môn tiếng Anh, đặc biệt là khi học từ vựng với một thái độ 
chưa tích cực, vẫn còn “nặng nề” dẫn đến kết quả bài học không cao. 
Từ  những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế  tôi 

­ Từ bị động (passive vocabulary).
Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau. Từ chủ động 
có liên quan đến bốn kỹ  năng (nghe – nói – đọc – viết). Đối với loại từ 
này giáo viên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều  
hơn.
Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần 
đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn  
và quyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một  
từ bị động.
­ Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:
+ Form (dạng từ).
+ Meaning (ý nghĩa).
+ Use (cách sử dụng).
Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa  
như từ điển thì chưa đủ, để  cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao 
tiếp, giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ  từ  riêng lẻ, 
mà còn biết phát âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết  
nghĩa của từ.
­ Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình 
độ của học sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ 
Trường TH Lê Hồng Phong

7

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

thời gian thực hiện các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ 


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

e.g: bored.
Teacher looks at watch, makes bored face, yawns.
T. asks: “How do I feel?”
Action (hành động)
e.g: (to) jump.
T. jumps.
T. asks: “What am I doing?”
Realia (vật thật): Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được.
e.g. open (adj.), closed (adj.)
T. opens and closes the door
T. says, “Tell me about the door: it’s..........what?”

Situation/ explanation (tình huống/ giải thích):
e.g. honest.
T. explains, “I don’t tell lies. I don’t cheat in the exams. I tell the truth.”
T. asks, “What am I? Tell me the word in Vietnamese.”
Example (ví dụ):
e.g. fumiture
T.   lists   examples   of   fumiture:   “tables,   chairs,   beds   –   these   are   all   ... 
fumiture ... Give me another example of... fumiture...”
Synonyon \ antonyon (đồng nghĩa \ trái nghĩa):  Giáo viên dùng 
những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa.
e.g. stupid
Trường TH Lê Hồng Phong

9


cho các em viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể 
quan sát được toàn bộ  học sinh  ở  lớp, bắt buộc các em phải học bài và 
Trường TH Lê Hồng Phong

10

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

nên nhớ  cho học sinh vận dụng từ  vào trong mẫu câu, với những tình 
huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu 
quả cao.
Để  học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ  mới, giáo viên cần 
phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào 
ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ 
vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống 
thực tế.
b.2. Biện pháp tổ chức thực hiện:
* Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ: 
Để việc dạy từ và giúp học sinh nhớ từ lâu, giáo viên phải chuẩn bị 
những việc sau đây: 
Lập kế hoạch dạy từ vựng sẽ được học hoặc ôn tập theo đặc trưng 
của từng tiết học. 
Lựa chọn trò chơi và thủ thuật cho phù hợp theo từng nội dung bài. 
­ Chuẩn bị  một số  đồ  dùng dạy học ( bảng phụ  dạy từ, bút lông, 
tranh, vật thật, thẻ bìa…..). 
­ Chuẩn bị  máy tính, đèn chiếu nếu tiết dạy có sự  hỗ  trợ  của việc  
ứng dụng công nghệ thông tin. 

­ Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ  và yêu cầu học sinh  
nhận diện âm tiết có trọng âm và đánh dấu.
­ Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ  loại của từ 
mới học.
* Tiến trình thực hiện các phương pháp kiểm tra và củng cố từ  
mới: 
Có nhiều cách giúp học sinh nhớ  từ  lâu. Tuy nhiên mỗi bài học có 
những đặc trưng riêng. Tùy vào từng nội dung bài dạy mà giáo viên có thể 
lựa chọn cách thức lựa chọn cho phù hợp. Giáo viên có thể  thực hiện  
trong phần Warm up, FreePractice hoặc ngay sau khi dạy xong từ vựng. 
Giáo viên thực hiện các trò chơi hợp lý tạo không khí lớp học vui 
vẻ và sinh động giúp cho học sinh có một tâm lý thoải mái để nhớ từ trong 
bài. Có thể thực hiện dưới hình thức các trò chơi tập thể, nhóm, cặp hoặc 
cá nhân. Tuy nhiên, dù thực hiện dưới hình thức nào, giáo viên cũng cần tổ 
chức cho tất cả học sinh trong lớp theo dõi, nhận xét để các em cùng thực  
hiện. Sau đây là 9 trò chơi điển hình cho việc kiểm tra và củng cố từ mới:

Trường TH Lê Hồng Phong

12

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

Trò chơi 1: Slap blackboard.
­ Mục đích:
+ Luyện đọc và củng cố  kỹ  năng nghe lại từ  đã học và nhận diện  
mặt chữ .

Đây là trò chơi giống như  trong chương trình “Chiếc nón kỳ  diệu” 
tức là đoán chữ trong ô chữ nhưng hơi khác một chút.
­ Mục đích:  Giúp cho học sinh thực hành ôn và luyện đọc từ  một 
cách hiệu quả. 
­ Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào .
­ Cách chơi: Người chủ  trò (giáo viên hoặc một học sinh) lấy một  
cái tên hoặc từ theo một chủ đề cho trước rồi viết lên bảng hoặc ra giấy  
một số  ô vuông tương  ứng với số  chữ  cái của cái tên đó hoặc từ  đó .  
Người chơi sẽ  đoán mỗi lần một chữ  cái, nếu chữ  cái đó có trong ô chữ 
thì chủ trò sẽ viết chữ cái ấy vào đúng vị trí. 
­ Luật chơi: Ai tìm ra tên thì người đó thắng. Ngược lại sau năm lần 
đoán sai (Số lần là do người chủ trò và người chơi quy định) mà chưa tìm 
ra thì người chơi sẽ  thua. Có thể hai hay nhiều học sinh làm chủ  trò thay 
nhau. Ai thắng nhiều lần thì sẽ thắng trong cuộc.
Ví dụ: Giáo viên làm chủ  trò. Giáo viên cho biết ô chữ  mà hai học  
sinh chơi là một ô chữ gồm năm chữ cái, đây là tên một đồ  dùng học tập. 
Giáo viên ghi năm ô chữ lên bảng.

Chẳng hạn người chơi I đoán trước là chữ “A” người chủ trò nói là  
không có chữ  “A”, như  vậy thì người thứ  hai sẽ  đến lượt, người thứ  II  
đoán chữ  “E” người chủ  trò nói có chữ  “E” và viết vào đúng vị  trí đúng 
trong ô chữ.
     E
Trường TH Lê Hồng Phong

14

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan



Pen                         ●                              ●     

School bag             ●                              ●     

Trường TH Lê Hồng Phong

15

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

Ruler                      ●                              ●     

Pencil sharpener    ●                               ●     

Pencil case             ●                               ●     

Rubber                   ●                               ●     

Pencil                     ●                               ●     
Trò chơi 4: Jumbled letter.
­ Mục đích: Kiểm tra mức độ nhớ từ của học sinh.
­ Chuẩn bị: Chuẩn bị các thẻ chữ cái, tranh.
­ Cách chơi:  Giáo viên viết các chữ  cái đã bị  xáo trộn lên bảng  
(hoặc dính các chữ  cái lên bảng). Chia học sinh làm 2 đội. Từng em đại 
diện cho đội lên sắp xếp lại các chữ cái để thành từ có nghĩa (có thể gợi ý 
bằng tranh). Đội nào sắp xếp được nhiều từ  hơn sẽ  thắng. Cho các em 
đọc lại các từ vừa sắp xếp. 

R

S

A
E

E
I

H

B
A

R
C

D
D

C
E

Trò chơi 5: Chain game.
­ Mục đích: Luyện tập từ vựng kết hợp cới cấu trúc câu.
­ Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị đồ dùng nào.
­ Cách chơi:  Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ  ngồi quay mặt với  
nhau. Học sinh đầu tiên trong nhóm lặp lại câu của giáo viên. Học sinh 
thứ  hai lặp lại câu của học sinh thứ  nhất và thêm vào từ  khác. Học sinh  

học tập.
­ Chuẩn bị : Không cần chuẩn bị đồ dùng .
­ Cách chơi : Chơi kiểu cờ ca rô . Giáo viên kẻ trên bảng 9 ô vuông, 
gồm 3 ô hàng dọc và 3 ô hàng ngang và giáo viên điền vào đó 9 số bất kỳ, 
Trường TH Lê Hồng Phong

18

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

trong 9 số đó có 9 câu hỏi tương ứng được định sẵn theo nội dung bài học, 
chia làm 2 đội và quy định đội A đánh dấu X, đội B đánh dấu O. Đầu tiên 
mỗi đội cử 1 bạn làm nhóm trưởng đại diện chọn ô số bao nhiêu giáo viên 
sẽ  đánh dấu bằng ký hiệu của đội đó vào ô đấy, đồng thời đọc câu hỏi  
định sẵn trong mỗi ô cho đội kia trả  lời . Cuối cùng, đội nào chọn ô mà 
xếp được 3 ký hiệu của đội mình thẳng hàng và hô thật to là Bingo. 
Ví dụ:

Trò chơi 8: Simon says.
­ Mục đích: Củng cố, khắc sâu kiến thức và thu hút học sinh say mê 
học tập. Thường được áp dụng cho câu mệnh lệnh ngắn. 
­ Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị đồ dùng nào.
­ Cách chơi: Giáo viên (hoặc người chỉ  đạo) hô to các mệnh lệnh, 
học sinh chỉ làm theo các mệnh lệnh của giáo viên nếu giáo viên đọc câu  
mệnh lệnh bắt   đầu bằng câu: “Simon says”. Giáo viên  đọc câu mệnh 
lệnh, không có câu “Simon says”. Học sinh không được thực hiện mệnh 
lệnh đó. Nếu học sinh nào thực hiện sẽ  bị  loại ra khỏi cuộc chơi. Trò  

hoá hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là 
người  truyền tải  kiến thức  đến học sinh, học sinh  muốn lĩnh hội tốt 
những kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của  
mình.

Trường TH Lê Hồng Phong

20

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.

Hơn nữa thời gian học  ở  trường rất ít, cho nên đa phần thời gian  
còn lại  ở  gia đình các em phải tổ  chức cho được hoạt động học tập của  
mình. Làm được điều đó, thì chắc chắn hoạt động dạy và học sẽ  ngày 
càng hoàn thiện hơn.
Cho nên ngay từ đầu từ năm học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh  
xây dựng hoạt động học tập ở nhà.
­ Chuẩn bị soạn từ vựng mới ở nhà.
­ Học thuộc lòng từ vựng của bài cũ
Muốn dạy tốt từ  vựng môn tiếng Anh, người giáo viên phải đảm 
bảo một số yêu cầu sau:
­ Nghiên cứu kĩ khi thiết kế bài dạy. 
­ Hướng dẫn học sinh quan sát tranh mẫu trực tiếp sau đó ghi nhớ 
từ vựng bằng tiếng Anh.
­ Giáo viên khi lên lớp cần chuẩn bị đầy đủ  đồ  dùng dạy học nhất  
là tranh để  minh họa, thẻ  nhớ, con rối…để  giúp cho học sinh dễ  nhớ  từ 
vựng hơn.

câu đúng chính tả  hơn và kĩ năng nghe cũng như  đọc hiểu có nhiều tiến 
bộ đáng kể. Những biện pháp trên tạo điều kiện cho tất cả học sinh hoạt  
động tốt và tích cực tham gia, tham gia có hiệu quả  các hoạt động. Bên 
cạnh đó chất lượng tiết học tăng cao, học sinh hứng thú hơn, không khí 
lớp học vui vẻ, thoải mái hơn nhờ vào sự linh hoạt của giáo viên khi thiết  
kế các trò chơi cho lớp.
Sau một thời gian áp dụng, kết quả trước và sau khi áp dụng “Một 
số  phương pháp dạy từ  vựng môn Tiếng Anh  ở  bậc tiểu học” vào tiết 
dạy như sau:

LỚP 
(TSHS)

3E
(20 hs)

3B

HỌC  
LỰC

THÁI ĐỘ

Xếp  
loại

Trước

Sau


2 (10%)

TB

6 (30%)

4 (20%)

Lưỡn
g lự

7 (35%)

5 (25%)

Yếu

2 (10%)

1 (5%)

Giỏi

6 (19,4%)

10 

Thích

12 (38,7%)


(42%)

(29%)

Lưỡn
g lự

14 (45,2%)

9 (32,2%)

2 (6,3%)

1 (3,2%)

(31 hs)
TB
Yếu

III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Tôi thực hiện đề tài này chỉ là một phần trong tiết học, tuy nhiên nó 
đóng vai trò rất quan trọng cho việc thực hành mẫu câu, việc đối thoại có 
trôi chảy, lưu loát hay không đều phải phụ thuộc vào việc học thuộc lòng 
từ vựng và phát âm có chuẩn hay không.
Nhưng để thực hiện giảng dạy tốt một tiết từ vựng, không chỉ  cần có sự 
đầu tư  vào bài giảng, vào các bước lên lớp của giáo viên, mà còn phụ 
thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của học sinh. Do vậy tôi đã đưa ra một số 
yêu cầu đối với học sinh như: Chuẩn bị  bài  ở  nhà, trong giờ  học phải 

khăn. Năm học 2015­2016 học sinh dân tộc thiểu số không được cấp sách  
tiếng Anh, một số học sinh không có điều kiện mua sách, ảnh hưởng đến 
chất lượng không đồng đều.
Có kế hoạch tham mưu Phòng Giáo dục bổ  sung thêm thiết bị  dạy  
học như  phòng học tiếng Anh, bộ  thẻ, bộ  con rối, tranh  ảnh, bảng học  
chữ cái tiếng Anh…
Hỗ trợ giáo viên kinh phí làm dồ dùng dạy học.
* Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo: 
Bổ  sung thêm trang thiết bị  dạy học nhất là đối với bộ  môn tiếng 
Anh. Chẳng hạn: Trang bị thêm tranh ảnh, bộ thẻ từ…
Cung cấp thêm các loại sách, tài liệu có liên quan đến môn tiếng  
Anh để giáo viên tự bồi dưỡng thêm về chuyên môn nghiệp vụ.
Trên   đây   là   những  "   Một   số   phương   pháp   dạy   từ   vựng   môn  
Tiếng Anh ở bậc tiểu học”  là một kinh nghiệm nhỏ của bản thân nhằm 
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh mà tôi đã mạnh 
dạn đưa ra. Thiết nghĩ, đây cũng là một vấn đề  rất được quan tâm trong  
tiếng Anh  ở  bậc tiểu học. Rất mong  được sự  đón nhận những ý kiến  
đóng góp của các thầy, cô để  trau dồi chuyên môn hơn trong quá trình  
giảng dạy và để  bổ  sung cho bản sang kiến kinh nghiệm của tôi được  
hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
    NGƯỜI THỰC HIỆN 

Trường TH Lê Hồng Phong

24

GV: Nguyễn Thị Phượng Đan


Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status