Một số biện pháp giúp trẻ 5- 6 tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua môn làm quen văn học tại trường mầm non Hoa Phượng - Pdf 69

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 5­6 TUỔI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VĂN HỌC
TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất 
của giáo dục mầm non. Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, học tập, vui chơi, 
ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em. Bên cạnh đó ngôn 
ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát 
triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa...
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu 
ngôn ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có 
hình ảnh một nội dung nhất định. Vì thế, sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của 
lời nói rất cần thiết, nó được phát triển ngay từ khi trẻ bắt đầu học nói.
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thực chất là rèn luyện khả năng tư 
duy ngôn ngữ và sử dụng lời nói để giao tiếp bởi vì sự mạch lạc của ngôn ngữ 
chính là sự mạch lạc của tư duy.
Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ 
dàng tiếp cận với các môn khoa học khác như : Môn làm quen với môi trường 
xung quanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình...mà điều tôi muốn nói ở đây 
đặc biệt là thông qua bộ môn làm quen với tác phẩm văn học trẻ đọc thơ, Kể 
chuyên, đóng kịch tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động nhiều, giúp trẻ khả 
năng phát triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, 
cái tốt, cái xấu của mọi vật xung quanh trẻ. Qua làm quen tác phẩm văn học, 
vốn từ của trẻ được mở rộng, trẻ làm quen với cách dùng từ, cách đặt câu, cách 
diễn đạt, lời nói có vần, nhịp, nói có ngữ điệu…


Qua bộ môn văn học giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc tưởng tượng 
sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ 



trọng không thể  thiếu đối với trẻ  Mầm non, nó giúp trẻ  hình thành nhân 
cách con người và mang lại những hiểu biết về  cuộc sống xung quanh qua 
những câu chuyện thần thoại, chuyện cổ tích…Đặc biệt hấp dẫn trẻ, nhằm nuôi 
dương tâm hồn trẻ  như: tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống thiên 
nhiên, cảm nhận  được cái thiện, cái ác, cái hay, cái đẹp. Giúp trẻ phát triển năng  
lực tư duy, óc tưởng tượng, sáng tạo là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ 
và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ  mạch lạc, diễn đạt lưu  loát, biết sử  dụng từ 
đúng lúc đúng chỗ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5­6 tuổi thông qua môn làm 
quen văn học  tại trường Mầm non Hoa phượng
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Học sinh 5­ 6 tuổi trường Mầm non Hoa phượng
5. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp trao đổi đàm thoại
+ Phương pháp dùng tình cảm động viên, khích lệ.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở ly luân 
́ ̣
Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và 
vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó”. Do đó, 
việc dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ tuổi mầm non có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. 
Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp 
phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.



́
́
̣ ự 
tâp trung chu y, kha năng diên ta đ
̣
́ ́
̉
̃ ̉ ạt... Khac v
́ ới cac môn hoc khac văn hoc hoan
́
̣
́
̣
̀ 
toan xac đinh ro nh
̀ ́ ̣
̃ ững hinh anh va ngôn ng
̀ ̉
̀
ữ cu thê, cung v
̣ ̉ ̀ ơi th
́ ơi gian đa thu hut,
̀
̃
́ 
lam thoa man nhu câu, mong mu
̀
̉
̃
̀

́
ọc la môt nhu câu không thê thiêu đôi v
̀ ̣
̀
̉
́ ́ ới  
tre.̉


Mục tiêu của công tác chăm sóc giáo dục mầm non phát triển và hình thành 
nhân cách cho trẻ, việc day tre tiêp cân v
̣
̉ ́ ̣ ơi tac phâm văn hoc là cho tr
́ ́
̉
̣
ẻ  cơ  hội  
được thể hiện mình, tự tin, mạnh dạn và trẻ phát triển vốn từ, trẻ nói đúng ngữ 
pháp.
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi – khó khăn
* Thuận lợi 
Trường Mầm non Hoa Phượng đóng trên địa bàn thị trấn, điều kiện cơ sở 
vật chất tương đối đầy đủ  giáo viên có trình độ  chuyên môn trên chuẩn, nhiệt 
tình, yêu nghề, mến trẻ; có khả năng học hỏi để nâng cao trình độ  chuyên môn; 
hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.  
Được  sự   quan tâm   giúp  đỡ  của  ban  giám hiệu,  nhà trường  đã  thường 
xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và các đợt chuyên đề  văn học, hội thi đồ 
dùng, đồ chơi cho giáo viên học tập và rút kinh nghiệm.
 Lớp có tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ  dùng đồ  chơi  

́
̣
ưa cao.
Giáo vên đôi lúc chưa thật sự linh hoạt, chất giọng kể còn hạn chế.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
 Đồ dùng và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động làm quen văn học tương 
đối  đầy đủ.
Giáo viên nhiệt tình, yêu thương trẻ,  chịu khó học hỏi để  nâng cao chất 
lượng hoạt động làm quen văn học.    
Học sinh hứng thú với hoạt động làm quen văn học đặc biệt là giờ  kể 
chuyện;  


Trẻ có cơ hội để thể hiện mình trước mọi người, được kể chuyện, được  
thảo luận với bạn. 
Rèn cho trẻ kỹ năng kể chuyện mạch lạc và diễn cảm để phát triển ngôn 
ngữ
* Mặt yếu
 Khả năng chú ý tiếp thu của trẻ còn hạn chế, một số trẻ chưa mạnh dạn,  
thiếu tự tin, kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn.
 Giáo viên chưa thật sự linh hoạt, sáng tạo trong khi tổ chức hoạt động 
 2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Phương pháp cho trẻ  làm quen văn học còn rập khuôn, cứng nhắc, chưa  
đồng loạt trong quá trình tổ  chức cho trẻ  làm quen với văn hoc nói chung xoay
̣
 
quanh chủ đề . 
Giáo viên thường tổ chức cho trẻ chơi để  nhằm đạt một số  kỹ  năng theo 
yêu cầu bài học.


53 %

15

47 %

32

16

50 %

16

50 %

đúng ngữ pháp
Hứng   thú   kể 
chuyện, đọc thơ  


Biết   thể   hiện   ngữ 

32

10

31 %




Khi dạy trẻ một bài thơ hoặc câu chuyện , cô giáo phải nghiên cứu kỹ bài  
thơ, câu chuyện đó trước khi đọc, kể  cho trẻ nghe để  thể  hiện giọng, ngữ điệu  
phù hợp với diễn biến tâm trạng, hành động của mỗi nhân vật để truyền đạt cho  
trẻ một cách hấp dẫn, sinh động, tạo sự  hứng thú cho trẻ , để trẻ  lắng nghe và  
lĩnh hội  trọn vẹn câu chuyện, bài thơ một cách tốt nhất.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Để giải quyết được những vấn đề trên, trước mỗi tiết dạy cô phải chuẩn 
bị  chu đáo giáo án, đồ  dùng trực quan phong phú để  gây hứng thú cho trẻ  như 
tranh  ảnh, con rối, mô hình, sưu tầm các bài vè, bài thơ dân gian, bài hát dân ca, 
câu đố, giáo dục môi trường phù hợp để lồng ghép vào từng tiết dạy.
Tự học, tự rèn luyện để có kỹ năng đọc, kể tự tin, diễn cảm… dành nhiều 
thời gian để nghiên cứu tác phẩm, xem nội dung tác phẩm đó giáo dục trẻ những 
gì, đó có thể  là con người cũng có thể  là các loài vật với những tính cách đạo 
đức khác nhau như: hiền hay ác, nhanh hay chậm, nhút nhát hay dũng cảm, khiêm 
tốn hay kiêu ngạo, … để  lồng ghép giáo dục một cách nhẹ  nhàng mà có hiệu 
quả.
Ví dụ: Bài thơ  "Hoa kết trái" giáo dục trẻ  vẻ  đẹp của các loại hoa và 
không được hái hoa, bẻ cành để hoa làm đẹp cho cuộc sống, hoa cho quả ngot... 
Ví dụ: Truyện "Rùa và Thỏ" giáo dục trẻ không nên chủ quan, coi thường  
người khác. Nhờ  sự  thông minh, kiên trì của "Chú Rùa" chậm chạp đã về  đích 
trước. Còn “Chú Thỏ” kiêu ngạo bị thua cuộc.
Ví dụ: Truyện “Quả  bầu tiên” , qua câu chuyện giúp trẻ  biết được “lão 
nhà giàu” tham lam, ác độc bị rắn rết cắn chết. “Cậu bé” hiền lành, chăm chỉ, tốt 
bụng hay giúp đỡ mọi người nên được sống một cuộc sống vui vẻ, đầy đủ… 
Qua những câu chuyện, bài thơ  này đã giúp tôi xác định được một hệ 
thống câu hỏi cho phần đàm thoại. Xác định được giọng kể  phù hợp với từng 
nhân vật và diễn biến  câu chuyện.



VD: câu chuyện "Cáo, Thỏ, Gà trống" thì giọng của " Cáo" khi đuổi "Bầy  
Chó và bác Gấu" giọng nói to, nhấn mạnh giọng và nhanh, còn lúc gặp "chú Gà  
Trống" lúc này "Cáo" sợ hãi nên thế hiện giọng nhỏ hơn và chậm lại, run sợ.  
Khi kể chuyện, đọc thơ cô cần sử dụng cử chỉ điệu bộ ánh mắt để hỗ trợ 
thêm cho giọng kể, đọc của mình.  
*Biện pháp 3: Đàm thoại theo nội dung bài thơ câu chuyện chuyện.
 Đây là phương pháp đàm thoại giữa cô và trẻ trong đó cô giữ  vai trò chủ 
động. Để đặt ra những câu hỏi cho trẻ trả lời và đồng thời cô gợi ý nếu trẻ gặp  
khó khăn và khuyến khích trẻ trả lời những câu hỏi cao hơn so với trình độ  của 
trẻ, để  nhằm phát huy tính tích cực, tư  duy của trẻ. Câu hỏi của cô đặt phải  
ngắn gọn, rõ ràng, rõ ý. Cô đặt câu hỏi chung cho cả lớp yêu cầu trẻ suy nghĩ và 
trả lời. Sau đó yêu cầu trẻ giơ tay, gọi một trẻ trong số các trẻ giơ tay trả lời, cô 
nhắc cho cả  lớp nghe câu trả  lời của bạn và kiểm tra lại ý kiến của mình. Có  
thể  gọi thêm một vài trẻ  khác trả  lời hoặc nhận xét câu trả  lời của bạn nhằm  
khuyến khích sự mạnh dạn tự tin ở trẻ. Sửa những câu trả lời không đúng, thiếu  
chính xác bằng các câu nói nhẹ nhàng (Bạn đã có tinh thần xung phong, bạn trả  
lời gần đúng rồi đấy...Vậy bạn nào có nhận xét khác không nào?; ...)
Ví dụ:  trong chuyện “Quả  bầu tiên” cô đặt câu hỏi: Trong chuyện có 
những nhân vật nào? Các con có nhận xét gì về các nhân vật? Các con yêu nhân  
vật nào? Vì sao?  
Đàm thoại có tác dụng lớn đối với giáo dục trẻ. Vì trẻ  thích tìm tòi, thắc 
mắc, ngược lại trong khi đàm thoại giúp cho tôi đánh giá được trình độ  nhận 
thức của trẻ  và biết được khả  năng lĩnh hội kiến thức của từng trẻ  cũng như 
khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ của từng trẻ.
Đàm thoại giúp cho trẻ biết so sánh, nhân cách hoá lên từng câu chuyện để 
phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ.
*Biện pháp 4: Dạy trẻ kể lại chuyện.



điệu, tính cách nhân vật hay khi ngắt giọng...  
* Biện pháp 5: Lồng ghép đọc thơ, kể chuyện vào các môn học khác
Cô giáo là người xác định chủ đề lên kế hoạch tổ chức lồng ghép các môn 
học một cách hợp lý để  trẻ  phát huy hứng thú, khuyển khích trẻ  tích cực chủ 
động trong tiết học. 
Với lời kể  diễn cảm, hấp dẫn nhưng biết tích hợp các môn học khác thì  
sẻ hay hơn vì nó làm thay đổi không khí, làm thay đổi trạng thái khi kể chuyện. 
Bằng những lời ca, lời đối thoại, những câu đố, những bài đồng dao, ca dao hay  
một số trò chơi xen lẫn.
Ví dụ: Bài thơ  “Thỏ  Bông bị   ốm”, “Ong và Bướm”….hoặc cho trẻ  đọc 
thuộc các   một số bài đồng dao, ca dao “Vè chim”, “Đi cầu đi quán”…. 
Việc tích hợp các môn học khác giáo viên phải linh hoạt, lựa chọn nội  
dung, kết hợp nhuần nhuyễn sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, giúp trẻ 
tham gia vào hoạt động một cách tích cực và ngôn ngữ  của trẻ  được phát triển  
mạnh nhất.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Giáo viên phải nỗ lực hết mình và dành nhiều thời gian nghiên cứu và đầu 
tư vào việc giảng dạy, xây dựng kế hoạch cụ thể, đi sâu nội dung bài dạy.
Tự  bản thân của mỗi giáo viên phải không ngừng học tập để  cập nhật  
thông tin, kiến thức.
Giáo viên cần được sự  hỗ  trợ  về thiết bị dạy học thiết thực và hiệu quả 
cùng với  việc linh hoạt, chủ động làm đồ dùng dạy học.
Điều quan trọng hơn hết, mỗi giáo viên phải có tâm huyết với nghề.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp


Để  thực hiện thành công của một tiết dạy, chúng ta cần vận dụng phối  
hợp các giải pháp, biện pháp một cách hài hòa, phù hợp với mục tiêu bài, điều 
kiện, trình độ, khả năng...của học sinh, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. 
Nếu tất cả biện pháp đều có sự  kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng thì việc làm 

chưa đạt 

cầu

đạt yêu 

Tỉ lệ %

cầu
Phát âm rõ ràng, đúng ngữ  32

27

84 %

5

16 %

24

75 %

8

25 %

25

78 %

nghiên cứu trong đề tài này có tính thực tế, mang tính khoa học và đem lại hiệu  
quả cao hơn trước.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua một học kì, tôi đã nghiên cứu và khảo nghiệm đề tài của mình. Trong  
đó, tôi đã sử dụng nhiều biện pháp. Nhưng tôi nhận thấy để  giúp trẻ  phát triển  
ngôn ngữ không có cách nào tốt hơn là người giáo viên phải kích thích được sự 
ham thích môn học của trẻ. Muốn làm được điều đó, tùy theo từng lớp học, từng  
bài giảng mà người giáo viên sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp giảng  
dạy. Nhưng vấn đề trọng tâm là phải nâng cao vai trò của học sinh, đưa các em 
lên làm nhân vật trung tâm của mỗi tiết dạy. Người giáo viên  phải thực hiện 


được “lấy học sinh làm trung tâm”. Có như vậy mới phát huy được tính tích cực  
sáng tạo của trẻ  từng tiết học.
Muốn cho chất lượng và hiệu quả giảng dạy tốt nhất thì người giáo viên, 
trước hết phải có tấm lòng yêu nghề, mến trẻ  thực sự, biết chia sẻ  niềm vui, 
nỗi buồn cùng trẻ, coi trẻ như con của mình. Như vậy thì mới khắc phục được 
những khó khăn và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Mặt khác, giáo viên phải không ngừng tự  học, tự  rèn luyện, tìm tòi, sáng  
tạo nâng cao trình độ chuyên môn; sưu tầm các trò chơi dân gian, bài hát dân ca, 
ca dao, đồng dao, câu đố,…để đưa vào tiết dạy; nghiên cứu kỹ các tác phẩm văn  
học, luyện kỹ  năng đọc, kể    diễn cảm...; tăng cường giao tiếp tiếng Việt cho  
trẻ vào mọi lúc, mọi nơi; tham dự các chuyên đề, các tiết dạy mẫu để  rút kinh  
nghiệm; đầu tư làm đồ dùng, đồ chơi và thay đổi nhiều phương pháp mới trong 
khi tổ chức hoạt động làm quen văn học để thu hút trẻ.
 Ngoài ra giáo viên cần sử dụng dụng cụ trực quan đa dạng và sinh động; 
tìm các thủ thuật đàm thoại để phát huy hết khả năng hiểu biết của trẻ; thường 
xuyên cho trẻ ôn luyện, tập đọc, kể mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt cô phải kiên trì  
dạy trẻ  theo quy trình từ  dễ  đến khó, từ  đơn giản đến phức tạp giúp trẻ  nắm  

                                                                             Người viết

                                                                           Trần Thị Vinh

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................


......................................................................................................................................
...................................................................................................................................... 
                                                CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

STT

1

TÊN TÀI LIỆU

TÁC GIẢ

Phương pháp cho trẻ làm quen  Cục đào tạo và bồi dưỡng Giáo 
với tác phẩm văn học­ tập 1

viên   ­   Nhà   xuất   bản   Hà   Nội 
năm 2001. 

2

Hương dân tô ch
́
̃ ̉ ức thực hiên
̣   Nha xuât ban giao duc năm 
̀ ́ ̉
́ ̣
cać   hoat
̣   đông
̣   giaó   duc̣   trong 
trương
̀   mâm
̀   non   theo   chủ   đề 
( tre t
̉ ư 5­6 tuôi).
̀
̉

6

Tâm   lý   học   trẻ   em   lứa   tuổi  Nguyễn Ánh Tuyết NXB ĐHSP
mầm non 

 

MỤC LỤC


MỤC
I



3

II

 Phần nội dung

1

Cơ sở lý luận

3

2

Thực trạng

4

3

Giải pháp, biện pháp

6

4

Kết   quả   thu   đươc   từ   khảo 
nghiệm,   giá   trị   khoa   học 
của vấn đề nghiên cứu





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status