MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 56 TUỔI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VĂN HỌC
TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất
của giáo dục mầm non. Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, học tập, vui chơi,
ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em. Bên cạnh đó ngôn
ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát
triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa...
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu
ngôn ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có
hình ảnh một nội dung nhất định. Vì thế, sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của
lời nói rất cần thiết, nó được phát triển ngay từ khi trẻ bắt đầu học nói.
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thực chất là rèn luyện khả năng tư
duy ngôn ngữ và sử dụng lời nói để giao tiếp bởi vì sự mạch lạc của ngôn ngữ
chính là sự mạch lạc của tư duy.
Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ
dàng tiếp cận với các môn khoa học khác như : Môn làm quen với môi trường
xung quanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình...mà điều tôi muốn nói ở đây
đặc biệt là thông qua bộ môn làm quen với tác phẩm văn học trẻ đọc thơ, Kể
chuyên, đóng kịch tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động nhiều, giúp trẻ khả
năng phát triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp,
cái tốt, cái xấu của mọi vật xung quanh trẻ. Qua làm quen tác phẩm văn học,
vốn từ của trẻ được mở rộng, trẻ làm quen với cách dùng từ, cách đặt câu, cách
diễn đạt, lời nói có vần, nhịp, nói có ngữ điệu…
Qua bộ môn văn học giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc tưởng tượng
sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ
trọng không thể thiếu đối với trẻ Mầm non, nó giúp trẻ hình thành nhân
cách con người và mang lại những hiểu biết về cuộc sống xung quanh qua
những câu chuyện thần thoại, chuyện cổ tích…Đặc biệt hấp dẫn trẻ, nhằm nuôi
dương tâm hồn trẻ như: tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống thiên
nhiên, cảm nhận được cái thiện, cái ác, cái hay, cái đẹp. Giúp trẻ phát triển năng
lực tư duy, óc tưởng tượng, sáng tạo là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ
và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, diễn đạt lưu loát, biết sử dụng từ
đúng lúc đúng chỗ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 56 tuổi thông qua môn làm
quen văn học tại trường Mầm non Hoa phượng
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Học sinh 5 6 tuổi trường Mầm non Hoa phượng
5. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp trao đổi đàm thoại
+ Phương pháp dùng tình cảm động viên, khích lệ.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở ly luân
́ ̣
Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và
vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó”. Do đó,
việc dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ tuổi mầm non có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp
phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
́
́
̣ ự
tâp trung chu y, kha năng diên ta đ
̣
́ ́
̉
̃ ̉ ạt... Khac v
́ ới cac môn hoc khac văn hoc hoan
́
̣
́
̣
̀
toan xac đinh ro nh
̀ ́ ̣
̃ ững hinh anh va ngôn ng
̀ ̉
̀
ữ cu thê, cung v
̣ ̉ ̀ ơi th
́ ơi gian đa thu hut,
̀
̃
́
lam thoa man nhu câu, mong mu
̀
̉
̃
̀
́
ọc la môt nhu câu không thê thiêu đôi v
̀ ̣
̀
̉
́ ́ ới
tre.̉
Mục tiêu của công tác chăm sóc giáo dục mầm non phát triển và hình thành
nhân cách cho trẻ, việc day tre tiêp cân v
̣
̉ ́ ̣ ơi tac phâm văn hoc là cho tr
́ ́
̉
̣
ẻ cơ hội
được thể hiện mình, tự tin, mạnh dạn và trẻ phát triển vốn từ, trẻ nói đúng ngữ
pháp.
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi – khó khăn
* Thuận lợi
Trường Mầm non Hoa Phượng đóng trên địa bàn thị trấn, điều kiện cơ sở
vật chất tương đối đầy đủ giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn, nhiệt
tình, yêu nghề, mến trẻ; có khả năng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn;
hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu, nhà trường đã thường
xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và các đợt chuyên đề văn học, hội thi đồ
dùng, đồ chơi cho giáo viên học tập và rút kinh nghiệm.
Lớp có tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi
́
̣
ưa cao.
Giáo vên đôi lúc chưa thật sự linh hoạt, chất giọng kể còn hạn chế.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
Đồ dùng và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động làm quen văn học tương
đối đầy đủ.
Giáo viên nhiệt tình, yêu thương trẻ, chịu khó học hỏi để nâng cao chất
lượng hoạt động làm quen văn học.
Học sinh hứng thú với hoạt động làm quen văn học đặc biệt là giờ kể
chuyện;
Trẻ có cơ hội để thể hiện mình trước mọi người, được kể chuyện, được
thảo luận với bạn.
Rèn cho trẻ kỹ năng kể chuyện mạch lạc và diễn cảm để phát triển ngôn
ngữ
* Mặt yếu
Khả năng chú ý tiếp thu của trẻ còn hạn chế, một số trẻ chưa mạnh dạn,
thiếu tự tin, kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn.
Giáo viên chưa thật sự linh hoạt, sáng tạo trong khi tổ chức hoạt động
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Phương pháp cho trẻ làm quen văn học còn rập khuôn, cứng nhắc, chưa
đồng loạt trong quá trình tổ chức cho trẻ làm quen với văn hoc nói chung xoay
̣
quanh chủ đề .
Giáo viên thường tổ chức cho trẻ chơi để nhằm đạt một số kỹ năng theo
yêu cầu bài học.
53 %
15
47 %
32
16
50 %
16
50 %
đúng ngữ pháp
Hứng thú kể
chuyện, đọc thơ
Biết thể hiện ngữ
32
10
31 %
Khi dạy trẻ một bài thơ hoặc câu chuyện , cô giáo phải nghiên cứu kỹ bài
thơ, câu chuyện đó trước khi đọc, kể cho trẻ nghe để thể hiện giọng, ngữ điệu
phù hợp với diễn biến tâm trạng, hành động của mỗi nhân vật để truyền đạt cho
trẻ một cách hấp dẫn, sinh động, tạo sự hứng thú cho trẻ , để trẻ lắng nghe và
lĩnh hội trọn vẹn câu chuyện, bài thơ một cách tốt nhất.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Để giải quyết được những vấn đề trên, trước mỗi tiết dạy cô phải chuẩn
bị chu đáo giáo án, đồ dùng trực quan phong phú để gây hứng thú cho trẻ như
tranh ảnh, con rối, mô hình, sưu tầm các bài vè, bài thơ dân gian, bài hát dân ca,
câu đố, giáo dục môi trường phù hợp để lồng ghép vào từng tiết dạy.
Tự học, tự rèn luyện để có kỹ năng đọc, kể tự tin, diễn cảm… dành nhiều
thời gian để nghiên cứu tác phẩm, xem nội dung tác phẩm đó giáo dục trẻ những
gì, đó có thể là con người cũng có thể là các loài vật với những tính cách đạo
đức khác nhau như: hiền hay ác, nhanh hay chậm, nhút nhát hay dũng cảm, khiêm
tốn hay kiêu ngạo, … để lồng ghép giáo dục một cách nhẹ nhàng mà có hiệu
quả.
Ví dụ: Bài thơ "Hoa kết trái" giáo dục trẻ vẻ đẹp của các loại hoa và
không được hái hoa, bẻ cành để hoa làm đẹp cho cuộc sống, hoa cho quả ngot...
Ví dụ: Truyện "Rùa và Thỏ" giáo dục trẻ không nên chủ quan, coi thường
người khác. Nhờ sự thông minh, kiên trì của "Chú Rùa" chậm chạp đã về đích
trước. Còn “Chú Thỏ” kiêu ngạo bị thua cuộc.
Ví dụ: Truyện “Quả bầu tiên” , qua câu chuyện giúp trẻ biết được “lão
nhà giàu” tham lam, ác độc bị rắn rết cắn chết. “Cậu bé” hiền lành, chăm chỉ, tốt
bụng hay giúp đỡ mọi người nên được sống một cuộc sống vui vẻ, đầy đủ…
Qua những câu chuyện, bài thơ này đã giúp tôi xác định được một hệ
thống câu hỏi cho phần đàm thoại. Xác định được giọng kể phù hợp với từng
nhân vật và diễn biến câu chuyện.
VD: câu chuyện "Cáo, Thỏ, Gà trống" thì giọng của " Cáo" khi đuổi "Bầy
Chó và bác Gấu" giọng nói to, nhấn mạnh giọng và nhanh, còn lúc gặp "chú Gà
Trống" lúc này "Cáo" sợ hãi nên thế hiện giọng nhỏ hơn và chậm lại, run sợ.
Khi kể chuyện, đọc thơ cô cần sử dụng cử chỉ điệu bộ ánh mắt để hỗ trợ
thêm cho giọng kể, đọc của mình.
*Biện pháp 3: Đàm thoại theo nội dung bài thơ câu chuyện chuyện.
Đây là phương pháp đàm thoại giữa cô và trẻ trong đó cô giữ vai trò chủ
động. Để đặt ra những câu hỏi cho trẻ trả lời và đồng thời cô gợi ý nếu trẻ gặp
khó khăn và khuyến khích trẻ trả lời những câu hỏi cao hơn so với trình độ của
trẻ, để nhằm phát huy tính tích cực, tư duy của trẻ. Câu hỏi của cô đặt phải
ngắn gọn, rõ ràng, rõ ý. Cô đặt câu hỏi chung cho cả lớp yêu cầu trẻ suy nghĩ và
trả lời. Sau đó yêu cầu trẻ giơ tay, gọi một trẻ trong số các trẻ giơ tay trả lời, cô
nhắc cho cả lớp nghe câu trả lời của bạn và kiểm tra lại ý kiến của mình. Có
thể gọi thêm một vài trẻ khác trả lời hoặc nhận xét câu trả lời của bạn nhằm
khuyến khích sự mạnh dạn tự tin ở trẻ. Sửa những câu trả lời không đúng, thiếu
chính xác bằng các câu nói nhẹ nhàng (Bạn đã có tinh thần xung phong, bạn trả
lời gần đúng rồi đấy...Vậy bạn nào có nhận xét khác không nào?; ...)
Ví dụ: trong chuyện “Quả bầu tiên” cô đặt câu hỏi: Trong chuyện có
những nhân vật nào? Các con có nhận xét gì về các nhân vật? Các con yêu nhân
vật nào? Vì sao?
Đàm thoại có tác dụng lớn đối với giáo dục trẻ. Vì trẻ thích tìm tòi, thắc
mắc, ngược lại trong khi đàm thoại giúp cho tôi đánh giá được trình độ nhận
thức của trẻ và biết được khả năng lĩnh hội kiến thức của từng trẻ cũng như
khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ của từng trẻ.
Đàm thoại giúp cho trẻ biết so sánh, nhân cách hoá lên từng câu chuyện để
phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ.
*Biện pháp 4: Dạy trẻ kể lại chuyện.
điệu, tính cách nhân vật hay khi ngắt giọng...
* Biện pháp 5: Lồng ghép đọc thơ, kể chuyện vào các môn học khác
Cô giáo là người xác định chủ đề lên kế hoạch tổ chức lồng ghép các môn
học một cách hợp lý để trẻ phát huy hứng thú, khuyển khích trẻ tích cực chủ
động trong tiết học.
Với lời kể diễn cảm, hấp dẫn nhưng biết tích hợp các môn học khác thì
sẻ hay hơn vì nó làm thay đổi không khí, làm thay đổi trạng thái khi kể chuyện.
Bằng những lời ca, lời đối thoại, những câu đố, những bài đồng dao, ca dao hay
một số trò chơi xen lẫn.
Ví dụ: Bài thơ “Thỏ Bông bị ốm”, “Ong và Bướm”….hoặc cho trẻ đọc
thuộc các một số bài đồng dao, ca dao “Vè chim”, “Đi cầu đi quán”….
Việc tích hợp các môn học khác giáo viên phải linh hoạt, lựa chọn nội
dung, kết hợp nhuần nhuyễn sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, giúp trẻ
tham gia vào hoạt động một cách tích cực và ngôn ngữ của trẻ được phát triển
mạnh nhất.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Giáo viên phải nỗ lực hết mình và dành nhiều thời gian nghiên cứu và đầu
tư vào việc giảng dạy, xây dựng kế hoạch cụ thể, đi sâu nội dung bài dạy.
Tự bản thân của mỗi giáo viên phải không ngừng học tập để cập nhật
thông tin, kiến thức.
Giáo viên cần được sự hỗ trợ về thiết bị dạy học thiết thực và hiệu quả
cùng với việc linh hoạt, chủ động làm đồ dùng dạy học.
Điều quan trọng hơn hết, mỗi giáo viên phải có tâm huyết với nghề.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Để thực hiện thành công của một tiết dạy, chúng ta cần vận dụng phối
hợp các giải pháp, biện pháp một cách hài hòa, phù hợp với mục tiêu bài, điều
kiện, trình độ, khả năng...của học sinh, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Nếu tất cả biện pháp đều có sự kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng thì việc làm
chưa đạt
cầu
đạt yêu
Tỉ lệ %
cầu
Phát âm rõ ràng, đúng ngữ 32
27
84 %
5
16 %
24
75 %
8
25 %
25
78 %
nghiên cứu trong đề tài này có tính thực tế, mang tính khoa học và đem lại hiệu
quả cao hơn trước.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua một học kì, tôi đã nghiên cứu và khảo nghiệm đề tài của mình. Trong
đó, tôi đã sử dụng nhiều biện pháp. Nhưng tôi nhận thấy để giúp trẻ phát triển
ngôn ngữ không có cách nào tốt hơn là người giáo viên phải kích thích được sự
ham thích môn học của trẻ. Muốn làm được điều đó, tùy theo từng lớp học, từng
bài giảng mà người giáo viên sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp giảng
dạy. Nhưng vấn đề trọng tâm là phải nâng cao vai trò của học sinh, đưa các em
lên làm nhân vật trung tâm của mỗi tiết dạy. Người giáo viên phải thực hiện
được “lấy học sinh làm trung tâm”. Có như vậy mới phát huy được tính tích cực
sáng tạo của trẻ từng tiết học.
Muốn cho chất lượng và hiệu quả giảng dạy tốt nhất thì người giáo viên,
trước hết phải có tấm lòng yêu nghề, mến trẻ thực sự, biết chia sẻ niềm vui,
nỗi buồn cùng trẻ, coi trẻ như con của mình. Như vậy thì mới khắc phục được
những khó khăn và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Mặt khác, giáo viên phải không ngừng tự học, tự rèn luyện, tìm tòi, sáng
tạo nâng cao trình độ chuyên môn; sưu tầm các trò chơi dân gian, bài hát dân ca,
ca dao, đồng dao, câu đố,…để đưa vào tiết dạy; nghiên cứu kỹ các tác phẩm văn
học, luyện kỹ năng đọc, kể diễn cảm...; tăng cường giao tiếp tiếng Việt cho
trẻ vào mọi lúc, mọi nơi; tham dự các chuyên đề, các tiết dạy mẫu để rút kinh
nghiệm; đầu tư làm đồ dùng, đồ chơi và thay đổi nhiều phương pháp mới trong
khi tổ chức hoạt động làm quen văn học để thu hút trẻ.
Ngoài ra giáo viên cần sử dụng dụng cụ trực quan đa dạng và sinh động;
tìm các thủ thuật đàm thoại để phát huy hết khả năng hiểu biết của trẻ; thường
xuyên cho trẻ ôn luyện, tập đọc, kể mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt cô phải kiên trì
dạy trẻ theo quy trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp giúp trẻ nắm
Người viết
Trần Thị Vinh
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1
TÊN TÀI LIỆU
TÁC GIẢ
Phương pháp cho trẻ làm quen Cục đào tạo và bồi dưỡng Giáo
với tác phẩm văn học tập 1
viên Nhà xuất bản Hà Nội
năm 2001.
2
Hương dân tô ch
́
̃ ̉ ức thực hiên
̣ Nha xuât ban giao duc năm
̀ ́ ̉
́ ̣
cać hoat
̣ đông
̣ giaó duc̣ trong
trương
̀ mâm
̀ non theo chủ đề
( tre t
̉ ư 56 tuôi).
̀
̉
6
Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Nguyễn Ánh Tuyết NXB ĐHSP
mầm non
MỤC LỤC
MỤC
I
3
II
Phần nội dung
1
Cơ sở lý luận
3
2
Thực trạng
4
3
Giải pháp, biện pháp
6
4
Kết quả thu đươc từ khảo
nghiệm, giá trị khoa học
của vấn đề nghiên cứu