BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH THỊ HUYỀN TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH THỊ HUYỀN TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN
giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô tại Học viện Hành chính Quốc gia và của
các đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan đơn vị công tác. Sự giúp đỡ của
CBCC các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các Thầy,
Cô, các đồng chí Lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp đã dành sự quan tâm giúp
đỡ tận tình trong suốt 02 năm qua.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Cô giáo
TS. Trịnh Đức Hưng đã rất quan tâm, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Do có sự hạn chế về thời gian cũng như năng lực của bản thân nên
chắc hẳn bài luận văn của tác giả còn nhiều thiếu sót. Tác giả rất mong nhận
được sự chỉ bảo của quý thây cô và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Đinh Thị Huyền Trang
MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ......................... 8
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài ............................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm lễ hội truyền thống ....................................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống ................................................. 14
2.2. Khái quát về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh
Quảng Bình .................................................................................................. 55
2.2.1. Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu trên địa bàn Huyện Minh Hóa .... 55
2.2.2. Xu hướng biến đổi của lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh
Quảng Bình.............................................................................................................................. 61
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa
tỉnh Quảng Bình ...................................................................................................................... 64
2.3.1. Thực trạng ban hành văn bản, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tổ chức
triển khai các văn bản quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh
Hóa tỉnh Quảng Bình .............................................................................................................. 64
2.3.2. Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo, đào tạo lại cán bộ, công chức, viên
chức quản lý hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh
Quảng Bình ........................................................................................................................... 66
2.3.3. Thực trạng chính sách quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống và huy động
các nguồn lực quản lý nhà nước về lễ hội truyền thốngtrên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh
Quảng Bình.............................................................................................................................. 69
2.3.4. Thực trạng tổng kết, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình................................................................... 71
2.3.5. Thực trạng thanh tra, kiểm tra hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện
Minh Hóa tỉnh Quảng Bình ................................................................................................... 72
2.3.6. Thực trạng xã hội hóa trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn
huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình........................................................................................ 73
2.4. Nguyên nhân của kết quả đạt được và hạn chế về thực trạng quản lý nhà
nước đối với về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình 74
2.4.1. Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện
Minh Hóa tỉnh Quảng Bình. .................................................................................................. 74
2.4.2. Hạn chế trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh
Hóa tỉnh Quảng Bình. ............................................................................................................. 76
3.4. Kiến nghị.........................................................................................................................103
3.4.1. Đối với Nhà nước .......................................................................................................103
3.4.2. Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch................................................................103
3.4.3. Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình ..................................104
3.4.4. Đối với Huyện Minh Hóa..........................................................................................104
Tiểu kết chương 3 ...................................................................................... 108
KẾT LUẬN ............................................................................................... 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VIẾT TẮT
QLNN : Quản lý nhà nước
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa của huyện
Minh Hóa ..................................................................................................... 67
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp số liệu tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ văn hóa, hội
viên Hội Di sản huyện Minh Hóa 2010 – 2017 ............................................. 68
Bảng 1.1. Thống kê một vài lễ hội truyền thống tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh.............................................................................................................. 39
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài Luận văn
Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đề ra mục
tiêu xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong đó khẳng định rõ vai trò quan trọng của văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
tham gia lễ hội nhưng không biết được mục đích, ý nghĩa của nó là hiện tượng khá
phổ biến. Công tác quản lý, tổ chức và thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt
động lễ hội còn nhiều bất cập. Trong xu thế giao lưu và hội nhập hiện nay, cũng như
ở các nơi khác, nếu lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện không có giải pháp quản lý
tốt sẽ đứng trước nguy cơ bị thương mại hóa, thậm chí bị mai một.
Góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội trên địa bàn huyện Minh Hóa
tỉnh Quảng Bình, tôi chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên
địa bànhuyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình”làm luận văn tốt nghiệp chương trình
đào tạo Cao học Quản lý công của mình.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn
Từ lâu đề tài lễ hội đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và những quan
điểm khácnhau.
Từ 1975 đến nay rất nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm nghiên cứu sâu sắc
về lễ hội như Lê Trung Dũng - Lê Hồng Lý với “Lễ hội Việt Nam” cuốn sách với
trên 300 lễ hội, các tác giả đã đưa ra nội dung đầy đủ về lễ hội về đề tài lịch sử . Đó
là lễ hội tưởng niệm các anh hùng có công chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập
cho dân tộc, Tổ quốc... Ngoài ra, còn có những lễ hội đặc biệt khác nói về sự bất tử,
hoặc tín ngưỡng phồn thực... Lễ hội Thăng Long Hà Nội chiếm một vị trí riêng, bởi
Thăng Long - Hà Nội đã tích lũy gần 1000 năm kinh nghiệm sống cho người Việt
Nam... Có thể nói đây là một trong những công trình nghiên cứu về lễ hội truyền
thống chi tiết, đặc sắc lúc bấy giờ.
Bên cạnh đó cũng phải nói đến “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt
Nam’’củanhiều tác giả (2000). Công trình nghiên cứu này đã khẳng định phương châm
nghiên cứu và phổ biến khoa học văn hóa đó là đi tìm bản sắc văn hóa Việt Nam, sắc
thái các vùng văn hóa được thể hiện ở các đối tượng văn hóa cụ thể, mà lễ hội cổ
2
truyền Việt Nam là một trong những đối tượng đó.
góc độ tìm hiểu chức năng và đặc biệt là những biểu hiện đa dạng của cái đẹp trong
lễhội.
- Đinh Thị Chung (2012) “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động lễ hội ở Việt
Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia.
Luận văn đã phân tích đặc điểm, vai trò của hoạt động lễ hội ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay, đánh giá thực trạng QLNN về hoạt động lễ hội nói chung và đề xuất
những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực QLNN về hoạt động lễ hội. Tuy
nhiên, tác giả chưa nghiên cứu vấn đề QLNN về hoạt động lễ hội ở một địa phương
cụ thể.
- Nguyễn Quang Lê (1999) “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống
của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ trong xã hội hiện nay”,Viện nghiên cứu văn hoá
dân gian. Tác giả đã nêu khái quát chung về thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống
trong lịch sử dân tộc Việt Nam và thực trạng một số lễ hội tiêu biểu ở đồng bằng
Bắc Bộ. Trong phần kết luận và một số dự báo, tác giả đã đề cập đến xu hướng phát
triển du lịch văn hoá trong các lễ hội truyền thống trong tương lai. Công trình này
dừng lại ở phạm vi không gian các tỉnh, thành đồng bằng Bắc Bộ.
- Hà Ngọc Thọ (2011) “Lễ hội và công tác quản lý lễ hội”, Tạp chí Công tác
tôn giáo, Số 3. Bài viết đã nêu lên khái quát các lễ hội, chủ yếu là các lễ hội truyền
thống ở nước ta, với số liệu thống kê trung bình mỗi ngày cả nước có 20 lễ hội diễn
ra. Đặc biệt, tác giả đã nhận diện các mặt trái của việc tổ chức lễ hội trong thời gian
gần đây và đưa ra một số giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội trong
thời gian tới.
Tại tỉnh Quảng Bình và huyện Minh Hóa có các công trình nghiên cứu sau:
- Nguyễn Tú (2007) “Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình”.
Cuốn sách dày 938 trang do nhà nghiên cứu văn hóa và văn nghệ dân gian Nguyễn
Tú sưu tầm và biên soạn đã đi sâu giới thiệu những nét văn hóa cổ truyền đặc trưng
của tỉnh Quảng Bình, trong đó có đề cập đến các lễ hội văn hóa truyền thống trên
địa bàn tỉnh và huyện Minh Hóa. Tuy nhiên, công trình này chỉ dừng lại ở việc giới
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý của nhà nước đối
với lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện
Minh Hóa tỉnh Quảng Bình.
- Về thời gian: từ năm 2010 đến năm 2017.
- Về nội dung: Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý hoạt động lễ hội truyền thống.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng chủ yếu các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp sưu tầm, thu thập các nguồn tư liệu, các nghiên cứu về quản
lý, bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa truyền thống của các địa phương trong
nước và huyện Minh Hóa.
- Phương pháp đối sánh: so sánh, đánh giá những hoạt động liên quan đến việc
quản lý lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện với các địa phương khác trong
cả nước… nhằm đúc kết kinh nghiệm cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu.
Bên cạnh đó đề tài còn được thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp
nghiên cứu liên quan khác như: Phương pháp thống kê; phương pháp phân tích,
tổng hợp; phương pháp diễn dịch, quy nạp…
6. Đóng góp của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có một số đóng góp về lý luận và thực tiễn
7
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm lễ hội truyền thống
1.1.1.1. Khái niệm lễ hội
Văn hóa
Văn hóa là một trong những nội dung hết sức phức tạp, được nhiều nhà khoa học
thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Kể từ năm 1871, khi E.B. Tylor
đưa ra định nghĩa về văn hóa, đến nay người ta đã thống kê được khoảng 400 định
nghĩa khác nhau về vấn đề này.
Năm 1988, nhân dịp lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988-1997), tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (UNESSCO) đã đưa ra định nghĩa về
văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình
cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác
nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống,những quyền cơ bản về con người,
truyền thống tín ngưỡng”.
Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận văn hóa Mác – Lênin của khoa Văn hóa xã hội chủ
nghĩa, Phân viện báo chí và tuyên truyền, sau khi phân tích, kế thừa kiến thức của
các nhà khoa học trong và ngoài nước đã định nghĩa văn hóa như sau: “văn hóa là
hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá
trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp
nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau. Văn hóa
thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Theo Từ Điển triết học, “văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình
Lễ hội bao gồm hai bộ phận Lễ và Hội. Chúng có mối liên hệ chặt chẽ. Phần
lễ là gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phát sinh, tích hợp. Trong lễ có hội, trong hội có
lễ. Không có lễ thì không gọi là lễ hội nữa và gọi là lễ hội thì lễ vẫn là yếu tố chính.
Lễ được hình thành bởi: nhân vật được thờ, hệ thống di tích nghi lễ, nghi thức, thờ
cúng như tế, lễ, rước, xách, hèm, huyền tích, cảnh quan mang tính thiêng. Đồng
thời, lễ cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ chính đáng của con người. Lễ
trong hội không đơn lẻ mà có một hệ thống liên kết, có trật tự và cùng hỗ trợ nhau.
9
Hội được cấu thành bởi: những hình thức sinh hoạt vui chơi, không gian, thời gian,
cảnh quan môi trường, tâm lý hội và hành động hội, di tích lịch sử văn hóa, danh
thắng.
Tiếp cận lễ hội theo hướng của quản lý văn hóa, bao trùm lên tất cả các sự
kiện lễ hội đang diễn ra trong đương đại gồm cả truyền thống dân gian và các sáng
tạo mang tính bác học có khá nhiều khái niệm về lễ hội, xin đưa ra một số ý kiến
sau:
Một là, Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng
đồng, xoay quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những
giá trị nhất định.
Hai là, Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên mộtđại bàn
dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật
lích sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa
củaconngườivớithiênnhiên–thầnthánhvàconngườitrongxãhội.
Ba là, Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức một trò diễn được
thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, của tư tưởng và của
các biểu tượng, vượt trên thế giới hiệnthực.
Bốn là, Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và vai trò diễn,
đó là cuộc sống lao động, chiến đấu của cộng đồng cư dân, khi nó được thăng hoa,
nhu cầu của lễ hội truyền thống. Nói không liên quan tới nhu cầu tâm linh, nhưng
lại tạo ra sự phấn khích, thậm trí là mục tiêu cá nhân hay nhóm trẩy
hội.Nhữngtrògiảitríthuầnúythườngcósẵntrongkhotàngvănhóacủa cộng đồng như
chọi gà, bịt mắt bắt dê…Việc tổ chức những trò này có thể do phân công của cộng
đồng, do ngẫu hứng của các cá nhân hay nhóm. Trò chơi giải trí thuần túy góp phần
tạo một cảm giác toàn cảnh về sự đầy đặn, sầm uất, dư thừa. Như thế, nó cũng góp
phần nói lên niềm ao ước đời thường nhưng sâu xa của con người về hạnh phúc
bình dị trong cuộcsống.
Hoạt động dịch vụ, được hiểu như hoạt động mua bán trong dịp lễ hội. Trước
đây thường là đồng quà tấm bánh, sản vật đồng quê, trò chơi có thưởng. Ngày nay,
ở nhiều lễ hội cổ truyền, hoạt động dịch vụ lại được coi như mục tiêu khi phát triển
thành lễ hội – du lịch. Hoạt động này ngày càng trở nên đa dạng, đáp ứng đủ nhu
cầu của du khách, thậm chí còn làm cho không gian của lễ hội biến đổi về quy mô,
màu sắc. Tuy nhiên, nó cũng có thể làm biến dạng cả không gian của một lễ hội dân
11
gian truyềnthống.
Hoạt động lễ hội truyền thống là các bước tiến hành các sự việc xảy ra trong
phạm vi thời gian, không gian của một lễ hội truyền thống theo một chu trình được
định sẵn.
1.2.2.2. Khái niệm lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống được hình thành từ phong tục tập quán, tín ngưỡng và
nhu cầu đời sống tâm linh, vui chơi giải trí của nhân dân và xuất phát từ quy định
của thể chế chính trị đương thời.
Lễ hội truyền thống là các lễ hội như hội đền, hội đình, hội chùa, là sinh hoạt
cộng đồng về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo được hình thành trong lịch sử từ xa xưa,
được truyền lại trong cộng đồng nông nghiệp với tư cách một phong tục. Để đảm
bảo tính truyền thống, phần lễ nhất thiết phải mang tính khuôn mẫu, nghiêm trang,
Theo cắt nghĩa của Từ điển Tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ lại không để cho mất
đi”, “phát triển là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở
thêm”.
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức
vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay
biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải
biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được
nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo
thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn.
Phát triển là sự vận động của sự vật hiện tượng. Không có sự vận động thì sẽ
không có sự phát triển nhưng không phải bất kỳ sự vận động nào cũng là sự phát
triển. Sự vận động có thể đi theo các chiều hướng khác nhau: theo chiều hướng tiến
lên, theo chiều hướng thụt lùi, vận động theo chiều hướng tuần hoàn. Phát triển là
khái niệm dùng để khái quát sự vận động theo chiều hướng từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ sự kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế
cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu.
Phát triển các giá trị của lễ hội truyền thống trước hết là sử dụng giá trị tinh
thần của lễ hội truyền thống trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình
cảm; đồng thời, khái niệm "phát triển" cũng bao hàm ý nghĩa là các hoạt động khai
13
thác, tuy nhiên, nếu sử dụng từ "khai thác" các lễ hội truyền thống thì có phần
thương mại hóa lễ hội, dễ bị hiểu là quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử
dụng.
Điều 25, Luật Di sản văn hóa (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định về bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể: “Nhà nước tạo điều kiện duy trì và
phát huy giá trị văn hóa của lễ hội thông qua các biện pháp sau: Tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tổ chức lễ hội; Khuyến khích việc tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ
ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền.
Vậy QLNN về Lễ hội truyền thống có thể được hiểu như sau:
Quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội là quá trình tác động, điều hành,
điều chỉnh để các hoạt động lễ hội, lễ hội truyền thống diễn ra theo đúng quy định
của phápluật. Lễ hội truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể,
mang nhiều giá trị truyền thống đặc sắc, có mối quan hệ mật thiết với di sản văn
hóa vật thể và phi vật thể nên công tác quản lý và chỉ đạo tổ chức lễ hội truyền
thống cũng phải có định hướng, chỉ đạo mang tính tổng thể và hài hòa với các lĩnh
vực trong đời sống xã hội.
1.2. Đặc điểm, sự cần thiết, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về lễ
hội truyền thống
1.2.1. Đặc điểm của lễ hội truyền thống
1.2.1.1. Tính thiêng
Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang
tính "thiêng" nào đó. Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh
đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ. Đó là nơi một người anh hùng bỗng
dưng hiển thánh, bay về trời. Cũng có khi đó chỉ là một bờ sông, nơi có một xác
người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn
cất, thờ phụng... Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của
một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người
chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người
đánh giặc... ). Song, những người đó bao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở
thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân.
Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ có
thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm
15