BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ TƢƠI
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ TƢƠI
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
đạt đƣợc kết quả ngày hôm nay.
Mặc dù đã rất cố gắng nhƣng với thời gian và điều kiện nghiên cứu còn
nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh đƣợc những thiếu sót. Kính mong
nhận đƣợc sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè đồng
nghiệp để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 20 tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tƣơi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA KHEN THƢỞNG ................................................. 11
VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA KHEN THƢỞNG .................... 11
1.1. Một số vấn đề lý luận về thi đua, khen thƣởng ........................................ 11
1.1.1. Khái niệm thi đua ............................................................................... 11
1.1.2. Khái niệm khen thưởng....................................................................... 15
1.1.3. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng ......................................... 18
1.1.4. Cấu trúc của hệ thống khen thưởng ................................................... 20
1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng .. 21
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng .............. 22
1.2.3 Hệ thống cơ quan làm thi đua, khen thưởng .......................................... 31
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1................................................................................... 38
Chƣơng 2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN
THƢỞNG TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA-XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HẢI
trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội ........................................................................ 70
3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của Đảng,
Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng ................................................... 72
3.2.3 Tăng cường việc xây dựng ban hành các văn bản về thi đua, khen thưởng
phù hợp với thực tiễn của địa phương ............................................................. 74
3.2.4 Đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức các phong trào thi đua, công tác
khen thưởng; xây dựng, bồi dưỡng và nhân rộng gương điển hình tiên tiến. .... 77
3.2.5 Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức và cán bộ làm
công tác thi đua, khen thưởng của lĩnh vực Văn hóa-Xã hội.......................... 80
3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, cải cách thủ tục
hành chính trong việc thực hiện các quy định về công tác thi đua, khen
thưởng.............................................................................................................. 83
3.3 Kinh nghiệm về Quản lý Nhà nƣớc đối với Thi đua-Khen thƣởng .......... 86
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 91
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề
thi đua yêu nƣớc, trải qua những thăng trầm của lịch sử, thực tiễn cách đã
chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Ngƣời khởi xƣớng và kiến tạo
thành công phong trào thi đua yêu nƣớc Việt Nam. Ngƣời đã từng nói:
“Thi đua là yêu nƣớc, yêu nƣớc thì phải thi đua. Và những ngƣời thi đua
là những ngƣời yêu nƣớc nhất”, chính quan điểm, tƣ tƣởng tiến bộ đó của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi
hành động cách mạng của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, công
nhân viên, chiến sỹ và nhân dân cả nƣớc hăng hái, phấn đấu thi đua lao
động, học tập và cống hiến trong công cuộc phát triển đất nƣớc. Đây là
một quan niệm mới về thi đua, thể hiện sự sáng tạo độc đáo trong tƣ
Đảng, toàn quân và toàn dân đã phát triển, sôi nổi mạnh mẽ và rộng khắp
tạo nên khí thế trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh - quốc
phòng, ngành thi đua, ngƣời ngƣời thi đua. Phong trào thi đua yêu nƣớc
đã góp phần to lớn vào công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ
đất nƣớc trong những năm đầu của thế kỷ XXI.
Mục tiêu xuyên suốt của phong trào thi đua yêu nƣớc và công tác
khen thƣởng là phát huy đƣợc sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, của cả hệ thống chính trị vào việc thực hiện công cuộc đổi mới đất
nƣớc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phong trào thi đua phải trở thành
động lực to lớn, góp phần phát triển kinh tế nhanh, bền vững, sớm đƣa
nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại; nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ gìn hòa bình,
ổn định để phát triển đất nƣớc; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam
trong khu vực và trên thế giới.
Từ thực tiễn quá trình xây dựng và phát triển của thành phố Hải
Phòng, nhất là trong những năm đổi mới vừa qua thì càng thấy đƣợc vai
2
trò, vị trí của công tác thi đua, khen thƣởng trong mỗi bƣớc phát triển và
trƣởng thành của thành phố, dù ở lĩnh vực nào và thời điểm nào thì đều
có sự đóng góp quan trọng của công tác thi đua-khen thƣởng.
Các phong trào thi đua phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, có nhiều đổi mới về
nội dung và hình thức, thiết thực và hiệu quả, tạo động lực quan trọng
góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế-xã hội
của đất nƣớc.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, công tác thi đua,
khen thƣởng nói chung, thi đua, khen thƣởng trong lĩnh vực văn hóa-xã
hội nói riêng, nhất là quản lý nhà nƣớc đối với công tác này của thành
đủ mạnh, thiếu chuyên gia giỏi, cán bộ có năng lực; Biên chế ở quan ban
ngành thành phố và quận huyện chỉ có một hoặc nửa cán bộ chuyên trách,
còn lại là kiêm nhiệm, lại thay đổi luôn, không đƣợc bồi dƣỡng, đào tạo
chuyên môn nghiệp vụ. Ở xã, phƣờng không có biên chế và không bố trí
phân công ngƣời chuyên trách theo dõi, công tác thi đua khen thƣởng, chỉ
khi tổng kết năm, văn phòng mới cử ngƣời tổng hợp kết quả khen thƣởng.
- Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát khen thƣởng bị buông lỏng,
giải quyết khiếu nại tố cáo làm không kịp thời.
Những tồn tại, hạn chế này đã ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu
lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nƣớc về thi đua, khen thƣởng
trong lĩnh vực văn hóa-xã hội của thành phố Hải Phòng. Điều đó làm cho
công tác thi đua, khen thƣởng chƣa phát huy hết vị trí, vai trò của mình
trong lĩnh vực văn hóa-xã hội của thành phố. Xuất phát từ thực tiễn đặt ra
vấn đề cần phải tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những
hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý nhà nƣớc về công tác thi đua, khen
thƣởng để thi đua, khen thƣởng thực sự trở thành công cụ quản lý nhà
nƣớc hữu hiệu, tạo động lực thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị
của ngành cũng nhƣ của địa phƣơng. Mặt khác, phong trào thi đua trong
lĩnh vực Văn hóa-Xã hội đã góp phần phát triển nguồn nhân lực, thực
hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm và dạy nghề,
bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời
4
sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân. Các nghiên cứu trƣớc đây về
công tác quản lý nhà nƣớc đối với công tác thi đua, khen thƣởng mà tôi
đã tham khảo, nói chung là đã có sự tổng kết, phân tích, bổ sung, có nhiều
đóng góp tích cực vào lý luận, cũng nhƣ thực tiễn nói chung về quản lý
nhà nƣớc về công tác thi đua khen thƣởng hiện nay. Tuy vậy các luận văn
đề cập chủ yếu đến nội dung quản lý nhà nƣớc về công tác thi đua, khen
- Luật Thi đua, khen thƣởng cùng Nghị định số 42/2010/NĐ-CP,
Nghị định số 39/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính phủ.
- Các Quy chế phong tặng danh hiệu: Doanh nghiệp, doanh nhân,
doanh nghiệp trẻ thành phố tiêu biểu; Gƣơng mặt tiêu biểu thành phố;
Danh hiệu Nghệ nhân thành phố Hải phòng; Giải thƣởng Nguyễn Bỉnh
Khiêm về khoa học - công nghệ; Giải thƣởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về văn
học nghệ thuật.
Đó là các văn bản đã đƣợc tổng kết về mặt lý luận cũng nhƣ thực
tiễn của phong trào thi đua yêu nƣớc và công tác khen thƣởng. Phong trào
thi đua yêu nƣớc và công tác khen thƣởng hơn 60 năm qua góp phần to
lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nƣớc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Luật Thi đua khen thƣởng nhà nƣớc và các văn
bản dƣới luật, các văn bản tổng kết của đại hội thi đua yêu nƣớc, các bài
tham luận của hội thảo, các sách đã in là tổng hợp trí tuệ của các nhà lý
luận, các nhà quản lý về công tác thi đua khen thƣởng cũng đều phải tiếp
tục bổ sung sửa đổi, nhất là trong thời đại bùng nổ về khoa học công
nghệ. Cuộc sống vận động, thay đổi từng ngày, từ đó đòi hỏi công tác
quản lý nhà nƣớc nói chung và công tác quản lý nhà nƣớc về thi đua khen
thƣởng cũng không ngừng phải đổi mới để đáp ứng với yêu cầu phát triển
của xã hội. Mặt khác, các nghiên cứu trƣớc đây về công tác quản lý nhà
nƣớc đối với công tác thi đua khen thƣởng mà tôi đã tham khảo, nói
chung là đã có sự tổng kết, phân tích, bổ sung, có nhiều đóng góp tích cực
6
vào lý luận, cũng nhƣ thực tiễn nói chung về quản lý nhà nƣớc về công
tác thi đua khen thƣởng hiện nay. Tuy vậy các luận văn đề cập chủ yếu
đến nội dung quản lý nhà nƣớc về công tác thi đua khen thƣởng ở các
tỉnh, có những đặc thù khác thành phố Hải Phòng. Các giải pháp, những
công chức ngành tài chính trong điều kiện hiện nay. Đây là luận văn về
công tác thi đua, khen thƣởng mang tính chuyên ngành riêng biệt.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về thi đua, khen thƣởng; trên cơ sở đó đề xuất các
phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm đổi mới nâng cao hoạt động quản lý
nhà nƣớc về thi đua, khen thƣởng. Những nguồn nghiên cứu trên là tài liệu
hữu ích, có giá trị về lý luận, giúp định hƣớng cho học viên trong quá trình
nghiên cứu hoàn thành đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
3.1 Mục đích:
Đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về thi
đua, khen thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội ở thành phố Hải Phòng
hiện nay cũng nhƣ trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về thi đua,
khen thƣởng và quản lý nhà nƣớc về thi đua, khen thƣởng trong lĩnh vực
Văn hóa-Xã hội.
- Phân tích, đánh giá đƣợc thực trạng quản lý nhà nƣớc về thi đua,
khen thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội ở thành phố Hải Phòng hiện
nay.
- Đề xuất đƣợc giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà
nƣớc về thi đua, khen thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội ở thành phố
Hải Phòng hiện nay cũng nhƣ trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nƣớc về thi đua, khen
thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội ở thành phố Hải Phòng hiện nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
8
nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của quản lý nhà
nƣớc về công tác thi đua, khen thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội ở
thành phố Hải Phòng hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Giúp cho cấp Uỷ, chính quyền thành phố đánh giá đúng thực
trạng công tác thi đua, khen thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội hiện
nay. Từ đó giúp cho thành phố đề ra những giải pháp về đổi mới công tác
thi đua, khen thƣởng thành phố trong giai đoạn cách mạng mới.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về
công tác thi đua, khen thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội.
+ Là tài liệu để giúp cơ quan thi đua, khen thƣởng ở thành phố
tham khảo để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về công tác thi đua,
khen thƣởng trong lĩnh vực văn hóa-xã hội.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Lý luận chung và quản lý nhà nƣớc về công tác thi đua,
khen thƣởng.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về hoạt động thi đua, khen
thƣởng trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội ở thành phố Hải Phòng hiện nay.
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nƣớc về công tác thi đua, khen thƣởng trong lĩnh vực Văn
hóa-Xã hội ở thành phố Hải Phòng hiện nay.
10
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA KHEN THƢỞNG
Dƣới chế độ xã hội chủ nghĩa, thi đua yêu nƣớc bao giờ cũng là
phong trào thi đua tập thể của những công nhân, nông dân, trí thức,
những ngƣời lao động tự mình làm chủ vận mệnh của mình, không đối
kháng về lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, mọi ngƣời mang hết nhiệt tình và
khả năng của mình ra để xây dựng đất nƣớc.
Nguyên tắc quan trọng nhất của thi đua xã hội chủ nghĩa là đoàn
kết, hợp tác cùng phát triển, phổ biến sáng kiến, kinh nghiệm; ngƣời tiền
tiến thân ái giúp đỡ ngƣời chậm tiến để đạt tới sự tiến bộ chung. Hoàn
toàn không giống với bí mật thƣơng mại trong cạnh tranh. Thi đua xã hội
chủ nghĩa chẳng những là mục tiêu kinh tế, còn nhằm xây dựng con
ngƣời mới, rèn luyện nhân cách cao đẹp cho ngƣời lao động.
Nói nhƣ vậy thi đua có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, thi đua
phải có mục đích, mục tiêu. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thi đua ái quốc nhằm
ba mục đích chính: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức
là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm Tổ quốc độc lập, tự do”[6,
tr.32]. Thông qua thi đua để giáo dục động viên mọi ngƣời, nâng cao lòng
yêu nƣớc, ý thức giác ngộ giai cấp, trách nhiệm công dân và tính cộng
đồng xã hội.
Công tác thi đua qua những chặng đƣờng lịch sử, đặc biệt thấy rõ vai
trò thi đua thời kỳ đổi mới, trong cơ chế thị trƣờng Nhà nƣớc đã có Luật
Thi đua, Khen thƣởng ngày 16/11/2003 trong đó chỉ rõ: “Thi đua là hoạt
động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các cá nhân, tập thể nhằm
phấn đấu đạt đƣợc thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
[12, tr.15].
* Nguyên tắc thi đua
Khoản 1, Điều 6, Luật Thi đua, Khen thƣởng quy định: “Nguyên
tắc thi đua gồm tự nguyện, tự giác, công khai; đoàn kết, hợp tác và cùng
phát triển”.
sinh giỏi quốc gia, quốc tế; tập thể, cá nhân, gia đình có thành tích xuất
sắc, có nhiều đóng góp lớn cho thành phố; trong phong trào thi đua xây
13
dựng nông thôn mới; các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong
phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc...
* Hình thức tổ chức phong trào thi đua
Thi đua thƣờng xuyên: là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng,
nhiệm vụ đƣợc giao của cá nhân, tập thể tổ chức phát động, nhằm thực
hiện tốt công việc hàng ngày, hằng tháng, hằng quý, hằng năm của cơ
quan, tổ chức, đơn vị. Đối tƣợng thi đua thƣờng xuyên là các cá nhân
trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị
hoặc giữa các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tƣơng
đồng nhau.
Thi đua theo chuyên đề (theo đợt): là hình thức thi đua nhằm thực
hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm đƣợc xác định trong một khoảng thời gian
nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đột xuất,
cấp bách của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Cơ quan, đơn vị, tổ chức chỉ phát
động thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) khi đã xác định rõ mục đích,
yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian.
* Danh hiệu thi đua
Theo Điều 7, Luật Thi đua, Khen thƣởng, danh hiệu thi đua gồm:
- Danh hiệu thi đua đối với cá nhân;
- Danh hiệu thi đua đối với tập thể;
- Danh hiệu thi đua đối với gia đình.
Theo Khoản 1, Điều 20, Luật Thi đua, Khen thƣởng quy định, danh
hiệu thi đua đối với cá nhân gồm:
- “Chiến sỹ thi đua toàn quốc”;
- “Chiến sỹ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ƣơng”;
thành tích của Nhà nƣớc bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền do
luật định. Nhƣ vậy khen thƣởng là một vấn đề thuộc phạm trù khoa học
xã hội. Khen thƣởng và trừng phạt đƣợc hình thành phát sinh và tồn tại
trong quá trình phát triển của con ngƣời là vấn đề thuộc tâm lý xã hội,
sinh hoạt tinh thần của con ngƣời, do đó khen thƣởng phải thể hiện quan
điểm quần chúng, phải có trách nhiệm cao trong quá trình phát hiện xét
khen thƣởng. Khen thƣởng tồn tại cùng với sự tồn tại của Nhà nƣớc. Còn
15
Nhà nƣớc là còn khen thƣởng. Khen thƣởng vừa có ý nghĩa động viên về
tinh thần và khích lệ bằng vật chất.
Trong điều kiện hiện nay, khen thƣởng vẫn có vai trò quan trọng là
động lực thúc đẩy xã hội phát triển là biện pháp của ngƣời quản lý thực hiện
nhiệm vụ trọng tâm chính trị của cơ quan đơn vị mình nhằm khuyến khích
động viên mọi tầng lớp trong xã hội tích cực hăng hái lập thành tích trong
lao động sản xuất và công tác.
Trên cơ sở lý luận đó, Luật Thi đua, khen thƣởng của Nƣớc Cộng
hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 26/11/2003 đã nêu rõ: “Khen
thƣởng là việc nghi nhận, biểu dƣơng, tôn vinh công trạng và khuyến
khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” [12, tr.26].
* Nguyên tắc khen thưởng
Trƣớc hết, khen thƣởng phải đảm bảo tính chính xác, công bằng,
công khai và kịp thời. Xuất phát từ khái niệm và mục đích khen thƣởng là
sự ghi nhận, biểu dƣơng và tôn vinh công lao thành tích nhăm giáo dục,
động viên thức đẩy phong trào thi đua, khơi dậy tƣ duy tìm tòi, sáng tạo,
phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực của mỗi cá nhân và tập thể. Khen
thƣởng phải chính xác, đúng đối tƣợng, đúng hình thức, đúng thành tích.
chƣơng, Danh hiệu vinh dự Nhà nƣớc, “Giải thƣởng Hồ Chí Minh”, “Giải
thƣởng Nhà nƣớc”, Kỷ niệm chƣơng, Huy hiệu, Bằng khen, Giấy khen.
Tƣơng ứng với 07 hình thức khen thƣởng trên có 29 loại khác
nhau, gồm: 10 loại Huân chƣơng; 04 loại Huy chƣơng; 08 loại danh hiệu
vinh dự Nhà nƣớc; 02 loại giải thƣởng; 01 loại kỷ niệm chƣơng; 01 loại
huy hiệu; 02 loại Bằng khen và 01 loại giấy khen.
* Các loại hình khen thưởng
Khen thƣởng theo công trạng và thành tích đạt đƣợc là hình thức
khen thƣởng cho tập thể, cá nhân đạt đƣợc thành tích xuất sắc trong thực
hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khen thƣởng theo chuyên đề (hoặc theo đợt) là khen thƣởng cho
tập thể và cá nhân đạt đƣợc thành tích xuất sắc sau khi kết thúc đợt thi
17
đua do Chủ tịch nƣớc, Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng, Chủ tịch ủy ban
nhân dân các cấp, Thủ trƣởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị phát động.
Khen thƣởng đột xuất là khen thƣởng cho tập thể, cá nhân đạt đƣợc
thành tích đột xuất trong lao động, sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến
đấu; dũng cảm cứu ngƣời, tài sản của Nhân dân hoặc của Nhà nƣớc
(thành tích đột xuất là thành tích lập đƣợc trong hoàn cảnh không đƣợc
dự báo trƣớc, diễn ra ngoài dự kiến kế hoạch công việc bình thƣờng mà
tập thể, cá nhân phải đảm nhận).
Khen thƣởng quá trình cống hiến là khen thƣởng cho cá nhân có
quá trình tham gia trong các giai đoạn cách mạng (giữ các chức vụ lãnh
đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nƣớc, các đơn vị sự nghiệp, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị-xã hội), có công lao, thành tích xuất sắc đóng
góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.
Khen thƣởng theo niên hạn là khen thƣởng cho cá nhân thuộc lực
lƣợng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có thành tích, có thời gian
quả khen thƣởng mới chính xác, mới có tác dụng giáo dục, nêu gƣơng,
động viên khuyến khích, hơn nữa còn tạo điều kiện cho đợt thi đua sau
đạt kết quả cao hơn. Không coi nhẹ khen thƣởng trong thi đua, ngƣợc lại
không có thi đua thì không có căn cứ đánh giá thành tích để khen thƣởng,
thiếu chính xác, ít tác dụng.
Xét cả hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn cho thấy thi đua, khen
thƣởng luôn bổ sung hỗ trợ cho nhau. Thi đua là động lực thúc đẩy mọi
tầng lớp nhân dân phát huy tinh thần sáng tạo, nỗ lực vƣợt mọi khó khăn
vƣơn lên hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra. Từ kết quả tổng
kết thi đua mà lựa chọn tập thể và cá nhân xứng đáng để khen thƣởng.
Khen thƣởng chính là việc đánh giá kết quả phong trào thi đua. Khen
thƣởng chính xác kịp thời có tác dụng động viên, giáo dục và nêu gƣơng
tốt trong xã hội, đồng thời cổ vũ phong trào thi đua phát triển sâu, rộng.
Nếu khen thƣởng không đúng không chuẩn xác sẽ làm mất tác dụng thậm
chí còn ảnh hƣởng xấu đến phong trào thi đua và dẫn đến tiêu cực trong
phong trào thi đua, ảnh hƣởng đến công tác khen thƣởng.
19