THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2001-2005 CỦA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THÀNH PHỐ HÀ
NỘI GIAI ĐOẠN 2001-2005
Trong 5 năm 2001-2005 mặc dù tình hình thế giới diễn biến phức tạp, xảy
ra dịch SARS và dịch cúm gia cầm, giá cả nhiều mặt hàng tăng cao ngoài dự
kiến, thời tiết có năm không thuận lợi... nhưng kinh tế Thủ đô vẫn đạt được
nhiều thành tựu, mức tăng trưởng cao và tương đối ổn định. Tổng sản phẩm nội
địa (GDP) trong 5 năm tăng bình quân 11,12%, cao hơn mức tăng trưởng bình
quân 5 năm trước (10,72%) và vượt mục tiêu do HĐND đề ra là 10,0-11,0%,
đóng góp khoảng 8% GDP cả nước. Các ngành kinh tế đều tăng trưởng khá,
trong đó GTGT ngành công nghiệp tăng 13,2%/năm, ngành dịch vụ tăng
10,3%/năm, ngành nông nghiệp tăng 2,6%/năm.
Sự phát triển của các ngành, các thành phần kinh tế cùng quy mô chung
của kinh tế Thủ đô phần nào cho thấy quy mô nguồn thu NSNN trên địa bàn
thành phố là tương đối lớn.
1. Kinh tế Thủ đô chia theo ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Chất lượng và
khả năng cạnh tranh của một số lĩnh vực và sản phẩm có chuyển biến góp phần
tăng kim ngạch xuất khẩu của Thành phố, tạo nguồn thu cho NSNN. Đến cuối
năm 2005 dự kiến ngành công nghiệp chiếm 40,5% GDP của Thành phố, dịch
vụ chiếm 57,5%, nông nghiệp chiếm 2%.
- Lĩnh vực dịch vụ
Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, phát triển theo hướng hiện đại,
văn minh. Công tác xúc tiến thương mại được Thành phố quan tâm chỉ đạo. Đến
cuối năm 2005 Hà Nội đã có Văn phòng đại diện tại Thụy Sỹ, Nhật Bản, Mỹ và
Nam Phi. Mô hình tổ chức quản lý chợ chuyển sang hình thức công ty cổ phần,
góp phần nâng cao hiệu quả quản lý. Trên địa bàn Thành phố hiện có khoảng 11
Trung tâm thương mại, 51 siêu thị hoạt động. Hình thành một số Trung tâm
thương mại lớn kết hợp siêu thị, văn phòng cho thuê; Tràng Tiền, Đại Hà, tháp
huy động của ngành ngân hàng Hà Nội tăng trung bình 23,6%/năm, năm 2004
đạt 173.646 tỷ đồng; tốc độ tăng dư nợ 23,9%/năm, năm 2005 đạt 93.710 tỷ
đồng. Các loại dịch vụ bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn, chăm sóc sức khỏe... có
những tiến bộ cơ bản so với thời kỳ trước. Dịch vụ đô thị đã có bước phát triển
khá với sự tham gia mạnh mẽ của các thành phần kinh tế trong vận tải hành
khách, vệ sinh môi trường, phát triển nhà ở, góp phần hình thành, phát triển đô thị
hiện đại.
- Lĩnh vực công nghiệp
Trong 5 năm qua, Thành phố đã hình thành 6 cụm công nghiệp (Vĩnh
Tuy, Phú Thị, Từ Liêm, Đông Anh, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng; đang hoàn thiện
các cụm Phú Thị, Ngọc Hồi, Hapro, Ninh Hiệp). Giải quyết cho 130 doanh
nghiệp vào thuê đất, trong đó có 80 DN được di dời từ nội đô. Thực hiện Quyết
định 86/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cuối năm 2005 thành phố đã đổi
mới tổ chức các DNNN, cổ phần hoá 112 doanh nghiệp, sáp nhập 36 DN, giải
thể 4 DN, phá sản 3 DN, giao 2 DN cho tập thể người lao động, chuyển 29
DNNN thành công ty TNHH một thành viên, lập 4 tổng công ty (Tổng công ty
Du lịch Hà Nội, Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, Tổng công ty vận
tải, Tổng công ty thương mại), chuyển 2 DNNN thành Công ty mẹ con.
Sản xuất công nghiệp Thủ đô giữ tốc độ tăng trưởng cao so với dịch vụ
và nông nghiệp. Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp mở
rộng bình quân giai đoạn 2001-2005 13,4%/năm, giá trị sản xuất là 18,7%. Cơ
cấu sản phẩm chuyển dịch, ngoài những sản phẩm công nghiệp truyền thống
được củng cố, xuất hiện một số mặt hàng mới, như máy in phun Canon, công
nghiệp phần mềm... Tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến, xây dựng tăng,
các ngành khai thác mỏ, sản xuất, phân phối điện nước giảm. Năm nhóm ngành
công nghiệp chủ lực có tốc độ tăng trưởng trung bình 19,7%/năm. Một số sản
phẩm đã nâng cao sức cạnh tranh, đứng vững ở thị trường trong nước và không
ngừng tăng xuất khẩu, như máy in phun, hàng điện tử.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được quan tâm khôi phục và phát
triển. Thời gian qua Thành phố tập trung chỉ đạo xây dựng qui hoạch phát triển
trình CNH, HĐH, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, Thành
phố đã đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN, gắn việc sắp xếp với việc thực hiện
tách chức năng quản lý nhà nước và chức năng sản xuất kinh doanh của một số
Sở, Ngành; thành lập một số Tổng công ty của Thành phố.
Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đã có bước phát triển đáng kể. Trong 5
năm số DN ngoài nhà nước mới thành lập là 31700 DN với số vốn đăng ký
68000 tỷ đồng: vốn trung bình đăng ký mỗi doanh nghiệp năm 2004 gấp 2,8 lần
năm 2000. Các doanh nghiệp đã tham gia vào hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, trong đó có những lĩnh vực trước đây chỉ do DNNN đảm nhận. Nhiều
loại hình doanh nghiệp mới được hình thành và phát triển khá hiệu quả: công ty
cổ phần có vốn Nhà nước dưới 50%, hợp tác xã dịch vụ, môi trường, doanh
nghiệp nông nghiệp... Khu vực này góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và
giải quyết việc làm, đóng góp trên 20% GDP, 4,4% thu ngân sách, trên 10% kim
ngạch xuất khẩu và thu hút khoảng 60% lao động đang việc làm ở Hà Nội
(trong đó kinh tế cá thể, hội gia đình thu hút 44%). Đây là khu vực năng động,
sức tăng trưởng mạnh, là nhân tố quan trọng thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh
tế.
- Công tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài được Thành phố tích cực triển
khai; môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài với tiềm lực về vốn, công nghệ có tốc độ tăng trưởng khá: 5 năm
2001-2005 tốc độ tăng GDP khu vực này đạt 12,7%/năm. Giai đoạn 2001-2005
tổng vốn FDI đăng ký đạt 1947 triệu USD, vốn thực hiện đạt 1335 USD. Các
doanh nghiệp tập trung trong các ngành sử dụng công nghệ cao, trong đó công
nghiệp chiếm 42%, dịch vụ chiếm 41,5%. Số dự án hoạt động có lãi 154 dự án,
chiếm 73% số dự án FDI hoạt động trên địa bàn. Năm 2005, tỷ trọng đóng góp
của khu vực có FDI trong GDP thành phố bằng 16,9%, thu ngân sách khoảng
16,3%, kim ngạch xuất khẩu khoảng 18%, giải quyết việc làm mới 10%. Ngoài
ra, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc
thực hiện chuyển dịch cơ cấu công nghệ theo hướng đồng bộ, hiện đại, góp phần
nâng cao trình độ quản lý, tay nghề của người lao động.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn bao gồm thu nội địa, thu từ hoạt
động xuất nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại, ngoài ra thu bổ sung từ ngân
sách trung ương, đối với ngân sách Thành phố, còn có một số khoản thu từ
thưởng vượt thu ngân sách, thu từ viện trợ không hoàn lại, các nguồn huy động
khác (vay dưới nhiều hình thức: phát hành trái phiếu, ODA,…). Tuy nhiên, với
mục tiêu tìm ra những giải pháp tăng cường khả năng thu từ thực lực của thành
phố, luận văn chỉ đi sâu phân tích số thu từ nỗ lực thu của thành phố, tức là loại
bỏ những khoản thu từ huy động (các khoản vay dưới nhiều hình thức như phát
hành trái phiếu, tín phiếu,…), từ bổ sung ngân sách trung ương, từ viện trợ,...
Như vậy, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chỉ tính số thu từ hoạt động xuất
nhập khẩu và các khoản thu nội địa.
Cũng nhằm nâng cao hiệu quả việc phân tích kết quả thu, luận văn tính
toán toàn bộ các số liệu thu theo giá so sánh năm 1994, thông qua số liệu về chỉ
số giá và chỉ số giảm phát. Tuy nhiên, do việc ước tính các chỉ số giá, chỉ số
giảm phát hàng năm chỉ mang tính tương đối, nhất lại là chỉ số giá của riêng Hà
Nội, nên kết quả có thể không chính xác như mong muốn. Với những quan điểm
trên, ở phần sau, luận văn sẽ phân tích thực trạng thu ngân sách giai đoạn 2001-
2005 theo một số tiêu chí như khoản mục, sắc thuế và phân cấp nguồn thu.
1. Đánh giá tổng quát kết quả thu ngân sách 2001-2005
Kết quả thu ngân sách thành phố Hà Nội trong 5 năm qua đạt khá, với mức
tăng trưởng bình quân là 13.2%/năm, trong 5 năm, số thu ngân sách đạt 64035.79
tỷ đồng (giá 1994), đóng góp vào NSNN đạt 14-16%. Tuy nhiên, do nhiều
nguyên nhân, mức biến động thu ngân sách trong giai đoạn qua là rất lớn.
Năm 2001, Hà Nội gặp nhiều khó khăn về thời tiết, đặc biệt chịu ảnh
hưởng suy thoái của kinh tế thế giới, giá cả hàng hóa xuất khẩu giảm nhiều, thu
ngân sách trên địa bàn chỉ đạt mức tăng 19,8 tỷ đồng, tương đương 0,23%.
Năm 2002, kết quả thu tăng mạnh, đạt 3042.96 tỷ đồng, tương đương
mức tăng 34,9% so với năm 2001. Trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt
mức 10,92%. Sở dĩ có sự tăng đột biến về thu này là do những thay đổi về cơ
chế chính sách thu, làm phát sinh những khoản thu mới cho thành phố (từ năm
Tổng thu NSNN trên
địa bàn
8718.97 11780.8 12861.8 14923.8 15783.2
Tốc độ tăng 0.23% 34.90% 9.32% 16.05% 5,72%
Nguồn: Tính toán từ Báo cáo Quyết toán ngân sách thành phố hàng năm
Nhìn chung 5 năm vừa qua thu ngân sách có rất nhiều biến động do nhiều
nguyên nhân. Có những năm thu ngân sách tăng rất cao, cũng có những năm rất
thấp. Ví dụ năm 2002 và 2005, đặc biệt là 2002, tốc độ tăng thu rất cao, cao hơn
nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, có những năm như 2001 và
2003, tốc độ tăng thu ngân sách lại thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Hình 2: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng thu ngân sách
Nguyên nhân sự biến động này ngoài yếu tố kinh tế, còn do trong những
năm qua đã có khá nhiều thay đổi về cơ chế chính sách thu, nhằm hoàn thiện và
đi vào ổn định trong những năm hội nhập sắp tới. Chính vì vậy, nếu loại bỏ sự tác
động của các cơ chế chính sách, thì thu ngân sách thành phố giai đoạn qua không
thể đạt được con số bình quân 13,24%/năm như hiện nay. Điều đó cũng có nghĩa,
thực chất công tác thu ngân sách còn chưa đúng với tiềm năng (tốc độ phát triển
kinh tế hàng năm đạt trung bình 11,3%).
2. Kết quả thu NSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội chia theo từng khoản
mục
Trong nghiên cứu về mức thu ngân sách, thông thường chúng ta rất quan
tâm đến tỷ lệ động viên từ GDP vào NSNN, đánh giá mức độ phù hợp trong cơ
cấu các nguồn thu. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu công tác thu ngân sách
của thành phố Hà Nội, do giới hạn phạm vi lãnh thổ không đồng nhất với giới
hạn các nguồn thu. Ví dụ, nhiều công ty, doanh nghiệp nhà nước tuy không nằm
trên địa bàn Hà Nội, cũng có nghĩa hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
đó không được tính vào GDP thành phố, nhưng lại đóng thuế trên địa bàn, do
vậy là một nguồn thu của ngân sách nhà nước. Vì thế, luận văn không lấy tỷ lệ
động viên GDP vào ngân sách để đánh giá công tác thu. Tính hợp lý trong cơ
cấu nguồn thu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như quan điểm giải quyết mối
bàn, số thu đạt bình quân 10392 tỷ đồng, tăng 86,68% so với giai đoạn 1996-
2000, với tốc độ tăng hàng năm 12,68%, ít biến động và là nguồn thu cơ bản, có
tính chất bền vững. Thu nội địa bao gồm các khoản: thu từ hoạt động xuất nhập
khẩu, thu từ phí và lệ phí, thu từ nhà và đất, và nhiều khoản thu khác. Mỗi
khoản thu có những đặc điểm, tính chất khác nhau, nên việc quản lý, thực hiện
công tác thu đối với mỗi khoản cũng có những đặc trưng riêng. Trong các khoản
thu đó, thu từ hoạt động sản xuất được xem như quan trọng nhất và gắn với sự
phát triển kinh tế. Hình dưới đây cho thấy cơ cấu thu NSNN trên địa bàn.
Nguồn: Tính toán từ Báo cáo Quyết toán ngân sách thành phố hàng năm
- Thu từ hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu 5 năm qua đạt 7737,9 tỷ đồng,
trung bình mỗi năm thu 1547,6 tỷ đồng, chiếm 12,3% tổng thu ngân sách.
Khoản thu từ xuất nhập khẩu là tương đối lớn, đặc biệt đối với một nước có kim
ngạch xuất khẩu cao như Việt Nam. Mặc dù có ý nghĩa rất quan trọng và là
khoản thu không hề nhỏ, nhưng đây là khoản thu chịu biến động lớn của giá cả
quốc tế. Những năm qua giá cả thế giới biến động mạnh do sự tác động của
chiến tranh Trung Đông, (chiến tranh Irac, sự đối đầu của các phe đối lập trong
đó có Mỹ và các nước xuất khẩu dầu mỏ như Iran, Irac...). Điều đó lý giải một
phần vì sao thu từ xuất nhập khẩu 5 năm qua mặc dù đạt tốc độ tăng bình quân
6,1%/năm mà năm 2001 và 2005 thu từ khu vực này giảm và do vậy không
tương xứng với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 19%, tăng kim ngạch nhập
khẩu 18%.
Bên cạnh lý do khách quan là sự biến động của giá cả quốc tế, có thể
thấy, ngành Hải quan trong những năm vừa qua mặc dù đã có nhiều cố gắng vẫn
chưa hoàn thành tốt công việc. Nạn buôn lậu vẫn diễn ra thường xuyên và thủ
đoạn ngày càng tinh vi. Đặc biệt, trong 5 năm qua, ngành Hải quan cũng đã có
nhiều nỗ lực cải cách hành chính trong khâu làm thủ tục, nhưng kết quả còn
nhiều hạn chế. Nhìn chung có thể đánh giá thu từ xuất nhập khẩu 5 năm qua đạt
khá.
- Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh đặt trong mối tương quan với tình
hình tăng trưởng kinh tế của từng thành phần kinh tế bao gồm: Thu từ DNNN,
199,7
5821,3
5637,3
184,0
6823,1
6610,8
212,3
Thu từ DN có vồn
đầu tư nước ngoài
619,1 779,8 904,6 1702,0 1722,6
Thu từ DN ngoài nhà
nước
348,4 395,8 543,8 669,6 840,2
Nguồn: Tính toán từ Báo cáo Quyết toán ngân sách thành phố hàng năm
Bảng 6: Tốc độ tăng thu NSNN trên địa bàn từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Đơn vị %
2001 2002 2003 2004 2005
Tổng thu từ HĐ
SXKD
7,98 34.77 3.98 9.45 11.56
Thu từ DNNN
Trong đó: Từ DNNN
TƯ
Từ DNNN
DP
6,29
11,06
40,31
-14
-0,9