TCNCYH 34 (2) - 2005
111
Thực trạng dịch vụ t vấn HIV/AIDS tại thành phố
Hà nội và những kiến nghị.
Đào Thị Minh An
1
, Hoàng Thủy Long
2
. Nguyễn Trần Hiển
1
(
1
)Bộ môn Dịch tễ - Trờng Đại học Y Hà Nội
(
2
)Viện vệ sinh dịch tễ Trung ơng
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ngang với mục đích thăm dò nhu cầu, việc sử dụng
dịch vụ t vấn HIV/AIDS và thực trạng hoạt động t vấn tại các cơ sở t vấn HIV/AIDS
tại thành phố Hà nội. Thông tin đợc thu thập bằng bộ câu hỏi điều tra, thảo luận nhóm
từ 8 nhóm đối tợng có hành vi có nguy cơ hoặc có những vấn đề liên quan mật thiết tới
HIV/AIDS; phỏng vấn sâu cán bộ trực tiếp làm t vấn và quan sát trực tiếp tại các cơ sở
t vấn.
Nhu cầu sử dụng dịch vụ t vấn HIV/AIDS trong 8 nhóm đối tợng điều tra là thấp
(45,7%). Trong số có nhu cầu mới chỉ có 41,6% đã sử dụng dịch vụ. Những nhóm sử
dụng dịch vụ chính là ngời nhiễm và ngời nhà của ngời nhiễm. Nguyên nhân của
việc sử dụng dịch vụ thấp từ phía ngời sử dụng dịch vụ là nhận thức về nguy cơ nhiễm
HIV/AIDS cha cao. Đối với phía cung cấp dịch vụ là những bất cập trong mô hình, tổ
chức, đầu t cho hoạt động dẫn đến dịch vụ cha đảm bảo khả năng tiếp cận cũng nh
yêu cầu cần thiết cho ngời sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao nhận
thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của ngời dân là rất cần thiết. Việc tổ chức lại dịch vụ
chơng trình phòng chống HIV/AIDS. T
vấn HIV/AIDS với vai trò hỗ trợ tâm lý và
phòng lây nhiễm cho cá nhân và cộng
đồng đợc coi là nhiệm vụ trọng tâm để
thực hiện ba mục tiêu trên [3]. Việt Nam,
theo số liệu báo cáo của Uỷ ban quốc gia
phòng chống AIDS cũng nh báo cáo của
chơng trình giám sát tại 20 tỉnh trọng
điểm cho thấy dịch ngày càng gia tăng.
Hội nghị toàn quốc về công tác phòng
chống HIV/AIDS đã nêu ra những tồn tại
TCNCYH 34 (2) - 2005
chính dẫn đến sự gia tăng này đó là:
Thông tin Giáo dục Truyền thông
cha đi vào chiều sâu; Việc quản lý T
vấn ngời nhiễm còn nhiều lúng túng;
Cha có phơng án chỉ đạo cụ thể về nội
dung hoạt động và đào tạo cán bộ t vấn
[4]. Hà nội là một trong 10 tỉnh có số
nhiễm HIV cao nhất trong cả nớc. Tính
tới thời điểm 22/7/1999 cả 12 quận huyện
của thành phố đã có báo cáo về ngời
nhiễm HIV và tổng số nhiễm của toàn
thành phố là 727 trờng hợp. Mặc dù
công tác t vấn đã đợc triển khai tại 31
cơ sở Y tế của thành phố nhng theo số
liệu báo cáo thì trung bình chỉ có 11 lợt
t vấn/ một cơ sở/ tháng [5]. Việc sử dụng
dịch vụ t vấn HIV/AIDS thấp nh vậy có
thể do nguyên nhân từ phía cung cấp
1.1.2 Thiết kế mẫu tầng: 8 nhóm đối
tợng có nguy cơ khác nhau.
1.1.3 Chọn mẫu: Chủ định, không
ngẫu nhiên.
1.1.4 Cỡ mẫu
()
NZ
PQ
d
=
2
2
12
/
N: Cỡ mẫu
Z: 1,96 với độ tin cậy = 95%
P: Tỷ lệ % có nhu cầu sử dụng
dịch vụ: 50%
Q: Tỷ lệ % không có nhu cầu sử
dụng dịch vụ: 100% - P
d: Độ chính xác mong muốn
Giá trị d lấy bằng 11% của P
d = 5,5%
Cỡ mẫu tổng: N = 318x2 + 64 =
700ặ n = 88
1.1.5 Công cụ thu thập số liệu
- Bộ phiếu điều tra nhu cầu sử
dụng dịch vụ t vấn.
yếu tố liên quan
1.1 Nhu cầu và sử dụng
113
Hình 1: Phân bố nhu cầu và sử dụng dịch
vụ theo nhóm
Nhu cầu sử dụng dịch vụ chung là
45,7% và có sự khác biệt giữa các nhóm
có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Nhóm có
nhu cầu sử dụng dịch vụ cao nhất là
nhóm nhiễm HIV và nhóm mãi dâm. Qua
thảo luận nhóm cho thấy trừ những đối
tợng không có hành vi và các vấn đề
liên quan với HIV/AIDS thì nguyên nhân
chính của việc cha có nhu cầu sử dụng
là:
- Cha hiểu biết hoặc hiểu cha đúng
nghĩa về t vấn HIV/AIDS.
- Cha nhận thức đợc nguy cơ nhiễm
HIV/AIDS của bản thân và cộng đồng.
- Đối với những ngời đã có nhu cầu
nhng cha sử dụng dịch vụ nguyên
nhân là:
- Sợ lộ bí mật
69.8
38.4
68.6
21.2
38
L
an
g
t
han
g
M
a tuý
H
oa l
i
ễu
Si
n
h
viên
Lái
x
e
Tổn
g
Tỷ lệ %
Có nhu cầu
Đã sử d
ụ
n
g
- Không tiếp cận đợc dịch vụ
- Cha tin tởng tuyệt đối vào dịch vụ
- Cha hiểu đợc vai trò của bản thân
đầy đủ
149 31 10.73 0.01 2.5
Hình 2: Phân bố kiến thức và nhận thức
theo nhóm
Trừ nhóm nhiễm HIV nhận thức cao
hơn kiến thức. Bảy nhóm còn lại kiến thức
cao hơn nhận thức.
Hình 3: Phân bố hành vi có nguy cơ và
nhận thức theo nhóm
Nhóm mãi dâm và nhóm lái xe hành vi
nguy cơ không cao (17,2% và 4,5%)
nhng nhận thức về nguy cơ nhiễm rất
cao (51,8% và 74,4%).
57
68.5
55.8
74.3
53.2
57.6
89
63
96.5
11.5
17.6
44.3
18.3
17.1
Hoa liễu
Sinh viê
n
Lá
i
x
e
Tổng
Có kiến
thức
Nhận
thức dễ
nhiễm
2. Thực trạng dịch vụ t vấn HIV/AIDS
114
2.1. Mô hình tổ chức 41.8
1
18.6 18.5
d
âm
an
g
tuý
l
iễu
viên
xe
La
ng
t
h
Ma
Ho
a
Sinh
Lái
Tổng
Hành vi
Nhận
thức dễ
nhiễm
Uỷ ban quốc gia
phòng chống AIDS
Uỷ ban AIDS thành phố
Tuyến quận huyện
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức hoạt động t vấn tại thành phố Hà Nội.
Hoạt động t vấn đợc chia thành 2 tuyến: Thành phố và Quận huyện. Đơn vị làm t
vấn là những đơn vị có chức năng xét nghiệm phát hiện HIV/AIDS của thành phố.
2.2 Đầu t cho hoạt động t vấn
Bảng 3: Đầu t cho hoạt động t vấn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí
Bố trí cơ sở t vấn Tuyến thành phố Tuyến quận huyện Tổng
Có phòng t vấn riêng biệt 0/3 7/9 7/12
Phòng xét nghiệm và phòng t
vấn liền nhau
3/3 6/9 9/12
Diện tích đủ rộng 0/3 5/9 5/12
Đảm bảo bí mật cho cuộc t
vấn
0/3 6/9 6/12
T vấn tại phòng t vấn 0/3 6/9 6/12
Địa điểm dễ tìm 3/3 7/9 10/12
Có biển hiệu ghi rõ: Xét
nghiệm và t vấn HIV/AIDS
0/3 7/9 7/12
Tổ chức và đầu t trang thiết bị, kinh phí
Có nội qui 0/3 1/9 1/12
Có sổ sách ghi chép 0/3 0/9 0/12
Đầu t kinh phí 0/3 0/9 0/12
Có địa chỉ cụ thể 1/3 0/9 1/12
Cha có sự đồng bộ trong tổ chức các
phòng t vấn. Kinh phí và trang thiết bị
đầu t cha có gì.
2.3. Đội ngũ cán bộ
Bảng 4: Đầu t đội ngũ cán bộ t vấn
Đối tợng Đa dạng Nghiện chích
TCNCYH 34 (2) - 2005
Ngời nhiễm
HIV
Ngời thân
Số lợt t vấn
trung
bình/tháng
Tại cơ sở 20 - 60 10 15
Qua điện
thoại
20 5
Tại gia đình
Đ
ối tợng trong
diện QCT đợc
thăm tại gia
đình 1
tháng/lần
116
41%
59%
Cung cấp
thông tin một
chiều
Trao đổi hai
chiều
30%
Hình 6: Hỗ trợ sau t vấn Hình 7: Hiệu quả sau t vấn
IV. Bàn luận
1 Nhu cầu, sử dụng dịch vụ và các
yếu tố liên quan
Kết quả cho thấy cả tám nhóm đối
tợng nghiên cứu đều đã có nhu cầu sử
dụng dịch vụ t vấn HIV/AIDS với tỉ lệ
là 45,7%. Tỉ lệ này là cao hơn so
với tỉ lệ 20,4% có nhu cầu sử dụng dịch
vụ của cộng đồng [6]. Nhng nếu so với
đặc điểm về hành vi và kiến thức của tám
nhóm đối tợng nghiên cứu thì đây là một
tỉ lệ không cao bởi vì đối tợng nghiên
cứu là những nhóm có hành vi nguy cơ
cao và kiến thức về HIV/AIDS không cao
so với cộng đồng [7][8]. Sử dụng dịch vụ
còn thấp hơn rất nhiều. Đó là chỉ có 18%
trong tổng số đối tợng nghiên cứu và
41,6% trong số những ngời có nhu cầu
đã sử dụng dịch vụ. Trong khi đó nhóm
117
Nh vậy ngoài kiến thức của cá nhân
tác động tới nhận thức mà kết quả nghiên
cứu của chúng tôi đề cập thì yếu tố chuẩn
mực xã hội tác động tới nhận thức cũng
là một vấn đề cần đợc quan tâm thỏa
đáng.
2 Thực trạng dịch vụ t vấn tại
thành phố Hà Nội
2.1 Hiện tại thành phố có 12 cơ sở y
Lòng tin
Thái độ đối với
hành vi
Nhận thức
ý định thực hiện
hành vi
- Thứ hai, đối với cán bộ làm t vấn, sự
tách biệt này hạn chế, cản trở rất nhiều
trong liệu trình t vấn. Đó là do không
phối hợp đợc các ban ngành trong và
ngoài ngành Y tế cùng hợp tác nên việc
duy nhất cán bộ t vấn chỉ có thể tiến
hành đợc là hỗ trợ ngời sử dụng dịch
vụ trong khuôn khổ trao đổi, tháo gỡ vấn
đề, tìm hớng giải quyết. Nhng vấn đề
ngời sử dụng quan tâm hơn là hỗ trợ sau
t vấn để thực hiện đợc các giải pháp đề
ra sau t vấn hoàn toàn không có. Đây là
một trong những nguyên nhân dẫn đến
Thực hiện hành vi
TCNCYH 34 (2) - 2005
118
43% ngời sử dụng dịch vụ đánh giá t
vấn không có hiệu quả mà chúng tôi sẽ
bàn luận thêm ở phần sau.
2.2 Tổ chức và đầu t của hoạt
động t vấn HIV/AIDS chúng tôi thấy
có những vấn đề sau:
- Thứ nhất, về mặt tiếp cận dịch vụ:
cán bộ t
vấn là kiêm nhiệm nên đội ngũ
không ổn định, cha đợc đào tạo chính
qui cơ bản, không có những qui định, chế
độ thích hợp sẽ là những yếu tố ảnh
hởng tới sự nhiệt tình và say mê với
công việc của ngời làm công tác này.
Nh vậy có thể thấy hiện tại tổ chức
dịch vụ t vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà
Nội cha đáp ứng đợc năm yêu cầu về
dịch vụ t vấn HIV/AIDS của Tổ chức y tế
thế giới khuyến cáo:
- Đảm bảo khả năng tiếp cận tối đa
cho ngời sử dụng dịch vụ.
- Đảm bảo về mặt thời gian của cuộc
t vấn và qui trình t vấn.
- Đảm bảo sự tin cậy từ phía ngời sử
dụng dịch vụ đối với cán bộ t vấn.
- Đảm bảo sự thông cảm và chân
thành của cán bộ t vấn với ngời sử
dụng dịch vụ.
- Đảm bảo thông tin chính xác, thống
nhất và cập nhật.
Đây cũng chính là những tồn tại chung
của hoạt động t vấn tại Thái lan [12].
Chính vì những bất cập trên nên kết quả
điều tra định lợng cho thấy hình thức chủ
yếu chính của t vấn HIV/AIDS hiện nay
70% là cung cấp thông tin một chiều. Chỉ
có 30% t vấn hai chiều. Phỏng vấn sâu
119
V. Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu và bàn luận,
chúng tôi đa ra những kết luận dới đây:
1. Nhu cầu sử dụng dịch vụ t vấn
HIV/AIDS tại thành phố Hà Nội là thấp
(45,7%)
Nguyên nhân chính là:
- Thiếu hiểu biết về t vấn HIV/AIDS
của ngời dân.
- Cha nhận thức đợc về nguy cơ
nhiễm HIV/AIDS của cá nhân và cộng
đồng.
2. Việc sử dụng dịch vụ t vấn
HIV/AIDS tại thành phố Hà Nội là rất
thấp (18%).
Nguyên nhân chính cha sử dụng
đợc dịch vụ do cung cấp dịch vụ:
- Cha đảm bảo khả năng tiếp cận về
mặt thông tin, tính bí mật, độ tin cậy.
- Cha đảm bảo chất lợng về qui trình
t vấn, độ tin của cán bộ t vấn với ngời
sử dụng, thông tin cha đầy đủ, nhất
quán và cập nhật
- Thiếu hỗ trợ sau t vấn
3. Một trong những yếu tố quyết
định nhu cầu và sử dụng dịch vụ là
nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS
của cá nhân và cộng đồng. Quá trình
việc giải quyết các khó khăn giúp đối
tợng thực hiện đợc giải pháp lựa chọn
trong t vấn.
Tài liệu tham khảo
1. UNAIDS. AIDS epidemic update:
December 1998. P1
2. Bùi Hiền. Điều trị HIV/AIDS, vấn đề
cần đợc trao đổi. AIDS và cộng đồng,
Số 4/1999. Uỷ ban quốc gia phòng chống
AIDS.
3. Nguyen Tran Hien, Hoang Thuy
Long, Phan Kim Chi, Walter Devilé,
TCNCYH 34 (2) - 2005
120
Erik J.C Van Ameijden, & Ivan
Wolffers. (1999) HIV monitoring in
Vietnam: System, Methodology, and
result of sentinel surveilance. Journal of
Acquired Immune Deficiency Syndrome,
21 (4), 338-346
4. Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS
Việt Nam. Hội nghị toàn quốc về công
tác phòng chống HIV/AIDS Đà nẵng, 6-
7/3/1998. Tr6.
5. Ban AIDS thành phố Hà Nội. Báo cáo
hoạt động phòng chống AIDS năm 1998
và kế hoạch hoạt động năm 1999. Hà
Nội. 1/1999.
6. Lê Vũ Anh và cộng sự. Nghiên cứu sự
tìm các giải pháp chăm sóc về mặt tinh
thần ngời nhiễm HIV. (Đề tài TK01). Hà
Nội 11-12/1997. Uỷ ban quốc gia phòng
chống AIDS Việt Nam. Tr2-5.
12. Sukhontha et al. 25
th
summer
seminar on population workshop on
evaluating policy implication of the
HIV/AIDS Epidemic in Asia. June.6/1994.
P 53-54.
Abstract
The real situation of HIV/AIDS counselling services
in Hanoi and recommendations
A pilot cross-sectional study was conducted in order to identify the need and the use
of HIV/AIDS counselling services and real situation at the counselling facilities in Hanoi.
Data was obtained using a self-administered questionnaire to 8 groups of people with
risk behaviors related to HIV/AIDS. These groups also took part in group discussions.
Structured in-deep interviews with counsellors and observation at counselling facilities
were also conducted.
TCNCYH 34 (2) - 2005
121
The need for using HIV/AIDS counselling servicess was low (45,7%). Only 41,6% of
person who have need for counselling had used service. People living with HIV/AIDS
and their families were the two main groups using these services. The reason for low
utilisation was users' poor perception of HIV/AIDS infection risks. Problems from the
providers also contributed to the services: inappropriate organisation and investment.
The main findings suggest that increase of the risk perception of HIV/AIDS of individual
and community is needed. In order to increase the utilisation of community services, it