Luật phá sản Việt Nam năm 2004 - thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội và phương hướng hoàn thiện - Pdf 13



KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM NĂM 2004:
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ
NỘI VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN

Sinh viên thực hiện : Lê Hoàng Mai
Lớp : Anh 8
Khoá : 44B
Giáo viên hƣớng dẫn : GS.TS. Nguyễn Thị Mơ

3.2. Thế nào là tình trạng phá sản. 21
II. Luật phá sản Việt Nam năm 2004 24
1. Sự cần thiết phải ban hành Luật phá sản năm 2004 24
2. Những nội dung cơ bản của Luật phá sản năm 2004 26
2.1. Về đối tượng áp dụng của Luật Phá sản. 26
2.2. Điều kiện để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản 27
2.3. Thủ tục tiến hành một vụ phá sản thông thường 28 ii
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 34
I. Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng Pháp luật phá sản nói chung và luật
phá sản năm 2005 ở Việt Nam 34
1. Những thuận lợi và kết quả 34
2. Những khó khăn và bất cập. 38
2.1. Phạm vi chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản còn quá hẹp 38
2.2. Thủ tục giải quyết phá sản còn kéo dài 39
2.3. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà không nộp đơn
yêu cầu phá sản vì các quy định trong Luật phá sản năm 2004 vẫn chưa cụ thể 40
3. Nguyên nhân bất cập trong quá trình thực hiện Luật phá sản năm 2004 41
3.1 Tính khả thi của luật không cao 41
3.2 Văn bản hướng dẫn thực hiện luật còn chậm 42
II. Áp dụng Luật phá sản năm 2004 tại TP. Hà Nội 43
1. Thực tiễn áp dụng các quy định về giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản các
doanh nghiệp ở thành phố Hà Nội và những vấn đề đặt ra. 43
2. Thực tiễn thực hiện quy trình và thủ tục phá sản và những vấn đề đặt ra 47
2.1. Vướng mắc trong trường hợp không xác định được địa chỉ của doanh nghiệp
và của chủ doanh nghiệp (con nợ) khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 47
2.2. Chưa có tiêu chí cụ thể về điều kiện thụ lý đơn và ra quyết định mở hay

3. Nhóm giải pháp khác 76
3.1. Đối với Toà án 76
3.2. Tăng cường xử lý vi phạm pháp luật về kế toán 77
3.3 Tăng cường giáo dục sâu rộng mọi đối tượng trong tầng lớp nhân dân Hà Nội
về phá sản để đổi mới nhận thức 78
Kết luận 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Danh mục các chữ viết tắt

1. LPSDN 1993 : Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993
2. LPS 2004 : Luật phá sản năm 2004
3. CHLB : Cộng hoà liên bang
4. TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
5. WTO : Tổ chức thương mại Thế giới
6. GDP : Tổng sản phẩm quốc nội.
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Phá sản doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là hiện tượng tất yếu của quá
trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên để loại bỏ doanh nghiệp yếu kém,
khẳng định sự tồn tại và phát triển đối với doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Vì
những lý do khác nhau mà trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có
thể lâm vào tình trạng phá sản. Chính vì thế pháp luật phá sản là một bộ phận không
thể thiếu của pháp luật kinh doanh để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan

đề xuất phương hướng và giải pháp để Luật phá sản năm 2004 có hiệu quả hơn
trong thực tiễn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứƣ:
Đối tượng nghiên cứu của Khoá luận là: Luật phá sản nói chung và Luật phá sản
Việt Nam năm 2004 nói riêng.
Phạm vi nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu của Khoá luận giới hạn ở việc phân
tích những vấn đề phát sinh từ việc áp dụng Luật phá sản năm 2004 tại TP. Hà Nội.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: hệ thống hoá,
phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và nêu nhận xét cá nhân.
5. Kết cấu Khoá luận:
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Khoá
luận bao gồm ba chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về phá sản, pháp luật phá sản và Luật phá sản năm 2004
Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng Luật phá sản năm 2004 tại TP Hà Nội và những
vấn đề đặt ra.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường khả năng thực thi Luật phá
sản năm 2004. 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁ SẢN, PHÁP LUẬT
PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM NĂM 2004
I. Khái niệm và đặc điểm của phá sản
1. Khái niệm về phá sản
1.1 Phá sản theo các cách tiếp cận từ góc độ kinh tế
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các nền kinh tế trên thế giới
đã cho thấy rằng, phá sản ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất
định. Điều này giải thích tại sao, phá sản là hiện tượng bình thường, phổ biến trong
nền kinh tế thị trường nhưng lại rất xa lạ với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.

lỗ. Các xí nghiệp, hợp tác xã thời kỳ này hoạt động kém hiệu qủa, lãi giả, lỗ thật, nợ
nần chồng chất. Nhà nước phải giúp đỡ các doanh nghiệp này bằng cách hoãn nợ,
xoá nợ hoặc dùng các giải pháp mang tính hành chính như giải thể, sáp nhập… Vì
vậy, doanh nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế bao cấp không bị mất khả năng
thanh toán và do đó hiện tượng phá sản cũng không xảy ra.
Trong nền kinh tế thị trường, phá sản là một hiện tượng kinh tế-xã hội tồn tại
khách quan. Tính tất yếu khách quan của hiện tượng phá sản được lý giải bởi các
nguyên nhân sau:
Thứ nhất, mặc dù có đời sống ngắn dài khác nhau nhưng doanh nghiệp luôn có
một vòng đời nhất định: khởi nghiệp, tăng trưởng, phồn vinh và suy thoái. Cũng
giống như một cơ thể sống, hàng triệu tế bào liên tục được sinh ra và chết đi. Và
trong nền kinh tế thị trường hàng chục triệu doanh nghiệp được sinh ra, và trải qua
nhiều giai đoạn cũng đến lúc tàn lụi, đó là lúc doanh nghiệp phá sản. Điều này hoàn
toàn phù hợp với quy luật sinh tồn của sự vật, hiện tượng.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường là nơi diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các
nhà kinh doanh. Những doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển phải mạnh và
phải đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Điều đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải chủ động, linh hoạt nắm bắt được các quy luật kinh tế và chiếm lĩnh thị
trường. Và dĩ nhiên các công ty nhỏ, không đủ sức cạnh tranh sẽ lâm vào tình trạng
phá sản.
Một doanh nghiệp phá sản có thể do nhiều nguyên nhân, cũng có thể do nguyên
nhân chủ quan hoặc nguyên nhân khách quan tác động. Nguyên nhân khách quan
như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, động đất, hay sự xuất hiện của đối thủ cạnh
tranh…Ngoài ra, nguyên nhân chủ quan như năng lực quản lý, lãnh đạo công ty,
chiến lược kinh doanh,…nhiều khi cũng là nguyên nhân của các vụ phá sản doanh
nghiệp. 5
Phá sản bao giờ cũng kéo theo những hệ quả kinh tế-xã hội nhất định. Ví dụ, sự

Thêm vào đó, bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì luôn có
một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp do làm ăn kém hiệu quả, nợ nần chồng
chất, không thể thanh toán được các nghĩa vụ tài chính đến hạn nên buộc phải chấm
dứt sự tồn tại của mình và rút khỏi thị trường. Trong điều kiện như vậy, một vấn đề
đặt ra mà Nhà nước nào cũng phải quan tâm giải quyết là làm sao tạo điều kiện để
doanh nghiệp con nợ này rút khỏi thương trường một cách êm thấm, có trật tự và ít
gây ra hậu quả xấu cho các chủ thể có liên quan nói riêng và cho xã hội nói chung.
Muốn thực hiện được các mục tiêu này thì Nhà nước không thể đứng ngoài cuộc mà
phải can thiệp bằng cách ban hành pháp luật để xử lý một loạt các vấn đề liên quan
đến việc doanh nghiệp mắc nợ. Ví dụ, Nhà nước phải quy định khi nào và với điều
kiện gì thì một doanh nghiệp con nợ bị coi là đã lâm vào tình trạng phá sản; ai có
quyền làm đơn yêu cầu việc giải quyết phá sản; cơ quan nào trong bộ máy nhà nước
có nghĩa vụ giải quyết việc phá sản; thủ tục Toà án thụ lý và giải quyết vụ phá sản;
cơ chế quản lý tài sản của con nợ lâm vào tình trạng phá sản; thành phần, nhiệm vụ,
quyền hạn của thiết chế thực hiện việc quản lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản; tài sản phá sản gồm những gì; khi giải quyết phá sản thì có
những tài sản nào của con nợ không được đem chia cho các chủ nợ; thứ tự ưu tiên
thanh toán từ tài sản phá sản; con nợ có phải tiếp tục trả cho các chủ nợ các khoản
nợ còn thiếu chưa được trả hay không, v.v … Tất cả những vấn đề đó cần phải được
Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật mà giải quyết một cách
thấu đáo, hợp tình, hợp lý. Tổng hợp những văn bản pháp luật này tạo thành một
lĩnh vực pháp luật được gọi là pháp luật về phá sản mà xương sống của nó là Luật
Phá sản. Tóm lại, vì có phá sản nên phải có pháp luật về phá sản và pháp luật về phá
sản là tổng thể các văn bản do Nhà nước ban hành, trong đó quy định về dấu hiệu
của tình trạng phá sản; điều kiện áp dụng các thủ tục phá sản (thủ tục phục hồi, thủ
tục thanh lý); địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng phá sản; trình tự tiến
hành việc giải quyết phá sản; thứ tự ưu tiên thanh toán từ tài sản phá sản và các vấn
đề khác có liên quan đến việc giải quyết một vụ phá sản cụ thể.
Nói cách khác từ góc độ pháp luật, khi một thương gia, một doanh nghiệp bị phá
sản thì theo quy định của pháp luật Toà án sẽ tuyên bố thương gia, doanh nghiệp đó

triển kinh tế. Khi một doanh nghiệp bị phá sản thì doanh nghiệp khác là bạn hàng
của doanh nghiệp cũng phải chịu ảnh hưởng theo kiểu dây chuyền- người không 2
GS. TS. Nguyễn Thị Mơ, Hoàng Ngọc Thiết (2005), Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối
ngoại, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 115. 8
bán được hàng kẻ không cung cấp được sản phẩm (nếu doanh nghiệp bị phá sản
trước đây mua sản phẩm của mình) hoặc không có nguyên vật liệu cho sản xuất (
nếu doanh nghiệp bị phá sản là doanh nghiệp bán nguyên vật liệu cho họ)… Thêm
vào đó chủ nợ của doanh nghiệp bị phá sản không đòi được nợ dẫn đến thiếu vốn
đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc trang trải cho các khoản nợ mà họ
vay từ chủ nợ khác. Đặc biệt nếu doanh nghiệp bị phá sản là một doanh nghiệp lớn
thì sự tác động của nó tới nền kinh tế là rất tồi tệ.
Nói đến tác động tiêu cực của phá sản phải nói đến hai vụ phá sản điển hình
trong lĩnh vực tài chính, một của Nhật Bản, một của Mỹ:
Thứ nhất là trường hợp Ngân hàng SFCG (Nhật Bản) đệ đơn xin phá sản ngày
23/2/2009. Ngân hàng SFCG là ngân hàng chuyên cung cấp vốn vay cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản. Đây là vụ phá sản lớn nhất ở Nhật kể từ tháng
3/2002 sau vụ sụp đổ của nhà thầu xây dựng Sato Kogyo với số nợ 450 tỷ Yên.
Ngân hàng đang phải chịu một khoản nợ là 338 tỷ Yên, và phải đi vay nợ rất nhiều
từ các ngân hàng ngoại quốc trong đó có đại gia Citigroup. Tính tới 31/7/2008
SFCG nợ Citigroup 31 tỷ Yên. Sự phá sản Ngân hàng SFCG cũng đồng nghĩa với
việc 109 chi nhánh bị đóng cửa và 1.528 nhân viên bị mất việc
3
.
Thứ hai là vụ phá sản của Ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ đã làm chấn

các thị trường chứng khoán Pháp và Đức cũng giảm hơn 3%; chỉ số Nikkei của
Nhật đã giảm tới 4,7%; đặc biệt là thị trường Nga đã phải tạm ngừng dao dịch sau
khi chỉ số giảm tới 16%
4
. Chỉ số chứng khoán giảm mạnh đe doạ đến sự sụp đổ của
hàng loạt các công ty khác và đẩy hàng nghìn người trên toàn thế giới vào tình trạng
thất nghiệp.
2.2. Về mặt tích cực
Dưới một cách nhìn khác, phá sản cũng đem lại những ảnh hưởng tích cực đến
nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Xét về mặt kinh tế thì phá sản là một giải pháp hữu hiệu để “cơ cấu lại” nền kinh
tế, có thể ví phá sản như dọn vườn, dọn sạch cỏ dại để cây trồng phát triển. Phá sản
góp phần hình thành, duy trì sự tồn tại của những doanh nghiệp còn đủ sức đứng
vững trong điều kiện cạnh tranh nghiệt ngã. Phá sản giữ một vai trò đặc biệt quan
trọng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Phá sản góp phần loại bỏ
những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả ra khỏi nền kinh tế và giữ lại những
doanh nghiệp mà ở chúng sức cạnh tranh tốt hơn, làm ăn có lãi hơn. Thực tế đã 4
10
chứng minh rằng, trong nền kinh tế thị trường chỉ tồn tại những doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả, sự cạnh tranh bao giờ cũng đem lại kết cục nghiệt ngã cho các
doanh nghiệp yếu hơn nhưng nó lại là quy luật muôn thuở của nền kinh tế thị
trường mà ở đó lợi nhuận là trung tâm còn cạnh tranh là động lực.
Bên cạnh tác động trên, phá sản chưa phải là dấu chấm hết đối với một doanh
nghiệp. Trên thế giới đã chứng kiến nhiều nhà đầu tư thành công từ những doanh

xin bảo hộ phá sản.
Vào năm 1990, Continental lại phá sản tiếp lần nữa. Tuy nhiên, lần này, hãng
phá sản vì những lý do khác. Giá nhiên liệu tăng cao cộng với nợ nần chồng chất vì
chiến lược mua lại - “tác phẩm” của vị Chủ tịch đã phá vỡ thỏa thuận với công đoàn
cách đó gần 1 thập kỷ - đã khiến Continental không còn lựa chọn nào khác. Vài
tháng sau khi nỗ lực hết sức để thoát nguy cơ phá sản, chẳng hạn bán một số tuyến
bay quốc tế cho hãng Delta, không đem lại kết quả, Continental lại nộp đơn lên tòa
án xin tuyên bố phá sản.
Vì mục tiêu của Luật phá sản Mỹ là tái tạo lại doanh nghiệp bằng cách cho phép
doanh nghiệp, cá nhân đang ở trong tình trạng vỡ nợ có thể nộp “đơn xin bảo hộ
phá sản”. Khi đó, các doanh nghiệp cá nhân này được phép hoàn nợ trong vòng 5
năm nên với đơn xin phá sản giúp Continental tiếp tục hoạt động, một phần do tòa
án buộc các hãng hàng không là đối tác của Continental duy trì thực hiện nghĩa vụ
đối với hãng hàng không này, trong khi Continental có thể từ chối thanh toán cho
các chủ nợ. Hai năm rưỡi sau khi phá sản, Continental trở thành một hãng hàng
không độc lập và hiện là hãng hàng không lớn thứ 9 trên thế giới.
Với hai ví dụ nêu trên, có thể thấy phá sản, ở một chừng mực nhất định, do
những tác động của Pháp luật phá sản thông qua sự hỗ trợ tích cực của Toà án,
nhiều doanh nghiệp đã phục hồi hoạt động kinh doanh, được tái tạo lại tốt hơn và do
đó hoạt động hiệu quả hơn trước.
II. Pháp luật về phá sản
1. Sự cần thiết phải có pháp luật phá sản
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung do kiểm soát và định đoạt mọi nguồn
lực sản xuất, Nhà nước trở thành một xí nghiệp khổng lồ, các đơn vị kinh doanh 12
không có động lực để cạnh tranh, sự tồn tại của chúng được duy trì theo ý chí của
Nhà nước. Kinh tế bao cấp không cần tới luật phá sản. Dấu hiệu sụp đổ của mô hình
này có thể nhận thấy khi các doanh nghiệp "vượt rào", ngày càng giành lấy nhiều

ích hợp pháp của các chủ nợ.
Trong kinh doanh, việc nợ nần lẫn nhau là hiện tượng bình thường, ít doanh
nghiệp nào có thể tránh khỏi. Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên có quyền đòi nợ
thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khởi kiện ra
Toà án. Tuy nhiên, việc đòi nợ bằng con đường kiện tụng ra Toà dân sự, Toà kinh tế
nhiều khi không thể giải quyết được một cách thoả đáng quyền và lợi ích hợp pháp
của các nhà kinh doanh. Vì vậy, bên cạnh tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế với tư
cách là các thủ tục đòi nợ thông thường, Nhà nước phải thiết kế thêm một cơ chế
đòi nợ đặc biệt nữa để các chủ nợ, khi cần thì có thể sử dụng để đòi nợ, đó là thủ tục
phá sản. Tính ưu việt của cơ chế đòi nợ thông qua thủ tục phá sản là ở chỗ, việc đòi
nợ được bảo đảm bằng việc Toà án có thể tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ
và thông qua đó mà bán toàn bộ tài sản của nó để trả cho các chủ nợ. Mặc dù ngày
nay, tố tụng phá sản còn phải thực hiện thêm một số mục tiêu nữa, trong đó có mục
tiêu giúp doanh nghiệp con nợ phục hồi (tức là bảo vệ cả lợi ích của con nợ) nhưng
về cơ bản, tố tụng phá sản từ khi ra đời đến nay vẫn là loại tố tụng tư pháp được đặt
ra nhằm trước hết và chủ yếu là để bảo vệ lợi ích của các chủ nợ. Việc ưu tiên bảo
vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ đã làm cho thủ tục phá sản trở thành một công cụ
pháp lý có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư của các nhà kinh
doanh. Từ khi có Luật phá sản, các nhà kinh doanh sẽ yên tâm hơn vì các món nợ
của họ đã có một cơ chế tốt hơn để được bảo vệ.
Pháp luật phá sản Việt Nam đã thể hiện rất rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Điều này được thể hiện qua
hàng loạt các quy định pháp luật liên quan đến quyền năng của chủ nợ như: quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục giải quyết phá sản (Điều 13, LPS 2004), quyền khiếu
nại Danh sách chủ nợ (Khoản 2, Điều 52, LPS 2004), quyền có đại diện trong thiết
chế quản lý tài sản và thanh toán tài sản (Khoản 1, Điều 83, LPS 2004), quyền đề
xuất, thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ (Điều 70,71 14


15
sản của mình trước những khoản nợ có bảo đảm, tức là khi vay người vay phải thế
chấp tài sản, chẳng hạn như đất đai, của mình; Loại thứ hai được quy định tại
chương XIII cho phép cá nhân gặp rắc rối về tài chính có thể trả dần từng phần
khoản nợ trong một khoảng ân hạn từ ba đến năm năm. Đến cuối kỳ thanh toán, nếu
người vay nợ đã dùng hết thu nhập của mình để trả nợ theo kế hoạch thì số nợ còn
lại sẽ bị xóa. Loại này có thể dùng để thanh toán những khoản nợ có bảo đảm quá
hạn mà không bị mất tài sản thế chấp. Luật phá sản áp dụng cho doanh nghiệp hơi
khác một chút. Một số doanh nghiệp có thể tiếp tục kinh doanh theo quy định tại
chương XI khi họ tái cơ cấu lại các khoản nợ. Vì vậy, khác với hầu hết các quy định
về phá sản trên thế giới, luật pháp Mỹ cho phép một công ty phá sản được tiếp tục
hoạt động dưới sự lãnh đạo của đội ngũ quản lý cũ khi công ty này cố gắng tái cơ
cấu lại các khoản nợ. Nói cách khác là về mặt cơ bản thì không có sự chỉ định người
giám sát công ty. Một số người cho rằng hệ thống này, hệ thống có tên là người vay
nợ bị khống chế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm bởi nhiều
công ty vẫn được tiếp tục kinh doanh và tài sản của các công ty được bảo vệ.
Ở Việt Nam, pháp luật phá sản cũng đã được xây dựng theo khuynh hướng này.
Cụ thể là, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và gần đây là Luật Phá sản 2004 đã
không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ mà còn bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho cả doanh nghiệp mắc nợ và đặc biệt là đã không coi phá sản là
một tội phạm như quan niệm của một số nước trên thế giới. Điều này có thể thấy
qua việc pháp luật quy định hàng loạt những quyền cho doanh nghiệp mắc nợ trong
quá trình giải quyết phá sản. Chẳng hạn, kể từ thời điểm Toà án ra quyết định mở
thủ tục phá sản doanh nghiệp, tất cả quyền đòi nợ đều được đình chỉ và giải quyết
theo một thủ tục chung duy nhất do Toà án tiến hành, đồng thời nghiêm cấm việc
đòi nợ một cách riêng lẻ. Pháp luật phá sản của nhiều nước đã tạo điều kiện tối đa
cho doanh nghiệp mắc nợ khắc phục khó khăn về tài chính, thoát khỏi tình trạng
phá sản để trở lại hoạt động bình thường, mà không quy định bắt buộc Toà án phải
tuyên bố phá sản ngay khi có đơn yêu cầu. Ngay sau khi ra quyết định mở thủ tục

Và đây là điểm mà pháp luật phá sản của Việt Nam đặc biệt đưa ra nhiều các
quy định. Ví dụ, Điều 14 LPS 2004 quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản của người lao động “Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được
lương, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác 17
xã lâm vào tình trạng phá sản thì người lao động cử người đại diện hoặc thông qua
đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã đó.”
2.2.4. Pháp luật phá sản góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Theo lẽ thường, khi mà con nợ có quá nhiều chủ nợ nhưng lại có quá ít tài sản
để thanh toán nợ thì việc các chủ nợ tranh giành nhau tài sản của con nợ là điều rất
có thể xảy ra. Nếu cứ để các chủ nợ “mạnh ai nấy làm”, tuỳ nghi “xiết nợ”, tự do
tước đoạt tài sản của con nợ một cách vô tổ chức, không công bằng thì trật tự, an
toàn xã hội sẽ không được bảo đảm. Vì vậy, Nhà nước nào cũng cần phải có biện
pháp để can thiệp vào việc đòi nợ này nhằm tránh được các hệ quả tiêu cực như vừa
nêu trên. Thủ tục phá sản chính là một công cụ pháp lý có khả năng giúp Nhà nước
đưa ra được nhiều cơ chế để thực hiện được việc thanh toán nợ một cách công bằng
giữa các chủ nợ. Căn cứ vào pháp luật phá sản, Toà án sẽ thay mặt Nhà nước đứng
ra giải quyết một cách công bằng, khách quan mối xung đột về lợi ích giữa các chủ
nợ và con nợ và điều đó sẽ góp phần đảm bảo trật tự, an toàn trong xã hội.
Theo LPS 2004, Toà án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền
giải tiến hành thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã. Khi mở thủ tục
phá sản, Tổ quản lý và thanh lý tài sản được thành lập để làm nhiệm vụ quản lý
thanh lý tài sản, Hội nghị chủ nợ cũng đuợc thành lập để đảm bảo công bằng quyền
lợi của chủ nợ.
2.2.5. Pháp luật phá sản góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế
Cùng với những pháp luật kinh tế khác, pháp luật phá sản cũng góp phần làm
lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả

nhau. Ví dụ, ở Việt Nam, ngoài các cơ quan nhà nước còn có các tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; ngoài thương nhân (doanh
nghiệp và hộ kinh doanh cá thể) còn có các công dân nợ tiền của người khác mà
không thể thanh toán đúng hạn được. Vấn đề đặt ra là, tất cả các cá nhân, tổ chức,
cơ quan như vừa nêu trên có thể bị tuyên bố phá sản hay không, nghĩa là đối tượng
áp dụng của Luật phá sản bao gồm những ai. Ở Việt Nam, Luật phá sản doanh 19
nghiệp năm 1993 và Luật Phá sản năm 2004 đã coi vấn đề này là hết sức quan trọng
nên đã được đưa ra để xử lý ngay trong những điều khoản đầu tiên của luật (Điều 1
Luật PSDN 1993; Điều 2 LPS 2004) và cách xử lý cũng khác nhau.
Hiện nay, phạm vi áp dụng của Luật phá sản ở các nước khác nhau được quy
định là khác nhau. Lý do của sự quy định khác nhau này thì có nhiều, nhưng cơ bản
nhất là do điều kiện kinh tế - xã hội và năng lực hoạt động của Toà án ở các nước là
không giống nhau. Những nước mà ở đó kinh tế kém phát triển, kinh nghiệm giải
quyết phá sản chưa nhiều, văn hoá pháp lý của các nhà kinh doanh chưa cao, bộ
máy Toà án chưa đủ tầm về con người và trang thiết bị làm việc thì chắc chắn sẽ
không thể mở rộng phạm vi áp dụng của Luật Phá sản như ở các nước tiên tiến.
Cũng chính vì lý do đó mà hiện nay nhìn chung, trên thế giới có 3 cách xử lý vấn đề
về phạm vi áp dụng của Luật phá sản.
Theo cách thứ nhất, pháp luật phá sản chỉ áp dụng cho các chủ thể kinh doanh
(thương nhân), bao gồm thương nhân là pháp nhân (các công ty) và thương nhân là
thể nhân (cá nhân kinh doanh). Ví dụ: ở Latvia, thủ tục phá sản được áp dụng đối
với các doanh nghiệp (khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm
tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh)
5
. Ở CHLB Nga, trước năm 2002, theo hai
đạo luật của CHLB Nga là Luật Mất khả năng thanh toán (Phá sản) Xí nghiệp năm
1991 và Luật Mất khả năng thanh toán (Phá sản) năm 1998 thì việc phá sản cũng

không trả được các món nợ đến hạn thì việc đòi nợ và trả nợ sẽ được thực hiện theo
cơ chế thông thường tức là đòi nợ thông qua tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế. Cụ
thể, Luật phá sản năm 2004 quy định đối tượng áp dụng Luật phá sản là “doanh
nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ( hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã gọi
chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”
(Điều 2, LPS 2004). Ngoài Việt Nam, còn có Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào là
nước thứ hai cũng có cách quy định hẹp như vậy về phạm vi áp dụng của Luật Phá
sản.
Theo cách thứ ba, tuyên bố phá sản không chỉ được áp dụng cho tất cả các loại
hình thương nhân (pháp nhân, cá nhân kinh doanh) mà còn cho cả cá nhân người
tiêu dùng. Sự mở rộng một cách tuyệt đối phạm vi áp dụng của Luật Phá sản như
vậy là nét đặc trưng trong Luật Phá sản một số nước tư bản phát triển như Nhật
Bản, Thuỵ Điển, CHLB Đức. Cụ thể:
+ Luật Phá sản Nhật Bản năm 2000 (đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần) quy
định “Bất kỳ một cá nhân hay một công ty nào, dù mục đích của nó có vì lợi nhuận
hay không để có thể trở thành chủ thể của phá sản” (trang 9, Chương 25 LPS Nhật
Bản). Tuy nhiên, các pháp nhân không phải là công ty mà có tính chất công như
Chính phủ trung ương và chính quyền địa phương thì không thuộc sự điều chỉnh
của thủ tục phá sản do bản chất công rất lớn của chúng.

Trích đoạn Những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản Dự báo xu hƣớng doanh nghiệp bị tuyên bố phá sả nở TP Hà Nội trong thờ Bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản Nhóm giải pháp đối với Thành phố Hà Nội Tăng cường xử lý vi phạm pháp luật về kế toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status