LUẬN VĂN: Thực tiễn áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Thực tiễn áp dụng pháp luật và phương
hướng hoàn thiện những quy định của pháp
luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lao động có ích của mỗi người là nguồn gốc tạo ra của cải xã hội. Song để biến lao
động thành một hoạt động tự giác, phát huy được tính năng động, sáng tạo của người lao
động thì xã hội phải quan tâm tới lợi ích của họ. Chính vì thế chế định quyền sở hữu nói
chung và chế định quyền thừa kế nói riêng ra đời là một trong những phương thức pháp lý
cần thiết để bảo toàn và gia tăng tích lũy của cải trong xã hội. Về mặt tâm lý cá nhân
không chỉ muốn mình có quyền năng đối với khối tài sản của mình khi còn sống, mà còn
muốn chi phối nó ngay cả khi đã chết. Vì vậy, Nhà nước đã công nhận quyền thừa kế của
cá nhân đối với tài sản, coi thừa kế là một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu. Điều
này không chỉ có tác dụng kích thích tính tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng mà còn tạo

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, phân tích, kiến nghị để làm sáng tỏ một số
vấn đề lý luận về diện và hàng thừa kế trong chế định thừa kế theo pháp luật là một đòi hỏi
tất yếu, khách quan cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế.
2. Tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng của vấn đề thừa kế nên nội dung này đã được rất nhiều nhà
khoa học pháp lý quan tâm, nghiên cứu. Tiến sĩ Phùng Trung Tập đã giới thiệu với bạn
đọc tác phẩm "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 từ trước đến
nay"; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện là tác giả của cuốn "Bình luận khoa học về thừa kế trong
Bộ luật dân sự Việt Nam"; Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Thanh - Trần Hữu Biền có tác
phẩm "Hỏi đáp về pháp luật thừa kế". Ngoài ra, còn có nhiều bài viết về đề tài này được
đăng tải trên các sách báo, tạp chí. Đặc biệt hơn, còn có rất nhiều các cử nhân, học viên
chọn nội dung này làm đề tài cho các luận văn tốt nghiệp của mình.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng, mang tính toàn diện, bao
quát cả chế định pháp luật về thừa kế, và đưa ra những kiến nghị để ngày càng hoàn thiện
hơn hệ thống pháp luật về thừa kế. Riêng với đề tài " Diện và hàng thừa kế theo pháp luật
dân sự Việt Nam ", tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản chất của
diện và hàng thừa kế được quy định trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trên cơ sở đó
đưa ra một số kiến nghị mang tính giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn những quy định
về nội dung này trong luật.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, nội dung, bản chất quy định của
pháp luật về quyền thừa kế nhằm làm sáng tỏ diện và hàng thừa kế. Khi nghiên cứu đề tài,
tác giả đã tham khảo toàn bộ các quy định của nước ta về diện và hàng thừa kế gắn với
từng giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước, đồng thời nghiên cứu pháp luật của một số
nước trên thế giới cũng như các sách chuyên khảo và những tài liệu liên quan đến vấn đề
này.
4. Phương pháp nghiên cứu

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về thừa kế.
Chương 2: Diện và hàng thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện những quy
định của pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế.
Chương 1
Khái quát chung về thừa kế

1.1. Khái niệm chung
1.1.1. Thừa kế và quyền thừa kế
Một trong những yếu tố để đánh giá sự vững mạnh của một quốc gia đó chính là
sự bảo hộ của Nhà nước về các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như việc kết
hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Trên tinh thần đó, quyền thừa kế là
một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ. Điều 58 Hiến pháp năm
1992 của Việt Nam quy định "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế
của công dân".

xã hội phát sinh ngay cả khi xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và pháp
luật, thì quyền thừa kế lại là một quan hệ pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội đã
phân chia giai cấp và dẫn tới sự ra đời của nhà nước.
Quyền thừa kế được xem xét rất nhiều góc độ. Với tính chất là một chế định pháp
luật dân sự, quyền thừa kế bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người
chết sang cho người khác còn sống theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định do pháp
luật quy định. Đồng thời, quy định quyền và nghĩa vụ cũng như các phương thức bảo vệ
các quyền và nghĩa vụ đó của những chủ thể trong quan hệ thừa kế.
Với tính chất là một quyền năng dân sự, quyền thừa kế là những quyền năng cụ
thể của chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế và nhận di sản thừa kế. Đó là những khả
năng mà các chủ thể được phép xử sự theo quy định của pháp luật: Được để lại di sản thừa
kế như thế nào, việc lập di chúc phải tuân thủ những yêu cầu gì, ai là người được nhận di sản
thừa kế, khi nào thì bị tước quyền hưởng di sản thừa kế Trong các quan hệ về thừa kế,
các chủ thể chủ động hiện thực hóa những quyền năng đó để biến nó thành những quyền
dân sự cụ thể qua đó đáp ứng được nhu cầu và thực hiện được lợi ích cho bản thân mình.
Nói tóm lại, quyền thừa kế là một chế định của Luật dân sự, bao gồm tổng hợp các
quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người khác còn sống dựa trên
cơ sở ý chí của người để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật.
ở mỗi một chế độ khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu, thông qua
pháp luật, nhà nước quy định một chế định thừa kế và coi đó là một phương tiện để bảo vệ
quyền lợi cho các cá nhân cũng như quyền lợi của giai cấp lãnh đạo xã hội.
Trong nhà nước chủ nô, quyền để lại thừa kế về nô lệ của giai cấp chủ nô là sự
chuyển lại quyền sở hữu đối với những "công cụ biết nói" và cũng chính là sự truyền lại
quyền lực chính trị để duy trì sự áp bức bóc lột của giai cấp chủ nô đối với nô lệ.
Trong nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản, giai cấp bóc lột luôn sở hữu

tầm khái quát cao, không dùng phương pháp liệt kê bao gồm những tài sản gì như những
quy định trước đây. Bởi lẽ, quyền tài sản đã nằm trong khái niệm tài sản được quy định tại
Điều 163 BLDS: "Tài sản bao gồm vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [9].
Như vậy, di sản là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người
đã chết cũng như các quyền về tài sản của người đó bao gồm:
- Tư liệu sinh hoạt.
- Tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được dùng làm đồ trang sức hoặc dùng làm
của cải để dành, tiền tiết kiệm ngân hàng, tiền lương, tiền thưởng chưa lĩnh.
- Nhà ở thuộc sở hữu của người chết.
- Vốn, cổ phần, vật tư, tư liệu sản xuất của người chết.
- Tài liệu, dụng cụ máy móc của người làm công tác nghiên cứu.
- Cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng lợi trên đất đó.
- Các quyền về tài sản đó là quyền đòi nợ đồ vật đã cho mượn, cho thuê, chuộc lại
tài sản đã cầm cố, quyền đối với tài sản đã thế chấp, đã bồi thường thiệt hại về tài sản,
hưởng những quyền lợi của tác giả hoặc chủ sở hữu văn bằng, bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp, quyền tác giả đối với tác phẩm. Tuy nhiên, quyền tài sản gắn với nhân thân của
người chết như tiền cấp dưỡng, tiền lương hưu không được coi là di sản thừa kế.
- Theo quy định của pháp luật, để khắc phục những rủi ro xảy ra cá nhân có thể
mua bảo hiểm cho bản thân mình. Trên cơ sở đóng phí bảo hiểm và khi có sự kiện bảo
hiểm thì cơ quan bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm dựa trên mức đóng phí bảo hiểm. ở
loại hình bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm tuổi thọ của con người và khi người đó
chết sẽ được hưởng số tiền bảo hiểm đó. Và lúc này số tiền bảo hiểm trở thành một phần
trong tổng tài sản của người chết để lại cũng là di sản thừa kế.
- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản với người khác. Sự phát triển của
đời sống xã hội khiến cho tài sản của mỗi người càng trở nên phong phú và đa dạng hơn.
Ngoài tài sản riêng có được do thu nhập hợp pháp, của để dành hoặc do được thừa kế thì
một loại tài sản nữa của người chết là một phần tài sản của người này trong khối tài sản

được một kết quả nhất định.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp và có liên quan đến nhiều vấn đề khác trong
quan hệ thừa kế mà chỉ được quy định trong một điều luật nên khi nghiên cứu cũng như khi
xét xử phải đặt nó trong mối liên hệ biện chứng với các quy phạm pháp luật khác liên quan
trực tiếp đến việc xác định và phân chia di sản.
Bởi vậy, việc xác định quyền sở hữu của một người để từ đó xác định di sản khi
người đó chết còn gặp nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
1.1.3. Người để lại di sản thừa kế
Quyền để lại thừa kế là một quyền cơ bản của cá nhân được pháp luật Việt Nam
ghi nhận và bảo hộ. BLDS năm 2005 quy định rõ: "Cá nhân có quyền lập di chúc để định
đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật" (Điều
631) và "Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác"
(Điều 632) [9].
Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu của mọi công dân đối với những thu nhập hợp pháp
của mình. Theo đó bất kỳ ai cũng có quyền quyết định đối với số phận của các loại tài sản
thuộc quyền sở hữu riêng của mình. Vì thế cá nhân có quyền lập di chúc cho người khác
hưởng tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của mình sau khi mình chết, nếu không có di chúc
tài sản này thì chia theo pháp luật.
Như vậy, BLDS năm 2005 ghi nhận quyền định đoạt tài sản của người chết thông
qua việc lập di chúc để chỉ định thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. Phần
lớn những người được hưởng thừa kế theo di chúc là những người có quan hệ thân thiết
với người lập di chúc như: Cha, mẹ, vợ, chồng, con. Tuy nhiên, pháp luật cho phép người
lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, vì thế họ có quyền chỉ định bất cứ ai có thể là
cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế theo quy định của pháp luật, thậm chí cũng có thể là
nhà nước hoặc tổ chức nào đó. Ngoài ra, pháp luật về thừa kế còn cho phép người lập di
chúc được truất quyền hưởng di sản của một người thừa kế nào đó cho dù họ có đủ các
điều kiện để có thể thừa kế tài sản theo pháp luật.

định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch quy định: nếu
thai nhi sinh ra chết sau một ngày vừa phải khai sinh và vừa phải khai tử. Trường hợp chết
trong vòng một ngày không phải khai sinh và khai tử. Do vậy, có thể coi trường hợp này
nhà nước chưa quản lý về hộ tịch của đứa trẻ dưới một ngày. Như vậy có thể hiểu rằng,
đứa trẻ sinh ra sau một ngày thì coi như là còn sống.
Có quan điểm cho rằng, một đứa trẻ sinh ra phải có những căn cứ pháp lý, đó là
giấy khai sinh mới được coi là một cá nhân trong xã hội. Thực tế, ở nhiều gia đình do
không có điều kiện nên chưa làm giấy khai sinh được thì đứa trẻ sinh ra được coi là một cá
nhân trong xã hội hay chưa? Có được thừa kế hay không? Thông thường một đứa trẻ cất tiếng
khóc chào đời đã là một con người trong xã hội. Vì vậy, không có lý do gì mà không thừa
nhận sự tồn tại của chúng trong xã hội. Vấn đề này cũng cần được quy định cụ thể để tránh
hiểu lầm và có căn cứ áp dụng pháp luật thống nhất. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho người
thừa kế là trẻ sơ sinh nên chăng cần quy định cụ thể việc xác định một đứa trẻ sinh ra bao lâu
được coi là còn sống. Nhưng cần quy định một khoảng thời gian cụ thể để xác định đứa trẻ
sau khi sinh được coi là còn sống, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những thai
nhi thuộc diện thừa kế.
Người hưởng thừa kế theo di chúc còn có thể là các cơ quan, tổ chức có tư cách
pháp nhân vào thời điểm mở thừa kế.
Bên cạnh việc quy định cụ thể về người thừa kế, pháp luật còn ghi nhận một số
trường hợp người không được quyền nhận di sản, người thừa kế từ chối nhận di sản, người
thừa kế bị truất quyền hưởng di sản và trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung di chúc.
* Trường hợp người không được quyền nhận di sản
Là những trường hợp người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật bị tước quyền
hưởng di sản vì họ không xứng đáng được hưởng quyền đó. Khoản 1 Điều 643 BLDS năm
2005 quy định những trường hợp sau đây không được quyền hưởng di sản [9]:
- "Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi

hưởng thừa kế theo di chúc".
Việc không cho hưởng quyền nhận di sản được thực hiện sau khi mở thừa kế.
Trong thực tế xảy ra trường hợp làm giả mạo giấy tờ về người thừa kế khác từ chối nhận di
sản thừa kế để cho người đó được hưởng nhiều hơn. Giấy tờ này không có giá trị pháp lý
nhưng pháp luật không quy định trường hợp này là trường hợp không được hưởng quyền
nhận di sản. Đây là một vấn đề mà các nhà lập pháp cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
pháp luật hơn nữa.
* Trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản
Điều 642 BLDS năm 2005 quy định về việc người thừa kế có quyền từ chối nhận
di sản từ thời điểm mở thừa kế. Nếu người thừa kế theo pháp luật được thừa kế theo di chúc
mà từ chối nhận di sản theo di chúc thì họ vẫn có quyền thừa kế theo pháp luật. Pháp luật
quy định người thừa kế không bắt buộc phải nhận thừa kế. Vì vậy khoản 1 Điều 642 BLDS
quy định: "Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm
trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác" [9].
Tuy nhiên, người thừa kế phải thể hiện rõ ý chí của mình bằng văn bản, báo cho
những người thừa kế khác biết, người phân chia di sản, cơ quan công chứng nhà nước hoặc
ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế. Pháp luật cũng không quy
định người thừa kế nào có quyên từ chối nhận di sản. Vậy trường hợp người dưới mười
tám tuổi có quyền từ chối nhận di sản hay không? Nếu dưới mười tám tuổi mà từ chối
nhận di sản phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý mới hợp lý vì thực tế những
người dưới mười tám tuổi chưa đủ năng lực hành vi để quyết định mọi việc.
Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế. Việc quy
định này cũng là điều bất hợp lý vì có trường hợp người được thừa kế không biết thời điểm
mở thừa kế ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, kể từ thời điểm mở thừa kế người hưởng thừa
kế phải thực hiện nghĩa vụ đối với người chết. Do vậy, pháp luật quy định thời hạn sáu
tháng là chưa hợp lý.
Người thừa kế không được từ chối nhận di sản nếu việc từ chối nhằm trốn tránh

định đoạt trong di chúc hoặc người thừa kế theo di chúc không nhận phần di sản theo di
chúc thì phần tài sản này được cho những người thừa kế khác không có tên trong di chúc.
* Trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Nhằm đảm bảo lợi ích của một số các thành viên trong gia đình pháp luật còn quy
định một số trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Điều 669 BLDS năm
2005, quy định rõ con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con đã thành niên mà không
có khả năng lao động vẫn được hưởng di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế
theo luật nếu họ không thuộc trường hợp từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di
sản. Quy định này phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống đạo đức của người Việt
Nam.
1.2. Diện và hàng thừa kế
1.2.1. Khái quát chung về diện và hàng thừa kế
* Diện thừa kế
Diện thừa kế là một trong những nội dung quan trọng của chế định thừa kế, tuy
nhiên vấn đề này lại chưa được các nhà làm luật quy định cụ thể, chi tiết trong luật. Khái
niệm diện thừa kế chỉ được quan tâm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Còn luật
thực định từ trước đến nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể về vấn đề này. BLDS
1995 cũng như BLDS năm 2005 chưa có nội dung nào quy định về khái niệm diện thừa kế
là gì và diện thừa kế bao gồm những ai? Đây là một vấn đề cần được khắc phục trong quá
trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam.
Theo các tác giả của giáo trình Luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội khái niệm diện
thừa kế được hiểu là "phạm vi những người có quyền hưởng di sản của người chết theo
quy định của pháp luật" [54, tr. 266].
Nhìn chung, khái niệm nêu trên đã phản ánh đầy đủ nội dung cũng như bản chất
của diện thừa kế.
Diện thừa kế chỉ được đặt ra trong trình tự thừa kế theo pháp luật. Mà pháp luật
phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ sản xuất của từng giai đoạn phát triển xã hội. Vì thế ở mỗi

đến nay luôn được xác định theo quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi
dưỡng giữa người để lại di sản và người thừa kế.
Một người có thể trở thành người thừa kế theo pháp luật đối với di sản của người chết
thì giữa họ phải có mới quan hệ nhất định khi người để lại di sản còn sống. Mối quan hệ này là
sợi dây ràng buộc họ bởi quyền của người này và nghĩa vụ của người kia hoặc là bổn phận và
trách nhiệm giữa họ khi người để lại di sản còn sống. Những mối quan hệ được bắt nguồn từ
sâu xa của giá trị đạo đức truyền thống cùng sự phù hợp với pháp luật của một chế độ xã hội
nhất định.
Theo BLDS hiện hành thì những người thuộc diện thừa kế gồm: Vợ, chồng, cha
đẻ, mẹ đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; ông nội, bà nội, ông ngoại,
bà ngoại, anh, chị, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông
nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu
ruột, cô ruột, dì ruột chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Tóm lại, diện thừa kế bao gồm các cá nhân còn sống có quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản được tính đến thời điểm mở thừa
kế của người đó và những cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã
thành thai trước khi người để lại di sản chết. Phạm vi những cá nhân thuộc diện thừa kế
được xác định theo số người được pháp luật chỉ định trong các hàng thừa kế theo pháp luật
của người để lại di sản.
* Hàng thừa kế
Khác với thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật phải xác định được người thuộc
diện thừa kế là ai? Nhưng không phải tất cả những người thuộc diện thừa kế đều được
hưởng di sản thừa kế như nhau, mà theo mức độ quan hệ với người để lại di sản thừa kế,
pháp luật phân những người thuộc diện thừa kế thành các hàng thừa kế.
Hàng thừa kế là những nhóm, người thừa kế được pháp luật xếp trong cùng một
hàng. Việc chia hàng thừa kế có ý nghĩa thiết thực, đảm bảo để những người thừa kế cùng
hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng

giữa họ đều có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giám hộ và đại diện đương nhiên của nhau khi thỏa
mãn các điều kiện phải giám hộ cho nhau nhất định. Những người thừa kế ở hàng thứ ba
được cơ cấu gồm nhiều thế hệ và nhiều bậc trên dưới khác nhau theo quan hệ huyết thống
nhưng giữa họ không có sự ràng buộc về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau.
Với mục đích làm nổi bật tính độc lập và tính hiện đại của pháp luật thừa kế Việt
Nam quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật, cần thiết phải có sự so sánh với một
số nội dung cơ bản pháp luật thừa kế một số nước trên thế giới nhằm làm rõ những nét đặc
thù của pháp luật Việt Nam.
Theo BLDS của Nhật Bản, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Con (cháu) trực hệ.
Khác với pháp luật dân sự của Việt Nam, Nhật Bản quy định hàng thừa kế thứ nhất chỉ dựa
trên quan hệ huyết thống. Vợ hoặc chồng của người để lại di sản không được quy định cụ thể
trong một hàng thừa kế nào mà phụ thuộc vào các hàng và bậc thừa kế theo quan hệ huyết
thống nội tộc của người để lại di sản. Theo đó, phần di sản người vợ hoặc chồng chết trước
để lại sẽ tùy thuộc người vợ hoặc chồng còn sống được xếp vào cùng hàng thừa kế với
những người có quan hệ huyết thống ở các bậc khác nhau của người để lại di sản [10].
Quan hệ nuôi dưỡng không phải là cơ sở để xác định diện và hàng thừa kế. Ngoài
ra, có những người cùng được hưởng thừa kế cùng một lúc nhưng lại không được hưởng di
sản như nhau vì pháp luật Nhật Bản quy định: Trong trường hợp có hai người cùng hàng,
thì phần mà người chồng góa hoặc người vợ góa của người để lại di sản được hưởng theo
nguyên tắc nhất định Ví dụ: khi vợ, (chồng) và các con là người thừa kế thì phần cho các
con là hai phần ba và phần cho vợ (chồng) là một phần ba.
Theo BLDS của Cộng hòa Pháp, quyền thừa kế đầu tiên đối với di sản của người
chết là những người bề dưới, không phân biệt độ tuổi, giới tính và không phụ thuộc vào
hình thức hôn nhân của cha mẹ đều được hưởng di sản. Như vậy, ở hàng thừa kế thứ nhất
chỉ là các con của người để lại di sản [6]. Điều đó thể hiện Luật thừa kế của Cộng hòa
Pháp dựa trên quan hệ duy nhất là quan hệ huyết thống, là quan hệ chủ đạo trong việc xác
định người thừa kế theo pháp luật. Vợ góa hoặc chồng góa không thuộc hàng thừa kế nào

mình" [30]. Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:
Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc,
giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường
hợp các cháu chưa thành niên hoặc cháu thành niên bị tàn tật, mất năng lực
hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
mà không có người nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi
dưỡng cháu [30].
Điều 48 Luật HN&GĐ 2000 quy định: "Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm
sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc nuôi dưỡng nhau trong trường hợp
không còn cha mẹ, hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo
dục con" [30].
Theo mức độ quan hệ với người để lại di sản, BLDS năm 2005 phân những người
thuộc diện thừa kế theo huyết thống vào các hàng thừa kế khác nhau.
* Quan hệ hôn nhân
Hôn nhân là sự gắn bó giữa nam và nữ để trở thành một gia đình, một tế bào của
xã hội. Trong đó họ phải cùng nhau tạo dựng những nền tảng vững chắc về mặt kinh tế để
đảm bảo cho cuộc sống gia đình ổn định và việc nuôi dạy con cái tốt. Đồng thời, họ cũng
phải có những trách nhiệm và bổn phận đối với nhau do pháp luật quy định và trên cơ sở
đạo đức truyền thống của người Việt Nam.
Kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng theo những quy định của pháp
luật, đặc biệt là Luật HN&GĐ. Theo Luật HN&GĐ năm 2000, nam nữ kết hôn phải tuân
theo các quy định về điều kiện kết hôn, không vi phạm những điều cấm, và tiến hành đúng
trình tự, thủ tục luật định.
Khi kết hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng phát sinh và được pháp luật bảo
vệ. Việc kết hôn không chỉ gắn bó giữa hai người với nhau về tình cảm mà còn làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai người, ngoài ra hai bên còn có quan hệ tài sản, khoản 1
Điều 31 Luật HN&GĐ 2000 quy định: "Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo

nhau.
Các quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng là những quan hệ tình cảm có mối
quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Pháp luật nước ta dựa vào ba quan hệ này để xác định
diện và hàng thừa kế theo pháp luật.

Trích đoạn Hàng thừa kế thứ ba QHSH QHH§ DS QHBTTH QHTK QHQSD§ QHNTPTS Nguyên nhân và dự báo Những đề xuất về hướng hoàn thiện các qui định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status