LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Ngân sách Quận Hai Bà Trưng,
Thành phố Hà Nội Mở Đầu Đất nước ta đang bước vào năm thứ mười sáu của quá trình đổi mới kể từ
Đại hội Đảng VI năm 1986. Trong những năm qua, mọi mặt đời sống kinh tế xã
hội được cải thiện đáng kể, tạo cho đất nước ta một diện mạo mới trong mắt bè
thêm lý luận đã học của mình. Trước những đòi hỏi bức xúc về Ngân sách Quận-
Huyện như đã nêu, em đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu
quả công tác quản lý Ngân sách Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội”
Chương I: Một vài vấn đề lý thuyết về
Ngân sách Quận - Huyện
I/ Khái quát Ngân sách nhà nước(NSNN).
1. Khái niệm NSNN .
Quá trình chuyển đổi, xây dựng và phát triển thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta không những đòi hỏi sự chuyển đổi thể chế và cơ cấu
kinh tế nói chung mà còn đòi hỏi những chuyển đổi cần thiết về cả nhận thức và
thể chế tài chính, ngân sách. Việc nhận thức đúng đắn bản chất, chức năng NSNN,
sẽ cho phép xác định đúng vai trò, đặt đúng vị trí để sử dụng có hiệu quả công cụ
sắc bén NSNN trong điều hành kinh tế vĩ mô. Do vậy, việc nghiên cứu và khẳng
định bản chất, chức năng, vai trò của NSNN trong kinh tế thị trường là hoàn toàn
cần thiết. Tuy nhiên, trước hết cần phải thống nhất định nghĩa về NSNN để trên cơ
sở đó mới có thể nhìn nhận NSNN một cách đúng đắn hơn.
Pháp: “NSNN là văn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê
chuẩn mà trong đó, các ngiệp vụ tài chính (thu, chi ) của một tổ chức công (Nhà
nước, chính quyền địa phương, đơn vị công ) hoặc tư ( doanh nghiệp, hiệp hội)
được dự kiến và cho phép”.
Trung Quốc: “NSNN là kế hoạch thu - chi tài chính hàng năm của Nhà
nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”.
ở Việt Nam, ít nhất cũng có hai định nghĩa khác nhau về NSNN :
Giáo trình lý thuyết tài chính ( 2000- ĐH TC-KT Hà Nội ): “NSNN là
phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của
các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
góc độ khác nhau. 2. Bản chất NSNN.
Lịch sử hình và phát triển của các nước trên thế giới cho thấy NSNN ra đời,
phát triển cùng với kinh tế hàng hoá và Nhà nước. Kinh tế hàng hoá và Nhà nước
là hai điều kiện tiền đề để cho NSNN ra đời, phát triển. Cùng với sự phát triển của
kinh tế hàng hoá và mức độ hoàn thiện của Nhà nước phạm trù NSNN cũng phát
triển tương ứng.
Bản chất kinh tế của NSNN là quan hệ kinh tế - tài chính giữa một bên là
Nhà nước và bên kia là các tác nhân của của nền kinh tế hàng hoá trong quá trình
phân bổ, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế, phân phối và phân phối lại thu
nhập do các tác nhân kinh tế mới sáng tạo ra. Bản chất kinh tế không tách rời bản
chất chính trị của NSNN. Bản chất chính trị của NSNN gắn liền với bản chất của
giai cấp cầm quyền, NSNN là ngân sách của Nhà nước của giai cấp cầm quyền, do
Nhà nước đó mà sinh ra, vì Nhà nước đó mà tồn tại và phát triển. Bản chất chính
trị của NSNN giải thích lý do ra đời, điều kiện tồn tại, muc tiêu và sứ mạng mà
NSNN phụng sự là lợi ích của giai cấp cầm quyền.
3.Vai trò của NSNN .
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của NSNN là đảm bảo nguồn tài
chính thực hiện chức năng Nhà nước công quyền, duy trì sự tồn tại của thể chế
chính trị, là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của
Nhà nước, bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội,
bảo vệ môi trường sinh thái.
3.1 Ngân sách tiêu dùng: Công cụ bảo đảm thực hiện chức năng Nhà nước
công quyền và bảo vệ tổ quốc .
Những khiếm khuyết của thị trường là không thể tránh khỏi, Nhà nước cần
can thiệp để đảm bảo công bằng xã hội. Tuy nhiên cần phải có sự thống nhất giữa
mong muốn can thiệp với cách thức hoạch định và thực hiên các biện pháp can
thiệp nhằm bảo vệ tầng lớp nghèo và công bằng. Việc sử dụng thiếu thận trọng các
công cụ tài chính đôi khi lại phủ nhận mục đích và bản chất tốt đẹp của người
quyết định.
Thị trường thường xuyên chạy theo mục đích kinh tế không chú ý đến lợi
ích cộng đồng, công bắng xã hội, môi trường sinh thái. Khiếm khuyết của thị
trường chỉ có thể bù đắp phần nào nhờ vào Nhà nước, nhờ vào hiệu quả sử dụng
quyền lực pháp lý, quyền lực kinh tế.
4. Chức năng của NSNN.
Nhận thức đúng đắn, đầy đủ các chức năng vốn có của NSNN là điều hết
sức quan trọng, bởi điều đó quyết định chất lượng, hiệu quả của các quyết định
xây dựng và sử dụng công cụ NSNN trong kinh tế thị trường, tránh được các
quyết định chủ quan, duy ý chí- cội nguồn của các sai lầm không đáng có.
4.1 Chức năng phân phối:
Đặc điểm cơ bản của phân phối NSNN:
Thứ nhất, phân phối dưới hình thức giá trị, chủ yếu sử dụng tiền tệ làm đơn
vị tính, phương tiện phân phối.
Thứ hai, tham gia không đầy đủ vào quá trình phân phối các yếu tố đầu
vào.
Thứ ba, thực hiên phân phối kết quả của quá trình sản xuất, cung ứng hàng
hoá, dịch vụ.
Thứ tư, phân phối NSNN tác động đến cả cung và cầu của nền kinh tế gắn
liền với sự hình thành và sử dụng quỹ NSNN.
Thứ năm, Nhà nước là chủ thể trong các quan hệ phân phối có liên quan
đến NSNN. Nhà nước sử dụng tối đa quyền lực chính trị, quyền chủ sở hữu trong
Theo như định nghĩa trên thì việc tổ chức hệ thống Ngân sách là việc giải
quyết các mối quan hệ hữu cơ giữa các cấp Ngân sách theo nguyên tắc. Tuỳ theo
đặc điểm mỗi quốc gia, tình hình kinh tế xã hội mà hệ thống NSNN được tổ chức
theo các cách thức, mô hình khác nhau. Dù hệ thống đó được tổ chức như thế nào
đi chăng nữa cũng phải xuất phát từ hai căn cứ:
Thứ nhất, hệ thống NSNN phải phù hợp với cơ cấu hệ thống quản lý. Có
nhiều mô hình quản lý khác nhau trên thế giới, mỗi mô hình đều tìm ra cho mình
một cách đi riêng sao cho hiệu quả, chính xác.
Thứ hai, Hệ thống NSNN phải phù hợp với trình độ phân cấp quản lý kinh
tế giữa các cấp chính quyền Nhà nước.
ở Việt Nam, hệ thống NSNN đựợc tổ chức một cách thống nhất phù hợp
với hệ thống quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo hai nguyên tắc:
5.1 Nguyên tắc thống nhất .
Đó là sự thống nhất về hoạt động tài chính trong nền kinh tế Quốc dân và
tính thống nhất giữa nội dung hoạt động tài chính và các hoạt động kinh tế khác
trong nền kinh tế quốc dân. Toàn bộ các chế độ, chính sách, các nghiệp vụ đều
được hoạch định, thực hiên, chỉ đạo sát sao của Chính Phủ. Cơ quan cao nhất có
quyền phê duỵệt Ngân sách là Quốc hội.
5.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ .
Việc xây dựng kế hoạch dự toán Ngân sách từ cơ sở huy động sự tham gia
đông đảo của các cá nhân. Đây là nguyên tắc thể hiện bản chất Nhà nước ta là: dân
chủ, của dân, do dân và vì dân.
6. Tổ chức hệ thống NSNN ở Việt Nam.
Năm ngân sách chỉ khoảng thời gian mà trong đó dự toán thu, chi ngân
sách đã được phê chuẩn có hiệu lực thực hiện.
Thông thường trên thế giới năm ngân sách có thời gian là 12 tháng nhưng
khác nhau về thời điểm bắt đầu và kết thúc.
ở Việt Nam, năm ngân sách gồm 12 tháng, bắt đầu từ 1/1 đến 31/12 ( tính
theo năm dương lịch ).
8.2 Chu trình ngân sách .
Chu trình ngân sách là quá trình tính từ khi bắt đầu hình thành nên dự toán
NSNN của một năm nào đó cho tới khi kết thúc.
Chu trình ngân sách gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Hình thành kế hoạch NSNN ( thu, chi )
Giai đoạn hai: Chấp hành NSNN ( thực hiện kế hoạch thu, chi )
Giai đoan 3: Quyết toán NSNN
II.Cấp ngân sách Quận -Huyện
1. Khái niêm và lịch sử hình thành.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp , NSNN ta tổ chức thành
hai cấp: Ngân sách TW và Ngân sách tỉnh, thành phố. Việc phân cấp như vậy là
phù hợp với nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việc huy động tối đa nguồn
lực tài chính. ở thời kỳ này, Ngân sách Quận -Huyện đóng vai trò là một cấp dự
toán.
Ngày 15 /5 /1978, với chủ chương xây dựng Quận, Huyện thành một cấp
có cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công nông nghiệp
phát triển toàn diện, Hội Đồng Chính Phủ đã ra Nghị Quyết 108 /CP xác định
quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp Quận, Huyện về quản
lý tài chính, ngân sách. Nghị quyết có quy định các khoản thu, chi Ngân sách
Quận- Huyện. Ngày 19 /11 /1983, HĐBT ra Nghị quyết số 138 / HĐBT về cải tiến
làm cho bộ mặt NSNN mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc gia
trở nên lành mạnh và hiệu quả hơn. Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua,
xét riêng ở cấp độ Quận,Huyện, tình hình kinh tế - tài chính có những bước tiến
đáng kể. Ngoài ra, Ngân sách Quận -Huyện còn thể hiện bản chất chính trị của
Nhà nước ta thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ
chương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm
đã pháy huy được là một loạt những hạn chế cần khắc phục kịp thời, đòi hỏi sự
quan tâm, tâm huyết của các cá nhân, ban, ngành phối hợp cùng giải quyết.
2.Vai trò của Ngân sách Quận -Huyện
Như đã nêu trong định nghĩa Ngân sách Quận -Huyện có vai trò của NSNN
trên địa bàn Quận, Huyện. Đó là vai trò đảm bảo chức năng Nhà nước ; an ninh,
quốc phòng; thúc đẩy phát triển , ổn định kinh tế; bù đắp những khiếm khuyết thị
trường, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
2.1 Ngân sách Quận -Huyện - bảo đảm thực hiện chức năng Nhà nước,
bảo vệ an ninh trật tự cấp Quận Huyện.
Là một cấp chính quyền Quận, Huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ
thồng các cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng của Nhà
nước. Điều đó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động được
cần phải có một quỹ tài chính tập trung cho nó- Đó chính là Ngân sách Quận -
Huyện. Mặc dù không lớn mạnh như ngân sách TW nhưng Ngân sách Quận -
Huyện cũng tạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực
hiện chức năng Nhà nước ở điạ phương. Tuỳ theo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế
xã hội trên từng Quận, Huyện mà nhu cầu đảm bảo này là khác nhau.
Hiện nay, nước ta có trên 1.380.000 công chức ( số liệu năm 2000 ) đang
làm việc trong cả nước. Để duy trì hoạt động của bộ máy này phải tốn một khoản
Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia. Nó có tác
dụng xoa dịu nền kinh tế thị trường. Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường là
chạy theo lợi nhuận bất chấp hậu quả. Do đó, một loạt các vấn đề xảy đến: Thất
nghiệp, hố ngăn cách giàu nghèo tăng, không quan tâm đến người già, trẻ em,
người tàn tật, lừa đảo, chiếm đoạt, môi trường ô nhiễm Những điều đó tạo ra cho
nền kinh tế - xã hội một vực thẳm phía trước. Cấp Quận -huyện theo dõi các báo
cáo tổng hợp từ cấp xã, phường phải có biện pháp giải quyết.
Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, Quận -
Huyện phải thường xuyên quan tâm đến đời sông văn hoá, tinh thần của quần
chúng, cải tạo các sân chơi, phương tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ. Các dịch vụ
công cộng như giáo dục, y tế phải giảm được chi phí cho người dân, làm sao để ai
cũng được học hành, chăm sóc sức khoẻ đầy đủ.
3. Chức năng của Ngân sách Quận -Huyện
Ngân sách Quận -Huyện cũng có hai chức năng là phân phối và giám đốc.
3.1 Chức năng phân phối của Ngân sách Quận -Huyện
Thống nhất với chức năng phân phối tài chính nói chung, Ngân sách Quận -
Huyện được cụ thể hoá trong phạm vi phân phối Ngân sách của Quân, Huyện.
Phân phối Ngân sách Quận -Huyện không chỉ dừng lại ở khâu phân phối thu nhập
mà bao gồm cả phân phối các yếu tố đầu vào, cụ thể là phân bổ nguồn tài chính.
Nguồn tài chính phân phối là thu nhập mới sáng tạo ra, phần mà thuộc
Ngân sách Quận -Huyện gắn liền với khả năng thu, chi. Thông qua việc hạch toán
thu, chi mà Ngân sách Quận -Huyện thực hiện chức năng phân phối của mình với
các chủ thể khác của nền kinh tế. Tuy nhiên Ngân sách Quận -Huyện chỉ thực hiện
các chức năng phân phối của mình trong giới hạn ở các nghiệp vụ có liên quan
đến nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền Quận- Huyện.
Chức năng phân phối của Ngân sách Quận -Huyện thể hiện ở: Phân phối
lần đầu khi tham gia vào quá trình phân chia kết quả sản xuất, với tư cách là chủ
nói chung và quản lý tài chính nói riêng. Việc tăng hay giảm thu ở một lĩnh vực
nào đó được thực hiện theo chiến lược phát triển kinh tế, tài chính vĩ mô. Một khi
chính sách thu ngân sách thay đổi thì lập tức cơ cấu kinh tế, dù ít hay nhiều cũng
có sự chuyển dịch. Bởi vì, đối tượng thu của Ngân sách là rất đa dạng, rộng lớn,
phong phú, đặc biệt là nhạy cảm với các chính sách thu (thuế, phí, lệ phí ).
Thứ hai, các chính sách thu của Ngân sách có tác động đến các chính sách
quản lý kinh tế, tài chính khác. Dường như vị trí này trùng lắp vị trí trên, nhưng
không, nó hoàn toàn khác. Các chính sách kinh tế, tài chính khác ở đây là thuộc
các lĩnh vực ngoài Ngân sách (kinh tế, tài chính của các tổ chức, doanh nghiệp ).
Do việc có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp nên NSNN có thể
can thiệp sâu vào doanh nghiệp.
4.1.2 Các quan điểm cần quán triệt khi xây dựng và thực hiện các chính
sách thu Ngân sách
Một là, các chính sách thu phải góp phần vào khuyến khích và phát triển
sản xuất kinh doanh, mở rộng lưu thông hàng hoá và thúc đẩy cạnh tranh lành
mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Như phần trên đã trình
bày, các đối tượng nộp thuế rất nhạy cảm với việc đánh thuế. Thế mà, việc thu
thuế là có giới hạn, cónghĩa là, thu bằng thuế chỉ đạt được kết quả tối đa tại một
điểm thuế suất nào đó.
Đây là hiện tượng “thuế giết thuế, có nghĩa là với chủ trương tăng thuế để
tăng thu Ngân sách, nhưng đến khi thực hiện lại có tác động ngược lại: Sản xuất
kinh doanh bị đình trệ, hiện tượng trốn thuế phát triển do tâm lý “lười lao động”.
Hai là, chính sách thu phải đảm bảo tâp trung quản lý hợp lý nguồn thu cho
Ngân sách, đồng thời bảo đảm mức sống hợp lý cho các đối tượng dân cư dọ tác
động của chính sách thu. Theo quy định của Nhà nước, tất cả các khoản đều được
tập trung vào Kho Bạc Nhà nước cùng với sự phối hợp của Ban Tài Chính, cơ
quan thuế, Hải quan.
g) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho
Ngân sách Quận –Huyện.
h) Thu từ xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thu từ các hoạt động
chống buôn lậu và kinh doanh trái phép luật theo phân cấp của tỉnh.
i) Thu kết dư ngân sách cấp huyện.
k) Bổ xung từ ngân sách cấp tỉnh.
l) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
**) Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp
tỉnh và Ngân sách Quận - Huyện và Ngân sách xã, thị trấn, phường.
a) Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
b) Thuế nhà đất.
c) Tiền sử dụng đất.
d) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa Ngân sách cấp tỉnh
và Ngân sách TW, do tỉnh quy định trong phạm vi tỉnh được phân cấp.
e) Các khoản thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; lệ phí trước
bạ nhà đất; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào mặt hàng bài
lá; vàng mã; hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, karaokê, kinh
doanh gôn; bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-no; trò chơi bằng máy
giắc-pót; kinh doanh vé đặt cược, đua ngựa, đua xe (Ngân sách địa phương hưởng
100%). Việc phân cấp cho Ngân sách các cấp ( tỉnh, huyện, xã ) do cấp tỉnh quy
định. Riêng tỷ lệ phần trăm phân chia thuế sử dụng đất nông nghiệp cho xã, thị
trấn tối đa là 100%, tối thiểu là 20%.
***) Đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Được phân chia thêm một phần
theo tỷ lệ phần trăm đối với lệ phí trước bạ không kể lệ phí trước bạ nhà đất phát
sinh nộp trên địa bàn và được tiến hành lập quỹ đầu tư theo quy định của Chính
phủ.
4.2 Nội dung chi của Ngân sách Quận –Huyện
.
Thứ hai, thực hiện chi Ngân sách đúng dự toán, tiết kiệm, hiệu quả.
4.2.3 Nhiệm vụ chi của Ngân sách Quận -Huyện :
*) Chi thường xuyên về:
a) Các hoạt động sự nghiệp GD- ĐT, Ytế thực hiện theo phân cấp của tỉnh.
b) Các hoạt động sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, xã hội và
các sự nghiệp khác do cơ quan cấp huyện quản lý.
c) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý:
- Nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi.
- Giao thông.
- Sự nghiệp thị chính.
- Các sự nghiệp kinh tế khác.
- Quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội.
+ Quốc phòng: Giáo dục quốc phòng; tuyển quân và đón tiếp quân nhân
hoàn thành nghĩa vụ; đăng ký quân nhân dự bị; huấn luyện dân quân tự vệ.
+ An ninh, trật tự và an toàn xã hội: Tuyên truyền giáo dục quần chúng bảo
vệ an ninh; hỗ trợ các chiến dịch giữ gìn an ninh; tổng kết phong trào bảo vệ an
ninh tổ quốc; hỗ trợ trật tự, an ninh cơ sở.
đ) Hoạt động của các cơ quan Nhà nước cấp huyện.
e ) Hoạt động của cơ quan cấp huyện của ĐCS Việt nam.
g ) Hoạt động của cơ quan cấp huyện, của MTTQ Việt nam, Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Hội CCB VIệt nam, Hội LHPN VN, Hội Nông Dân Việt nam.
h ) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp cấp Quận - Huyện
theo quy định của pháp luật.
i ) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
**) Chi đầu tư phát triển:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo
phân cấp của tỉnh, thành phố.
- Chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập, các công trình phúc
hợp cho vay trực tiếp có trách nhiệm quản lý, cho vay, thu hồi nợ gốc, lãi nộp vào
NSNN và quyết toán theo chế độ quy định.
d) Chi trả nợ vay của Ngân sách Quận -Huyện
Đối với các khoản chi trả nợ, Chi cục Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh
toán theo lệnh chi của Phòng Tài chính - Vật giá.
e) Đối với chi sự nghiệp kinh tế:
Cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước thực hiện cấp phát, thanh toán theo
quy trình cấp phát hạn mức kinh phí trừ một số khoản kinh phí sự nghiệp kinh tế
có tính chất đặc thù Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn riêng.
f) Đối với các khoản chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia
Đối với các khoản chi đã giao cho các đơn vị trực tiếp thực hiện thì cấp
phát theo quy trình.
Đối với các khoản chi uỷ quyền thì cơ quan tài chính cấp trên chuyển kinh
phí uỷ quyền cho cơ quan tài chính cấp dưới để cấp phát .
g) Cấp phát và cho vay vốn đầu tư XDCB:
Thực thiện theo quy trình quy định của Chính Phủ, Bộ Tài chính sẽ hướng
dẫn thêm.
h) Chi bằng hiện vật và ngày công lao động
Đối với các khoản chi Ngân sách bằng hiện vật: Căn cứ vào biên bản bàn
giao hiện vật, giá hiện vật được duyệt, cơ quan tài chính quy đổi ra đồng Việt nam
để làm lệnh ghi thu, ghi chi Ngân sách gửi Kho bạc Nhà nước để hạch toán thu,
chi NSNN .
Đối với các khoản chi bằng ngày công lao động: Căn cứ giá ngày công lao
động được duyệt, cơ quan tài chính làm lệnh ghi thu, ghi chi gửi Kho bạc Nhà
nước để hạch toán thu, chi Ngân sách
i) Cấp phát kinh phí uỷ quyền:
Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản
lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ thuộc chức năng của mình thì phải
chuyển kinh phí từ Ngân sách từ cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó.
đến. Điều 8 mục3 Luật NSNN quy định: “Ngân sách địa phương được cân đối
theo nguyên tắc tổng chi không được vượt quá tổng thu”. Quy định này nhằm đảm
bảo tính ổn định cho Ngân sách địa phương.
Với tư cách là một Ngân sách địa phương, Ngân sách Quận -Huyện cũng
phải tuân thủ nhũng quy định về cân đối Ngân sách. Hầu hết các Quận - Huyện
đều có xu hướng khai thác tối đa nguồn thu trên địa bàn nhằm tạo cho Ngân sách
Quận -Huyện đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển địa phương. Chính vì vậy
mà một số Quận - Huyện đã khai thác một số nguồn thu sai quy tắc. Điều này là
hoàn toàn cấm kỵ, để có thể cân đối được Ngân sách chúng ta phải tìm các nguồn
thu do pháp luật quy định thậm chí có thể đi vay.
Kết dư NS Q_H=Tổng thu Ngân sách Q_H- Tổng chi Ngân sách Q_H
+ Ngân sách bội thu khi kết dư Ngân sách Q_H >0, tức là tổng thu
lơn tổng chi.