LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả công tác vận
động quần chúng tín đồ Công giáo ở
Kon Tum hiện nay
Mở đầu
giáo ở Kon Tum là một công tác vô cùng quan trọng, nó tác động sâu sắc đến quá trình
phát triển phong trào cách mạng của quần chúng tại địa phương.
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị về "Tăng
cường công tác tôn giáo trong tình hình mới" và thực hiện Nghị định 69/HĐBT của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), công tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo nói
chung, quần chúng tín đồ theo đạo Công giáo ở Kon Tum nói riêng, bước đầu đã có
những chuyển biến. Song vẫn còn nhiều thiếu sót, nhận thức về quan điểm, nguyên tắc
và chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo trong một bộ phận cán
bộ, đảng viên còn nhiều điều bất cập; đặc biệt là cách nhìn nhận và đánh giá chưa thật
khách quan, nặng về nhìn nhận quá khứ chính trị của đạo Công giáo, mà không thấy
được nỗi khổ cực của đại bộ phận quần chúng tín đồ theo đạo trong quá trình đấu tranh
với sự du nhập của đạo Công giáo, không đánh giá và nhìn nhận đúng mức những cống
hiến và hy sinh lớn lao của đại bộ phận giáo dân đối với sự nghiệp cách mạng qua suốt
hai cuộc kháng chiến. Chính từ đó đã nảy sinh những cách làm, những phương pháp xử
lý thiếu tế nhị (có thể nói là thô bạo), trong quá trình vận động quần chúng tín đồ, gây
nên tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng tín đồ, dẫn đến cách biệt, thậm chí có
những trường hợp gây thái độ đối lập trong quần chúng tín đồ; đồng thời ở một số nơi
còn tồn tại khuynh hướng hữu khuynh, thiếu cương quyết và nhạy bén trong việc đấu
tranh với kẻ thù lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.
Do vậy, nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở
Kon Tum, phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của nó; xây dựng
niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, huy động được đông đảo quần chúng giáo dân vào sự
nghiệp "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", qua đó thể hiện
được ước nguyện sống "Tốt đời, đẹp đạo" của đông đảo quần chúng giáo dân ở Kon
Tum là vấn đề bức xúc hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đổi mới công tác đối với đạo Công giáo nói chung và đổi mới công tác vận động
quần chúng tín đồ Công giáo nói riêng đang là một trong những yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới, nhất là sau khi có Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị. Xung quanh vấn đề này đã
có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như: Nguyễn Văn Long, luận án tiến
Kon Tum hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích đó, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Một là, làm rõ đặc điểm tình hình quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện
nay.
Hai là, phân tích thực trạng công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở
Kon Tum từ khi đổi mới đến nay.
Ba là, đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả
công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum trong thời gian tới.
- Phạm vi nghiên cứu:
Công tác tôn giáo bao gồm nhiều mặt , ở những địa bàn, thời điểm và với các
tôn giáo có sự khác nhau. Luận văn này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu công tác vận
động quần chúng tín đồ Công giáo ở địa bàn tỉnh Kon Tum; luận văn lấy mốc thời gian
từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới đến nay (từ khi thực hiện Nghị quyết 24 của
Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới").
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta về công tác tôn giáo. Đồng thời có kế thừa những kết quả của
các công trình nghiên cứu liên quan để làm rõ những vấn đề mà mục đích và nhiệm vụ
của luận văn đặt ra.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn thực hiện theo các phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử, kết hợp phân tích
với tổng hợp, phương pháp so sánh, trong đó coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn.
- Bước đầu phát hiện một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong công tác vận động
quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay.
- Nêu phương hướng và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi, góp phần đổi
mới công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay có hiệu quả
1.1. Đạo Công giáo và đặc điểm tình hình quần chúng tín đồ Công giáo ở
Kon Tum
1.1.1. Vài nét về đặc điểm tỉnh Kon Tum
Đặc điểm tự nhiên - chính trị - kinh tế - xã hội
Kon Tum là một tỉnh nằm ở cực bắc Tây Nguyên, với diện tích tự nhiên là
13.000 km
2
; phần lớn là rừng núi và cao nguyên, địa hình hiểm trở, vùng cao đất, dốc,
đồi núi bị chia cắt mạnh. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía nam giáp tỉnh Gia Lai;
phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía tây giáp tỉnh Ătêp, Sê Kông (Lào); phía đông bắc
giáp tỉnh Ratanakili (Cămpuchia). Tỉnh Kon Tum có khoảng 650 km đường ranh giới,
trong đó đường biên giới quốc gia chiếm 275 km. Nằm trên địa bàn chiến lược Tây
Nguyên, nơi có điểm tựa của ngã ba Đông Dương, gắn chặt với các đặc trưng về địa lý,
tự nhiên tạo cho tỉnh Kon Tum có tầm quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc
phòng và an ninh.
Tỉnh Kon Tum có 6 huyện và một thị xã với 79 xã, phường, thị trấn; trong đó có
56 xã, phường có đạo. Số dân khoảng hơn 300.000 người. Người Kinh chiếm gần 46%
dân số, phân bố chủ yếu ở trung tâm các huyện, thị; các dân tộc thiểu số bản địa và mật
độ dân tộc khác di cư đến (Mường, Tày, Nùng ) chiếm 54%. Cộng đồng các dân tộc
thiểu số hầu hết ở vùng ven thị xã, các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Do điều kiện địa lý tự nhiên, địa bàn cư trú nên vùng dân tộc thiểu số mang
những nét riêng của miền núi và Tây Nguyên.
Hoạt động kinh tế của các tộc người tỉnh Kon Tum bao gồm những hoạt động
kinh tế sản xuất, kinh tế khai thác tự nhiên, nhưng nhìn trên tổng thể thì hầu hết các cư
dân ở đây đều lấy kinh tế nông nghiệp làm phương thức sinh sống chính. Do đó, khi nói
đến các đặc điểm của hoạt động kinh tế người ta thường bắt đầu từ hoạt động nông
nghiệp.
Canh tác nương rẫy: Các dân tộc ở Kon Tum đã tiến sâu vào giai đoạn nông
nghiệp trồng trọt. Trong nền kinh tế truyền thống, rẫy có vị trí quan trọng hàng đầu, là
nguồn sống chủ yếu của con người. Tại khoảnh rừng đã chọn, trên cơ sở xem xét độ
ăn vào ban đêm. Có thể nói, về phương diện thực phẩm, việc chăn nuôi các con vật kể
trên có hai mục đích: để cúng và để ăn, nhưng chỉ ăn sau khi cúng, chứ người dân
không giết thịt chúng nhằm cải thiện bữa ăn. Đó là nếp truyền thống của người Tây
Nguyên.
Ngoài ra, ở Kon Tum còn có nghề đan lát, làm mộc, dệt vải, rèn, làm gốm
nhưng đó chỉ là các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của bản thân từng gia
đình và chưa xuất hiện - dù chỉ một làng, những người chuyên làm nghề thủ công để
kiếm sống, mặc dù có nơi sản phẩm của họ có phần trở thành hàng hóa. Chợ không phải
là địa điểm quan hệ giao lưu hàng hóa trong xã hội truyền thống, mà việc đó thường
diễn ra tại nhà. Với họ không có sự khác biệt giữa cái đem bán và cái mình dùng. Họ
không có tư duy của người sản xuất hàng hóa trong thương trường. Hơn nữa, những thứ
trở thành hàng hóa được họ làm ra không nhằm mục đích hàng hóa đơn thuần, mà ở đó
còn ẩn chứa cả lòng tự trọng, tình hữu hảo trong quan hệ với người mua và người sử
dụng.
ở Tây Nguyên nói chung, Kon Tum nói riêng, đến những năm 30 của thế kỷ 20,
xã hội truyền thống vẫn còn chế độ thị tộc, bộ lạc. Quan hệ xã hội bó hẹp trong phạm vi
buôn, làng. Đứng đầu buôn làng là các thủ lĩnh dân tộc, có năng lực giao tiếp xã hội, có
tri thức và có tiềm năng kinh tế. Hôn nhân và gia đình tùy theo dân tộc mà tổ chức gia
đình có khác nhau hoặc theo mẫu hệ (Gia Rai); hoặc theo song hệ (Xơ Đăng, Giẻ
Triêng); hoặc theo phụ hệ (Ba Na).
Do trình độ phát triển kinh tế, xã hội còn thấp nên vai trò của người có địa vị,
có uy tín trong xã hội truyền thống rất quan trọng, như thủ lĩnh dân tộc, vua lửa (hỏa
xá), vua nước (thủy xá), thầy cúng, trí thức dân tộc Vua lửa, vua nước, thầy cúng
không có quyền lực trong bộ máy cai trị, nhưng họ nắm dân thông qua thần quyền, tục
quyền. Đây cũng là đặc điểm quan trọng mà các giáo Công giáo Pháp, Mỹ rất chú ý lợi
dụng, tranh thủ để nắm dân, để tuyên truyền, phát triển đạo.
Trong vùng dân tộc thiểu số còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu Do
đời sống kinh tế khó khăn, phương tiện sản xuất thô sơ, sản xuất phụ thuộc hoàn toàn
vào thiên nhiên, do trình độ dân trí thấp, nên quần chúng rất tin vào Giàng (Thần). Họ
Dân tộc Gia Rai với nhiều nhóm địa phương như: Gơ rai, Tơ bua, Chơ rai, Hơ
ban, H'đrung, Chor, A rap cư trú chủ yếu ở huyện Sa Thầy và thị xã Kon Tum; dân số
trên 13.895 người (chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh).
Dân tộc Brâu, Rơ Mâm là hai dân tộc có dân số ít, Brâu: 240 người, Rơ Mâm:
277 người. Hiện nay người Rơ Mâm định cư ở làng Le xã Mô Rây huyện Sa Thầy;
người Brâu định cư ở làng Đăk Mề, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi. Đây là hai dân tộc đang
có nguy cơ tuyệt chủng, cần đến sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng xã hội.
Dân tộc Kinh là thành phần dân cư lên cư trú tại Kon Tum vào khoảng giữa thế
kỷ 19, lập nên các làng: Phương Nghĩa (1882), Phương Qúy (1887), Phương Hòa
(1892), Trung Lương (1914), Phụng Sơn (1924), Ngô Thạnh (1925), Ngô Trang (1925),
Phước Cần (1927), Lương Khế (1927) Đến nay, theo thống kê, người Kinh chiếm gần
46% dân số so với các dân tộc khác trong tỉnh. Họ cư trú hầu hết ở thị xã, thị trấn, ven
các trục đường giao thông, các khu vực nông trường, kinh tế mới.
Nhìn chung các dân tộc ở Kon Tum có mối quan hệ đoàn kết gắn bó, có tinh
thần yêu nước và truyền thống cách mạng, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu
tranh giải phóng đất nước trước đây và cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa hiện nay. Nhiều làng, xã là căn cứ cách mạng từ những năm đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp và chốn Mỹ. Kon Tum cũng là nơi có nhiều cán bộ, trí thức,
anh hùng rất nổi tiếng là người dân tộc thiểu số.
Đặc điểm về tín ngưỡng - tôn giáo
Đối với người dân ở Kon Tum, tuy đời sống vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu,
nhưng đời sống tinh thần phong phú, đa dạng, luôn làm cho con người sống tràn ngập
trong bầu không khí lễ hội như để tiếp thêm sức mạnh, giúp họ tự tin, vững vàng hơn
trong cuộc sống.
Tất cả dân tộc đều thống nhất một điểm bao trùm và chi phối quan trọng trong
nhiều hoạt động của cá nhân cũng như cộng đồng, đó là tín ngưỡng vạn vật hữu linh.
Hiểu theo đó, thế giới có nhiều siêu nhiên ẩn tàng vô hình trong các khách thể vật chất ở
khắp nơi xung quanh con người và cả trong bản thân của mỗi người. Xuất phát từ những
tín niệm đó, các thần linh lại chi phối một cách sâu sắc, huyền bí đối với cuộc sống của
(1)
Thượng đẳng thần gồm: Bok Kơi Doi: Nam tạo hóa, Vua của vạn vận; La Kon
Keh: Nữ tạo hóa, vợ của Nam tạo hóa; Bok Glaik: Thần sấm sét; Lá Pom: Là một
nữ thần con của Thần Tạo hóa; Yang Sơri: Thần Lúa; Yang Dak: Thần nước; Yang
Kong: Thần núi. Hạ đẳng thần gồm: Kok Kla: Thần Cọp; Rơix: Thần Voi; Két
Drơik: Thần Cóc bảo vệ mùa màng; Yang Xatok: Thần Ché; Yang Long: Thần
Cây
tin mỗi người có 3 hồn, hồn chính ở xoáy đầu, còn hai hồn phụ ở trán và thân thể; hồn
người chết hóa ra ma (atâu) và qua 8 lần biến hóa, bắt đầu từ thành hổ, thành mèo rừng,
thành chồn, cheo, chuột, chuột không đuôi, sương mù và tan vào thiên nhiên. Thế giới
người chết được người dân mường tượng mô phỏng cuộc sống của chính họ, nhưng có
sự trái ngược, đối lập nhất định giữa đàng người và đàng ma, nếu bên này là đêm thì
bên kia là ngày. Vì vậy, cả cộng đồng phải thực hiện những lễ thức tôn giáo và kiêng cữ
nhất định, với sự ảo vọng nhận được sự bình yên, tránh được rủi ro, hiểm họa. Đó là dịp
để cúng quải, hiến tế của tập thể, định kỳ và không định kỳ do buôn làng tổ chức. Trước
các thần, dù để tạ ơn hay tạ lỗi, dù hứa hẹn hay xin điều gì, khi ấy lời cầu khấn phát ra
với tư cách cộng đồng và cả cộng đồng đang trông chờ chung sự linh nghiệm ở những
gì sẽ đến trong cuộc sống của buôn làng mình.
Việc cúng bái theo truyền thống đến nay vẫn là gánh nặng đối với đồng bào dân
tộc thiểu số, vốn đời sống đã hết sức khó khăn, thiếu thốn; nhưng nó cũng không giải
quyết được vấn đề họ mong muốn. Cùng với những tác động của thời đại, khi giao lưu
được mở rộng, trình độ dân trí được nâng lên, các tín ngưỡng tôn giáo cổ truyền bắt đầu
lung lay, mất dần sự thuyết phục, và tất nhiên nó phải nhường chỗ cho những tín
ngưỡng tôn giáo hợp thời hơn.
Tín ngưỡng cổ truyền hình thành và duy trì trong cộng đồng các dân tộc thiểu
số một cách giải thích về thế giới bên ngoài, đồng thời là một chỗ dựa về tinh thần trong
cuộc sống có nhiều bất trắc và trở lực từ thiên nhiên và con người. Thông qua các lễ hội
tôn giáo cổ truyền mà liên kết cộng đồng, gắn bó cá nhân với gia đình và cộng đồng.
Bên cạnh đó, các lễ nghi như tục chia của cho người chết, lễ tạ thần linh giúp cho mùa
Vào giữa thế kỷ XIX đời vua Thiệu Trị, triều đình nhà Nguyễn đã ra những sắc
chỉ gắt gao cấm đạo Thiên Chúa hoạt động và tổ chức đàn áp, bắt bớ dữ dội ở những
vùng duyên hải Trung Bộ, nhưng những nhà truyền Giáo hội Thừa sai Paris đã nhìn
thấy "ở địa phận đàng trong có một miền truyền giáo mới, nơi các dân tộc thượng lưu
trú, vùng rừng núi ở giữa sông Mê Kông và biển Đông". Sự nghiệp truyền giáo lên vùng
cao nguyên Trường Sơn được bắt đầu và Kon Tum trở thành miền đất thánh đầu tiên
trên cao nguyên.
Có thể khái quát lịch sử quá trình xâm nhập, phát triển của đạo Công giáo ở
Kon Tum qua các mốc lịch sử và thời kỳ sau:
Thời kỳ truyền giáo và gây cơ sở đầu tiên (1842 - 1870):
Năm 1842, Giám mục Stephan Cuénot, đại diện tổng tòa, quản nhiệm địa phận
Đàng Trong ở Quy Nhơn - tỉnh Bình Định, đã cử hai linh mục người Pháp tìm đường
lên vùng thượng Tây Nguyên truyền giáo nhưng việc chưa thành thì đã bị nhóm lái
buôn người Việt bắt nộp cho triều đình Huế, sau đó vài ba chuyến xâm nhập khác lên
Tây Nguyên cũng bất thành.
Sau nhiều lần thất bại, Cuénot đã nhận ra rằng trong giai đoạn mà nhà Nguyễn
đang truy bắt những người theo đạo Kitô, thì một Thừa sai người Âu tìm đường xâm
nhập lên vùng cao nguyên là liều lĩnh và khó thành công. Vì vậy cần phải có một người
Việt nào đó đi thám thính trước, xem xét các nơi thường có các thương gia qua lại và
thu thập các tin tức về các bộ lạc người thượng, ngoài tầm lui tới của các thương nhân
người Kinh, chính ở đó mới có thể thiết lập được cơ sở truyền giáo đầu tiên. Với những
ý đồ đó, năm 1848, Giám mục Cuénot đã tìm được một tu sĩ là Nguyễn Do người Hoài
Ân - tỉnh Bình Định (thường gọi là thấy Sáu Do) và giao nhiệm vụ lên Tây Nguyên tìm
đường truyền giáo. Nguyễn Do với một vài lái buôn người Kinh đã tìm được một con
đường độc đạo, bí mật lên vùng cao nguyên và nghiên cứu được phong tục tập quán,
ngôn ngữ của người thượng, ở Kon Tum đã đáp ứng được ý đồ của linh mục Pháp ở
Đàng Trong chỉ đạo.
Năm 1850 đã đánh dấu những bước chân đầu tiên của các nhà truyền giáo Pháp
trên đất Tây Nguyên. Đó là hai linh mục Combé và Fontaine. Với sự dẫn dắt của
Kon Tum của Hội Thừa sai Paris.
Thời kỳ phát triển đạo và hình thành địa phận Kon Tum (1870 - 1932):
Sau khi Pháp xâm lược nước ta, với những tài liệu ban đầu về một miền đất cao
nguyên hoang sơ của các cha cố thừa sai. Thực dân Pháp đã đặc biệt chú ý đến vùng
chiến lược này, chúng tích cực bảo trợ và biến nó thành chỗ dựa cho hoạt động truyền
giáo, giao cho các linh mục nhiệm vụ quản lý hành chính để họ trở thành những "cha
đạo - thực dân" đầy quyền lực và giàu có trên Tây Nguyên. Đây là giai đoạn quan trọng
trong quá trình truyền đạo đến Kon Tum, không những đã ổn định được các cơ sở
truyền bá đức tin mà còn có cơ hội để các vị thừa sai đúc rút ra những kinh nghiệm, thủ
đoạn truyền giáo, đồng thời là giai đoạn khai phá, phát triển đồn điền tạo cơ sở vật chất
cho Giáo hội.
Đến năm 1929 vùng truyền giáo Kon Tum đã hình thành được hệ thống đạo ở
vùng đông dân, dọc các trục lộ giao thông, đồn bót địch đóng khắp ba tỉnh Kon Tum,
Pleiku, Đăklăk và có khoảng 17.700 tín đồ và một số lượng dự tòng, mà trung tâm điểm
là Kon Tum. Có 23 cơ sở, 146 họ đạo thượng, 23 linh mục và một trường nội trú đào
tạo giảng viên giáo lý cho người dân tộc, mang tên trường Giáo phu Cuénot (số liệu trên
của cả ba tỉnh). Có thể các nhà truyền giáo đã thành công trong công cuộc truyền đạo
bằng biện pháp "vết dầu loang", như trong báo cáo của đạo Công giáo Kon Tum gửi về
Hội Thừa sai Paris viết: "Tinh thần dân chúng thuận lợi, và một cuộc tiến lên với tài lực
và nhân lực đầy đủ, đã đem lại kết quả mỹ mãn. Hãy cầu xin chủ nhân mùa thu hoạch
gởi công nhân đến vườn nho cao nguyên của người".
Thời kỳ thành lập địa phận và phát triển đạo:
Trước sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng Kitô giáo trong người dân tộc
miền cao nguyên, và công nhận sự thành công trong công cuộc truyền giáo, ngày
18/01/1932, Tòa thánh Vatican đã có sắc chỉ thành lập Giáo phận Kon Tum (tách khỏi
địa phận Quy Nhơn), bao gồm các miền: Kon Tum, Pleiku (Gia Lai), Đăklăk và Atapư
(Lào), do Giám mục Martial, người Pháp cai quản. Thời kỳ này nhiều trường đào tạo, tổ
chức tôn giáo được thành lập như: Trường Tiểu chủng viện, trường dòng, bệnh viện, cô
nhi viện, các dòng tu v.v
hoảng, hoạt động tôn giáo của giáo phận Kon Tum dần dần đi vào xu hướng chấp nhận
và thích nghi với sự quản lý của chính quyền cách mạng. Một thời gian rất dài trước thế
chiến thắng áp đảo của cách mạng và đối sách của ta đối với Công giáo trong thời gian
đó, trên địa bàn Kon Tum, Công giáo không phát triển, thậm chí nhiều vùng trước đây,
với số lượng đông giáo dân là đồng bào dân tộc thiểu số nay đã bỏ và "khô, nhạt" đạo,
như huyện Đăk Tô, Ngọc Hồi, Kon Plong
Đất nước bước vào thời kỳ cách mạng mới, thực hiện công cuộc đổi mới dưới
sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Giáo hội Kon Tum đã có những chuyển biến đáng
khích lệ. Nhiều giáo sĩ, chức sắc Công giáo tham gia vào các hoạt động phong trào hành
động cách mạng của địa phương, tích cực vận động quần chúng giáo dân xây dựng cuộc
sống mới, xây dựng chính quyền cơ sở, thực hiện sống "tốt đời, đẹp đạo".
Bên cạnh đó, hoạt động của Giáo hội Kon Tum dưới sự lãnh đạo của Vatican đã
và đang có những nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động đáng quan tâm. Hướng
chiến lược của Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay do Vatican chỉ đạo là không nên
manh động, đối đầu với nhà nước mà phải tập trung vào các hoạt động để phát triển thế
lực của Giáo hội, làm cho Giáo hội có đủ lực lượng để làm đối trọng với Nhà nước ta.
Như vậy, ý đồ của Vatican là củng cố thế và lực cho Giáo hội Công giáo Việt Nam đủ
mạnh để có thể sử dụng Giáo hội như một công cụ, phương tiện chống phá ta lâu dài;
dùng Giáo hội Công giáo Việt Nam để làm xói mòn cơ sở quần chúng và các cơ sở của
ta trong các vùng giáo, biến các địa phận Công giáo thành lãnh địa riêng
(1)
.
Cùng với Vatican, các thế lực phản động quốc tế đứng đầu là Mỹ coi việc lợi
dụng Giáo hội Công giáo nước ta như một công cụ để thực hiện chiến lược "diễn biến
hòa bình" ở Việt Nam. Theo Giáo sư, tiến sĩ Chu Nguyên Chương, Việt kiều ở Mỹ:
"Giáo hoàng John Paul II sẵn sàng cho Mỹ mượn đạo quân thứ 5 hiện đang nằm vùng
ngay trong nước Việt Nam. Đạo quân gồm 5 triệu người Kitô giáo có tổ chức chặt chẽ,
hết sức cuồng tín và sẵn sàng nhận lệnh của Vatican bất cứ lúc nào"
(2)
chính đạo (như tách họ đạo, tổ chức hoạt động ở địa phận giáo hạt). Tăng cường, củng
cố, trẻ hóa ban hành giáo cả số lượng và chất lượng, chủ yếu tín đồ hoạt động tôn giáo
tích cực; có nơi tranh thủ đảng viên gốc giáo để bầu vào ban hành giáo.
Các chức sắc Giáo hội tăng cường quan hệ với Chính quyền, lợi dụng sự lơi
lỏng trong quản lý để hoạt động vượt khỏi khuân khổ luật pháp trong một số việc, như:
Hoạt động tôn giáo trái phép che đậy bằng hình thức hoạt động từ thiện, giáo dục, văn
hóa, Các sinh hoạt trong đời sống tôn giáo của tín đồ được Giáo hội quan tâm tổ chức
chặt chẽ, hành lễ trang trọng, có dịp là tổ chức ở quy mô lớn để biểu dương lực lượng;
quan tâm đầu tư cho tín đồ (như làm giếng nước, nhà vệ sinh, đường giao thông nông
thôn, cho vay vốn phát triển kinh tế).
Đáng chú ý là trong hoạt động của Giáo hội hiện nay là tìm cách lôi kéo cán bộ,
đảng viên là tín đồ Công giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo, bầu vào các ban hành giáo;
cô lập những gia đình cán bộ, đảng viên tích cực là người Công giáo - nhất là cán bộ,
đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo của Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể
quần chúng ở địa phương. Đồng thời, Giáo hội tìm mọi biện pháp lôi kéo thanh - thiều
niên thông qua các hoạt động hội đoàn theo giới tính, sở thích rất linh hoạt và tổ chức
chặt chẽ.
Có thể nói, hoạt động của Giáo hội Kon Tum những năm gần đây thực sự đa
dạng, nhiều hình thức mới, cuốn hút đông đảo giáo dân (nhất là giáo dân người dân tộc
thiểu số) và lực lượng thanh niên. Điều đó đang tác động không ít tới tư tưởng, tâm lý
quấn chúng tín đồ, ảnh hưởng tới đời sống, sinh hoạt và sự phát triển chung của xã hội.
Hiện nay, ở Kon tum vừa qua đã xuất hiện những vấn đề chính trị phức tạp, do bọn
phản động kính động lôi kéo giáo dân biểu tính đòi thành lập nước Đề Ga tự trị, đòi lại
đất đai, giáo dân thuộc khu vực nhà thờ Konrbang ở xã Vinh Quang - thị xã Kon tum.
Mặc dù, số lượng tín đồ có 200 người, ít hơn ở Gia Lai, nhưng đây là vấn đề chính trị
phức tạp, đòi hỏi các ngành chức năng phải có sự phối hợp đồng bộ đặt dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của cấp ủy Đảng, thực hiện tốt công tác vận động, giải thích rõ cho quần chúng
hiểu về việc làm của ta, dùng lực lượng quần chúng đấu tranh với số cầm đầu. Nếu tình
thế không ổn, phải sử dụng đến lực lượng công an, cảnh sát cơ động (hạn chế việc sử
Tum, số 35/BC - TG ngày 15 tháng 1 năm 2000). Tập trung đông nhất là ở thị xã Kon
tum: 44.689 tín đồ; Đăk Hà: 18.436 tín đồ; Đăk Tô: 16.130 tín đồ; Ngọc Hồi: 5.024 tín
đồ; Đăk glu: 2.596 tín đồ; Sa Thầy: 3.140 tín đồ; Kon plông: 4.060 tín đồ. Toàn tỉnh có
2 Giám mục, 19 Linh mục trong đó có 3 Linh mục đang đi học ở Pháp, 88 nữ tu, 514
giáo phu, câu biện đặc biệt ở Kon Tum có dòng tu ảnh phép lạ dành riêng cho chị em
người dân tộc tại chỗ, Về tổ chức giáo hội có Tòa Giám mục chung của hai tỉnh Kon
Tum và Gia Lai, riêng ở Kon Tum có 27 xứ đạo 22 họ đạo trong đó có 13 xứ đạo có
nhà thờ còn 14 xứ đạo chưa có nhà thờ hoặc đã dó nhưng đã bị hư hỏng do chiến tranh,
hoặc thời tiết, có 11 nhà thờ, toàn tỉnh có 45 nhà nguyện các loại, có 2 nhà trẻ mồ côi
với hơn 400 cháu của thị xã và các huyện đang được nuôi dạy, 19 lớp mẫu giáo tư thục
với hơn 500 cháu theo học, Tòa Giám mục đang quản lý 24,4 ha đất các loại (trước giải
phóng giáo hội Kon Tum quản lý, sử dụng 2091,5 ha và nhiều sở kinh tế, giáo dục, y tế,
từ thiện sau giải phóng 1975 họ đã hiến hoặc chuyển quyền sử dụng, cho chính quyền
mượn tổng số có 20 cơ sở chuyển thành sở hữu nhà nước.
Hai là, Giáo dân Công giáo ở Kon Tum phần đông là người lao động, chủ yếu
là nông dân, họ là những người cần cù lao động, gắn bó với quê hương, có tinh thần
đoàn kết cộng đồng. Giáo dân người dân tộc thiểu số ở đây sống chân thật, chất phác,
đơn giản và dễ hiểu, tông giáo còn mang đậm sắc thái "văn hóa bản địa".
Điều kiện tự nhiên của tỉnh Kon Tum có diện tích tương đối lớn, đất rộng,
người thưa. Giáo dân phân bố không đồng đều, trừ một số sống tập trung ở thị xã Kon
Tum là tiểu thương; làm ăn buôn bán nhở, còn chủ yếu là người nông dân lao động sống
ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới, vùng thường xuyên gặp nhiều khó khăn về
điều kiện sản xuất, đi lại, điện nước sinh hoạt, điều kiện học hành và nhu cầu văn hóa
khác.
Những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, đồng bào giáo dân đã
hưởng ứng tích cực, phát huy nguồn lực của cộng đồng, đầu tư sản xuất chuyển dịch cơ
cấu, đa dạng hóa ngành nghề, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội ở mỗi vùng dân cư
ngày càng phát triển. Nhiều giáo dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới đã hòa
nhập với phong trào chung, đầu tư chiều sâu, mở rộng ngành nghề truyền thống, ứng
Công giáo ở Kon Tum.
Ba là, giáo dân Công giáo tỉnh Kon Tum về đời sống vật chất và tinh thần,
những năm gầy đây, tuy đã được cải thiện song so với yêu cầu chung thì còn nhiều thấp
kém; giác ngộ chính trị thấp, nhiều người thiếu hiểu biết pháp luật, ý thức vươn lên làm
chủ chưa cao, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng có xu hướng tăng:
Với sự da dạng, phức tạp có tỷ lệ dân theo Công giáo vào loại cáo nhất so với
các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (chiếm gần 28% dân số toàn tỉnh) và vấn đề tôn
giáo lại quyện chặt với vấn đề dân tộc. Đa số tín đồ Công giáo là nông dân lao động, có
một số tín đồ người Kinh buôn bán làm dịch vụ. Giáo dân người Kinh cuộc sống của họ
có khá hơn giáo dân người dân tộc, bởi lẽ cuộc sống của họ thường ở những nơi có khu
vực thuận lợi, trù phú, đặc biệt ở thị trấn, thị xã, ven trục đường lớn, thuận lợi về giao
thông và giao lưu xã hội; trong có chế thị trường, một phầ trong số họ biết cách kinh
doanh, làm ăn đã giầu lên, có người trở thành chủ doanh nghiệp nhỏ. Nhưng nhìn chung
đời sống của giáo dân người Kinh ở đây do làm lao động thủ công và dịch vụ tự do nên
cũng chỉ đủ ăn, một số đông người vẫn còn túng thiếu. Họ là những người có tín
ngưỡng Công giáo, cuộc sống còn nhiều khó khăn, trình độ văn hóa thấp, nên họ theo
đạo khá sâu sắc và có một bộ phận cuồng tín. Số người biết làm ăn kinh tế, đời sống khá
giả chỉ chiếm khoảng 5 - 8%. Một bộ phận từ 20 - 25% đời sống còn khó khăn; trình độ
dân trí thấp, thấp hơn những cư dân không theo đạo. Trên 80% giáo dân có trình độ hết
phổ thông cơ sở, số người có trình độ phổ thông trung học và cao hơn chỉ chiếm trên
10%. Số người mù chữ và tái mù chữ còn khá lớn. Đặc biệt là trong cơ chế thị trường,
giáo dục vùng giáo vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Học sinh gốc giáo bỏ học
nhiều hơn, nhất là học sinh ở các lớp cuối phổ thông cơ sở. Qua thăm dò ý kiến ở các xã
có đông giáo dân như xã Đăk Kong (huyện Ngọc Hồi) và ngay cả thị xã Kon Tum cho
thấy: 40% muồn con em học hết cấp II; 18% cho học hết phổ hông trung học và chỉ có
gần 2% cho con em theo học đại học, cao đẳng. Nhìn chung trình độ giác ngộ, nhận
thức xã hội còn thấp, người giáo dân lại rất chăm chỉ việc đạo, siêng đi rước lễ, xưng
tội. Đó là vấn đề đáng lo ngại và có ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt trong đó có công tác
vận động quần chúng tín đồ Công giáo.