THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HUYỆN LẬP THẠCH - Pdf 69

THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HUYỆN LẬP
THẠCH.
I>ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN ĐẠC ĐIỂM CỦA NGUỒN LỰC NHÂN.
1.Đặc điểm, vị trí địa lý.
Huyện Lập Thạch là một huyện trung du, miền núi nằm ở phiqs Bắc
tỉnh Vĩnh Phúc. Toàn huyện có 39 xã, thị trấn, có 28 xã miền núi, đặc điểm địa
hình đa dạng, toàn huyện được chia làm 3 vùng kinh tế rõ rệt là vùng ven
sông, vùng đất giữa và vùng đồi núi.
Vị trí địa lý: nằm ở toạ độ: 105
0
30’ – 105
0
45’ độ kinh đông, 21
0
10’ –
21
0
30’ vĩ độ Bắc.
- Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang
- Phía Nam giáp thành phố Việt Trì
- Phía Đông giáp huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc
Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 41.474 ha, đất đai nông
nghiệp 15.848,9 ha. Toàn huyện có tổng dân số 223.900 người. Trong đó lao
động hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế 113.000 lao động, bao gồm lao
động nông nghiệp 100.000 người chiếm 80% lao động thương nghiệp dịch
vụ 7500 chiếm 6,0%. Lao động quốc doanh 155 người chiếm 0,12%. Lao
động các doanh nghiệp tư nhân 94 người chiếm 0,07. Lao động HCSN (hành
chính sự nghiệp) 2.615 số lao động thiếu và không có việc làm là: 12000
người chiếm 9,6%. Trong đó đáng quan tâm là có 120 lao động có trình độ

685, 35 ha, bằng 102,7% so với cùng kỳ đạt 101,26% kế hoạch
Trong đó:
- Diện tích lúa 13.704 ha, tăng 800 ha = 106,2% so với cùng kỳ đạt
101,5% kế hoạch.
- Diện tích ngô 3.842ha, tăng 255 ha = 107,1% so với cùng kỳ đạt
101,1% kế hoạch.
2
- Diện tích khoai 2.162ha, giảm – 193,7 ha = 91,7% so với cùng kỳ kế
hoạch.
- Diện tích sắn 1.508 ha, tăng 119 ha = 108,4% so với cùng kỳ = 100,5
kế hoạch.
- Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày: 2.471 ha giảm 211ha bằng
92,1% cùng kỳ.
Ngoài ra, huyện còn gieo trồng một số các loại cây như các loại rau
xanh, đậu...
Tổng sản lượng của nông nghiệp nhìn chung là tăng nhanh bình
quân lương thực theo đầu người khoảng 303 kg/năm
Nhìn chung về trồng trọt huyện đã tận dụng được hết diện tích gieo
trồng. Cơ cấu giống có thay đổi theo hướng tận dụng mặt thuận lợi của thời
tiết.
Về chăn nuôi: tính đến thời điểm ngày 01/10/2000. Đàn trâu có
13.344 con tăng nên 287 con so với cùng kỳ, tổng đàn bò có 31.624 con tăng
498 con. Tổng đàn lợn có 96.504 con tăng 6234 con. Bên cạnh đó huyện còn
chăn nuôi thêm được một số các loại gia cầm như gà, vịt, ngan, ngống... tận
dụng triệt để lợi thế của vùng
Kết quả về phát triển lĩnh vực chăn nuôi tuy có tăng nhưng vẫn còn
chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương. Nguyên nhân chủ yếu do
tác động của giá sản phẩm chăn nuôi thấp, nhiều lúc, nhiều nơi còn bị tư
thương ép giá, hiệu quả thấp. Tuy nhiên có nhiều hộ chăn nuôi theo mô hình
vườn, ao, chuồng (VAC) vẫn có hiệu quả khá.

từ 4 nguồn 500 triệu. Vốn xã huy động 1.060 triệu , vốn tĩnh kuỹ đầu tư cho
các cong trình thuỷ lợi nâng cấp đê: 1.850 triệu
Xây dựng trường học: Huyện đã xây dựng được một số các trường
tầng: PHTH Sáng Sơn, Trần Nguyên Hãn, các trường PTTHCS Vân Trục,
4
Phương Khoan, Yên Dương, NGọc Mỹ. Số các nhà trẻ khoảng 247, trường cấp
I có 4 trường. Bên cạnh đó còn xây dựng được một số các công trình xây
dựng khác. Nhìn chung công tác quản lý xây dựng cơ bản đã có chuyển biến
chấp hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng được một số các công trình xây
dựng cơ bản đã có chuyển biến chấp hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng
theo nghị định 25 CP. Nghị định 1,2 CP, 88CP, 44CP của chính phủ. Tuy nhiên,
còn bộc lộ một số tồn đọng về chuyên môn nghiệp vụ của một số công trình
do chưa đầu tư không đủ khả năng giám sát kỹ thuật, chất lượng công trình
không đảm bảo yêu cầu thiết kế dẫn đến sai sót, hư hỏng công trình làm song
chậm được quyết toán,. tình trạng nợ xây dựng ở một số các xã sau khi xây
dựng không có vốn thanh toán, tiếp tục được phát sinh.
* Sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Tiểu thủ công nghiệp sản xuất với
quy mô nhỏ, sản phẩm truyền thống ít được đổi mới. Chưa có nhân tố phát
triển lĩnh vực này vẫn duy trì sản xuất, sản phẩm vẫn tiêu thụ được do nhu
cầu địa phương như gạch nung, ngói, cát, sỏi, một số các ngành dịch vụ khác
như điện , đồ gỗ, xay sát,.. dịch vụ bưu điện. Thông tin bưu điện được thông
suốt, chất lượng được nâng lên, đến nay, đã lắp đặt điện thoại đến 100% các
xã. Công tác phát hành báo chím thư tín đến kịp thời trong ngày. Doanh thu
các ngành dịch vụ, thương nghiệp, ngành vận tải đang có xu hướng ngày
càng tăng.
c) Công tác tài chính, hoạt động tiền tệ.
Công tác quản lý điều hành ngân sách có chuyển biến đảm bảo đúng
luật ngân sách, thu chi theo kế hoạch, đúng định mức. Mặt yếu công tác tài
chính là huy động vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, không đáp ứng được
nguồn vốn đối ứng cơ chế đầu tư theo chính sách như: xây lắp điện, kiên cố

phụ nữ, hội nông dân nghèo vay để phát triển sản xuất, trong năm đã tạo
việc làm cho rất nhiều lao động và giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống một cách
6
rõ rệt. Tuy nhiên, một só cơ sở chính quyền chưa chỉ đạo tốt nên việc sử dụng
vốn vay, khai thác tiềm năng đất đai hiệu quả thấp, chương trình xoá đói
giảm nghèo tiến triển chậm, các chính sách xã hội đựoc thực hiện đầy đủ kịp
thời với các đối tượng, phong trào cứu trợ cho đồng bào bị thiên tai, lụt bão
do Mặt trận tổ quốc phát động được cán bộ và nhân dân trong huyện hưởng
ứng thu được kết quả tốt.
3. An ninh chính trị
nhìn chung tại Lập Thạch thì tình hình an ninh, chính trị ổn định, trật
tự xã hội được giữ vững, công tác tiếp dân giải quyết các đơn thư khiếu nại
của huyện được các cơ quan giải quyết thường xuyên, kịp thời, đúng pháp
luật. Dưới sự chỉ đạo của Đảng và kết hợp chặt chẽ của các cấp uỷ, mọi vấn
đề thắc mắc của nhân dân đều được làm rõ nên nhân dân rất tin tưởng.
Trật tự an toàn xã hội đã có nhiều cố gắng cho nên nhìn chung tình
hình trật tự xã hội ở huyện Lập Thạch rất ổn định. Bên cạnh đó vẫn còn một
số các đối tượng như trộm cắp, huỷ hoại tài sản của công dân, tệ nạn xã hội,
tàng trữ sử dụng chất ma tuý.đang được đẩy lùi.
Công tác quân sự địa phương coi trọng thực hiện tốt nghị định 19Cp
của chính phủ về việc hoàn thiện phương án xây dựng khu vực phòng thủ,
quản lý chặt chẽ lực lượng dự bị động viên, thực hiện chương trình gọi
thanh niên nhập ngũ đều đạt được kế hoạch,
Từ những thực tế của điều kiện kinh tế – xã hội, văn hoá, chính trị
của huyện Lập Thạch ta có thể thấy rằng đây là một huyện đang trong giai
đoạn của sự phát triển kinh tế, có những tiềm năng để phát triển kinh tế
chúng ta phải xem xét và phát triển tận dụng một cách triệt để nguồn lực về
con người. sau đây là một số các thực trạng về tình hình phát triển nguồn
nhân lực của huyện.
II> THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA HUYỆN LẬP THẠCH

các biến động về nguồn lao động.
8
1) Thực trạng về tình hình biến động dân số của huyện
quay trở lại vài năm trước đây ta có thể thấy tình hình biến động
dân số của huyện qua bảng sau:
Bảng 1: Biến động của huyện Lập Thạch giai đoạn 1989-1997
Chỉ tiêu 1989 1995 1996 1997
1. Dân số trung bình (1000
người)
188,157 217,3447 220,358 222,904
2. Dân số nam (1000 người) 88,928 102,987 104,570 106,994
3.Dân số nữ (1000 người) 99,229 114,387 115,788 115,910
Số người trong độ tuổi lao động
(1000 người)
98,153 104,886 105,990 106,602
Số người dưới độ tuổi lao động
(1000 người)
67,263 77,708 79,774 79,784
Số người trên độ tuổi lao động
(1000 người)
22,741 34,780 34,594 36,518
Mật độ dân số (1000 người/
1Km
2
)
0,454 0,524 0,531 0,537
Số sinh sống (1000 người) 6,217 4,739 4,328 4,050
Số người chết (1000 người) 1168 967 9223 876
Tỷ suất sinh thô (
0

00
) -2,72 -0,94 -0,76 -0,63
Tỷ suất biến động dân số (
0
/
00
) 17,97 16,69 15,3 13,54
Bảng 1 đã cho chúng ta thấy rõ được dân số và các nhân tố ảnh
hưởng đến sự biến động của dân số. Đi sâu vào tìm hiểu thì chúng ta nhân
thấy rằng dân số từ năm 1989 đến 357 người /1km
2
năm 1997, vì Lập Thạch
là một huyện 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp cho nên mật độ dân
số ngày càng tăng cũng ảnh hưởng đến rất lớn về mặt đời sống sinh hoạt
người dân. Tuy nhiên, dân số trong các giai đoạn từ 1989-1997 vẫn tăng
9
nhưng tỷ suất biến động dân số qua các năm có thể nói là ngày càng giảm:
năm 1989 là 17,97
0
/
00
;năm 1995 là 16,69
0
/
00
; năm 1997 là 13,54
0
/
00
những

thời và triệt để.
Tuy nhiên, huyện còn một số lượng người thiếu việc làm khá đông,
khoảng 10%, nói là thiếu việc làm hoàn toàn không phải vì hầu hết là lao
động nông nghiệp họ vẫn có việc làm nhưng hiệu suất sử dụng thời gian lao
động rất thấp. Nếu lực lượng này chuyển sang ngành khác thì năng suất
cũng như chất lượng hầu như không giảm sút, người ta gọi lực lượng này là
thất nghiệpn trá hình. hàng năm tìm mọi biện pháp để tạo việc làm tại chỗ,
chuyển và mở các ngành nghề mới, đi xây dựng vùng kinh tế mới hay xuất
khẩu lao động. Mặc dù đã được Đảng bộ và các ban ngành quan tâm, giải
quyết vấn đề tạo việc làm nhưng do nhiều lý do như tiềm lực chưa được thực
hiện đồng bộ và thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp không ổn định
cho nên hàng năm những việc làm mới tạo ra chưa đáo ứng được so với yêu
cầu, đời sống người lao động nhiều khó khăn.
Thực tế hiện nay, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của lao
động còn nhiều bất cập, điều này là do tàn dư của những năm trước đây, ta
có thể thấy trình độ, chất lượng nguồn nhân lực của huyện Lập Thạch còn
rất thấp.
Dân số là cơ sở hình thành nguồn nhân lực. Quy mô nguồn nhân lực
phụ thuộc vào quy mô của dân số. Quy mô dân số lớn, tốc độ tăng dân số
nhanh sẽ báo hiệu quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh của nguồn nhân
lực trong tương lai. Sự ảnh hưởng giữa dân số tới nguồn nhân lực phải
sauạt thời gian nhất định phụ thuộc vào việc xác định giới hạn của độ tuổi
lao động thì (thời gian để đưa trẻ sinh ra ở thời) kỳ này sẽ bước vào độ tuổi
lao động). Để xác định nguồn nhân lực của huyện Lập Thạch trong tương lai
chúng ta sẽ tìm hiểu cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status