BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ PHƢƠNG THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ở
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ PHƢƠNG THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN
THƢỞNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình,
trách nhiệm của TS. Lý Thị Huệ trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và
hoàn thành luận văn thạc sĩ: “Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh”.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo, cán bộ, nhân viên
Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi
hoàn thành luận văn. Trân trọng cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên Ban Thi đua
- Khen thưởng tỉnh Quảng Ninh, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh,
Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Quảng
Ninh đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận
văn.
Tác giả
Trần Thị Phƣơng Thảo
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài luận văn....................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn...................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.................................................................................. 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn............................................................ 10
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn.................................. 11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn....................................................................... 11
7. Kết cấu của luận văn................................................................................................................ 12
Chƣơng 1. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ
3.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với việc tổ chức thực
hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay............................................................... 84
3.3. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với việc thanh tra, kiểm tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng trong lĩnh
vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay...................................................... 96
KẾT LUẬN...................................................................................................................................... 101
DANH MỤC
CÔNG
TRÌNH
NGHIÊN
CỨU KHOA
HỌC
CỦA
TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN.................................................... 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................... 104
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. So sánh số lượng biên chế người làm việc trong ngành Giáo dục và
Đào tạo với ngành Y tế; Văn hóa - Thông tin và Thể thao; Sự nghiệp khác của tỉnh
huy truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất của dân tộc, vượt qua mọi
khó khăn thử thách, lập nên những chiến công hiển hách trong kháng chiến chống
đế quốc xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều
anh hùng, chiến sĩ thi đua tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
qua các thời kỳ đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương công trạng, được nhân dân
tôn vinh. Thi đua, khen thưởng đã thực sự trở thành động lực thôi thúc toàn dân
đoàn kết phấn đấu vượt qua mọi gian khổ, hy sinh trong suốt tiến trình đấu tranh
cách mạng vẻ vang của dân tộc.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo “nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất
nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn trách nhiệm đó thì phải luôn luôn gương
mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị;
phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” [33, tr.616]. Và “dù khó khăn đến
đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt” [34, tr.603]. Hưởng ứng lời kêu gọi
thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua yêu nước nói chung,
trong đó có phong trào thi đua trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo của cả nước và
tỉnh Quảng Ninh đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng góp phần cùng cả
nước thực hiện thắng lợi công cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước, vững bước trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Hiện nay, công tác thi đua, khen thưởng là một chủ trương, chính sách lớn
của Đảng và Nhà nước đã được cụ thể hóa thành hệ thống luật pháp. Lĩnh vực thi
đua, khen thưởng nói chung, thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào
1
tạo nói riêng cần được quản lý hiệu quả thì mới phát huy được vai trò, tác dụng
trong thực tiễn cuộc sống.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của thi đua, khen thưởng, quản
lý nhà nước đối với thi đua, khen thưởng thì mới có được sự thống nhất, tạo được
sức mạnh để thi đua trở thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Bởi nếu quản lý
Năm 2010, nội dung cuốn sách Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua, yêu
nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng của Trương Quốc
Bảo đã góp phần làm phong phú cơ sở lý luận của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Trong đó tác giả nhấn mạnh: “Các quy định pháp luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng
cho việc xây dựng các phong trào thi đua, tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích
xuất sắc trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời làm
cơ sở cho việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng”
[5]. Có thể nói, đây là cuốn sách có cách tiếp cận khá mở khi phản ánh thực trạng
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công
tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay do Trần Thị Hà làm chủ nhiệm
(2013) đã luận giải sâu sắc những vấn đề lý luận chung về công tác thi đua, khen
thưởng; hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về thi đua, khen thưởng. Đặc biệt, tác giả nhấn
mạnh một trong những mục tiêu của thi đua: “Thi đua phát triển và thực hiện chương
trình giáo dục, đào tạo lành mạnh, nâng cao mặt bằng dân trí để sớm đuổi kịp các nước
tiên tiến” [23, tr.19]. Đề tài cũng đề cập đến những vấn đề chủ yếu về thi đua, khen
thưởng ở một số nước trên thế giới như: Pháp, Bỉ, Nga, Nhật, Australia, Trung Quốc để
rút ra những bài học vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Năm 2013, Trần Minh Trưởng với bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới
ở
nước ta hiện nay trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đẩy mạnh các
phong trào
thi đua yêu nước trong giai đoạn hiện nay do Ban Tuyên giáo trung ương và Ban Thi
đua - Khen thưởng trung ương tổ chức đã đi sâu phân tích quan điểm, tư tưởng Hồ Chí
Bài viết Phong trào thi đua yêu nước - động lực để phát triển đất nước trong
thời kỳ đổi mới của Lê Thị Hòa trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đẩy mạnh
các phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn hiện nay (2013) do Ban Tuyên
giáo trung ương và Ban Thi đua - Khen thưởng trung ương tổ chức đã phân tích,
đánh giá thực trạng việc tổ chức triển khai các phong trào thi đua yêu nước qua các
thời kỳ, kết quả việc triển khai các phong trào thi đua yêu nước những năm qua cho
thấy “mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính
4
trị, phong trào thi đua yêu nước đã có sự chuyển biến tích cực, góp phần tích cực
vào việc khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa
phương, đơn vị trong phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế… góp phần
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người dân” [4, tr.267-268]. Từ các
phong trào thi đua, nhiều tập thể, cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua và các tấm
gương điển hình tiên tiến tiêu biểu đã được ghi nhận và khen thưởng, trong đó có
ngành Giáo dục và Đào tạo. Công trình là tư liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận
văn khi nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
Năm 2016, Nguyễn Thu Hiền trong Luận văn Thạc sĩ Quản lý nhà nước về thi
đua, khen thưởng đối với các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đề
cập đến các nguồn lực cho quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng như nguồn lực
về tài chính, nhấn mạnh nguồn lực về con người “là yếu tố quan trọng, giúp cho
quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở nước ta đạt hiệu quả cao” [25, tr.30].
Cùng với đó, tác giả cũng chỉ ra những vấn đề thực tiễn, những ưu điểm, tồn tại hạn
chế của công tác này, để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng
công tác thi đua, khen thưởng trong các trường cao đẳng nói riêng và ngành giáo
dục nói chung.
Luận án Tiến sĩ Luật học Pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện
nay (2016) của Phùng Ngọc Tấn đã làm rõ khái niệm, vai trò và điều chỉnh pháp
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do Ban Thi đua - Khen thưởng
Trung ương trình Bộ Chính trị đã đề xuất các giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen
thưởng trong thời gian tới; trong đó nhấn mạnh 04 nhóm giải pháp: Đổi mới về công
tác lãnh đạo, chỉ đạo; Đổi mới nội dung, hình thức, phương thức tổ chức các phong trào
thi đua yêu nước; Đổi mới chính sách, pháp luật và đổi mới tổ chức bộ máy làm công
tác thi đua, khen thưởng, nhấn mạnh “đổi mới hoạt động của cơ quan truyền thông,
định hướng dư luận” [2, tr.23]. Công trình đã đánh giá sâu sắc, khách quan, toàn diện
về thực trạng công tác thi đua, khen thưởng thời gian qua, đặc biệt là các giải pháp rất
hữu ích cho tác giả luận văn trong quá trình nghiên cứu.
Năm 2014, đề tài khoa học cấp tỉnh, Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác
thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do Nguyễn Thị Kim Dung làm
chủ nhiệm đã nêu 05 nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác thi
đua, khen thưởng như: Nâng cao nhận thức về công tác thi đua, khen thưởng trong
6
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho các cấp, các ngành; Hoàn thiện và ban
hành, hướng dẫn cơ chế chính sách về thi đua, khen thưởng; kiện toàn tổ chức và
nâng cao chất lượng của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng và đội ngũ cán bộ làm
công tác thi đua, khen thưởng… nhấn mạnh việc “tập trung xây dựng mô tả vị trí
việc làm và xác định tiêu chuẩn người cán bộ công chức thi đua, khen thưởng” [17,
tr.18]. Những giải pháp được công trình đề xuất đã gợi mở cho tác giả luận văn
trong việc đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh
hiện nay.
Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam Xây dựng
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta
giai đoạn hiện nay (2014) của Nguyễn Khắc Hà, cho rằng việc xây dựng đội ngũ lãnh
đạo quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay là
“vấn đề rất lớn, mới và khó” [24, tr.175]. Đề tài đưa ra 06 nhóm giải pháp để xây dựng
trực tiếp; Đổi mới phong cách, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác
khen thưởng cho người lao động trực tiếp; Chế độ khen thưởng cho người lao động
trực tiếp; Đổi mới quy trình thủ tục hồ sơ khen thưởng cho người lao động trực tiếp;
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành quy định pháp luật về khen
thưởng, nhất là công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp.
2.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận văn
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Quản lý nhà
nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh
cho thấy, vấn đề này được nghiên cứu ở khía cạnh và mức độ sau:
Thứ nhất, nhóm “Những nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước về thi đua,
khen thưởng” đã đề cập các khái niệm thi đua, khen thưởng, các đặc điểm, vai trò
của thi đua, khen thưởng; đã xác định tính đa dạng của các hình thức thi đua, khen
thưởng; pháp luật về thi đua, khen thưởng; các hoạt động tổ chức công tác thi đua,
khen thưởng, v.v.. Bên cạnh đó, quản lý nhà nước là một khái niệm “động”, đòi hỏi
phải thích ứng với từng quốc gia trong từng giai đoạn phát triển. Cho nên, cũng đã
có không ít công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước dưới những góc độ chuyên
ngành khác nhau, như Chính trị học, Chính sách công, v.v.. Tựu trung lại, các
nghiên cứu đều khẳng định nhà nước có vai trò quan trọng trong quản lý hoạt động
thi đua, khen thưởng. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, chưa có các nghiên cứu từ nền
tảng của khung lý thuyết được xây dựng bài bản, khoa học về quản lý nhà nước về
8
thi đua, khen thưởng. Đặc biệt, chưa có một cuốn sách hoặc một đề tài khoa học nào
nghiên cứu trực diện về quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Vì vậy, với tham
vọng tìm tòi và hoàn thiện, tác giả luận văn sẽ cố gắng phần nào lấp đi sự “thiếu
vắng” trong các công trình đó.
Thứ hai, nhóm “Những nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nước về thi đua,
khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay” cũng
đã được nhiều tác giả phân tích, đánh giá trên nhiều phương diện, nhiều lát cắt khác
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, v.v..;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen
thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay;
Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về thi
đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
3.
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về thi đua, khen
thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay cũng như
trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Một là, nghiên cứu, hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về thi đua, khen
thưởng và quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo.
Hai là, phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen
thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
Ba là, đề xuất được giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về thi
đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay
cũng như trong thời gian tới.
4.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
ở
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các phương pháp lịch sử và lôgic, quy nạp và diễn
dịch, đối chứng và so sánh, đồng thời có sử dụng phương pháp liên ngành khoa học
xã hội để làm rõ nội dung nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đưa ra giải pháp phù
hợp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo, đưa chính sách của Đảng, Nhà nước về thi đua, khen thưởng đi vào
cuộc sống, có tác động tích cực đến nhận thức của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân
viên, học sinh và các cấp quản lý về vị trí, vai trò của thi đua, khen thưởng đối với
việc động viên, khích lệ mọi người hăng hái thi đua dạy tốt, học tốt. Từ đó nâng cao
chất lượng các hoạt động thi đua, khen thưởng, góp phần vào sự nghiệp phát triển
giáo dục và đào tạo của địa phương.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với cơ quan
quản lý Nhà nước các cấp ở tỉnh Quảng Ninh trong việc tìm kiếm một số giải pháp chủ
11
yếu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay cũng như trong thời gian tới.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu,
học tập và giảng dạy môn Quản lý công, Chính sách công, Triết học, v.v..
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời cam đoan, phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của
tác giả liên quan đến luận văn, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3
chương, 10 tiết.
Chương 1. Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục
và đào tạo: Một số vấn đề lý luận.
“Chủ nghĩa xã hội không những không dập tắt thi đua, mà trái lại lần đầu tiên đã tạo ra
khả năng áp dụng thi đua một cách rộng rãi, với quy mô thật sự to lớn, tạo ra khả năng
thu hút thật sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản
lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một
nguồn vô tận, những tài năng mà chủ nghĩa tư bản đã giày xéo, đè nén, bóp nghẹt mất
hàng nghìn, hàng triệu. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay, khi Chính phủ xã hội chủ
nghĩa đang cầm quyền là phải tổ chức thi đua” [40, tr.234-235].
13
Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về thi
đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách
mạng. Hồ Chí Minh coi tổ chức thi đua là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước
trong mỗi người dân Việt Nam, biến thành sức mạnh, động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc. Người khẳng định: “Thi đua ái quốc
sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan
mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng” [29,
tr.557]. Đồng thời, khi bàn luận về thi đua, Người đã nhấn mạnh: “Tưởng lầm rằng
thi đua là một việc khác với những việc hàng ngày. Thật ra công việc hàng ngày
chính là nền tảng thi đua. Thí dụ từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta
thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm
ruộng nay ta thi đua làm cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua
như vậy” [30, tr.658]. Thi đua là công việc diễn ra hàng ngày trong một tập thể trên
tất cả các mặt hoạt động nhằm đạt kết quả tốt nhất.
Quan niệm thi đua yêu nước còn được thể hiện ở việc lấy thi đua làm động lực
phát huy tinh thần yêu nước, động lực đó được thể hiện bằng hành động thực tế, ngược
lại lấy lòng yêu nước để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả thi đua, “Thi đua lấy tinh thần
yêu nước làm gốc. Thi đua rộng và sâu. Thi đua nhà này với nhà khác, tổ này với tổ
thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất” [60, tr.1559].
Khoản 1, Điều 3 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 quy định: “Thi đua là
hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu
đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài này, luận văn sử dụng khái
niệm thi đua được quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003.
Mục tiêu thi đua cũng được quy định tại Khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2013 là: “Mục tiêu của thi
đua nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát
huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Mục đích thi đua là nhằm huy động, khai thác mọi tiềm năng của mỗi cá
nhân và toàn xã hội làm cho hoạt động của cá nhân và tập thể đạt kết quả tốt nhất,
15
đơn vị, ngành, địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng
và bảo vệ tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, thi đua là nhằm thực hiện thắng lợi các
mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là giáo dục và bồi dưỡng tư tưởng mới,
đạo đức mới, nhằm rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động, làm cho con
người phát triển hoàn thiện hơn.
Nguyên tắc thi đua được quy định tại Khoản 1, Điều 6 Luật Thi đua, Khen
thưởng năm 2003 gồm “Tự nguyện, tự giác, công khai; Đoàn kết, hợp tác và cùng
phát triển”.
Hình thức thi đua bao gồm: Thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ
vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm
thực hiện tốt công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan, tổ
chức, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các
tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các cơ quan, tổ chức, đơn
công làm thuỷ lợi; Khen thưởng người có tài văn chương; Khen thưởng người cao
tuổi...” [18, tr.461]. Đối tượng khen thưởng rất rộng rãi, từ người già đến trẻ em (từ
11 tuổi), từ nam giới đến phụ nữ, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số đều
được khen thưởng.
Hình thức khen thưởng cũng rất đa dạng. Nếu còn sống người được khen
thưởng có thể nhận được một trong các hình thức: Được ban họ vua (Quốc thính),
được ghi công vào sử sách, được vẽ hình, được dựng bia ghi công, được phong
chức, được thưởng vàng bạc, được cấp ruộng đất. Nếu người có công đã mất thì vua
đích thân làm văn tế, giảm ăn, nghỉ coi trầu một số ngày, truy phong, truy tặng hoặc
gửi vàng bạc, lụa để viếng, phong quan chức cho con, cấp ruộng cho con cháu thờ
cúng, v.v.. Bởi một nhà nước mà thưởng phạt nghiêm minh, kịp thời là Nhà nước
vững mạnh. Nhà nước nào phạt nhiều hơn thưởng là Nhà nước đang suy tàn. Nhà
nước nào thưởng nhiều hơn phạt là Nhà nước phồn vinh” [18, tr.131].
Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà, gồm:
“1. Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng.
2. Ai lập được quân công sẽ được thưởng.
17